Tây Ninh tăng cường giám sát nguồn thải, hướng tới kiểm soát ô nhiễm không khí
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 11:00, 30/06/2026
Tây Ninh tăng cường giám sát nguồn thải, hướng tới kiểm soát ô nhiễm không khí
Trước áp lực từ quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, Tây Ninh đang từng bước hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường, tăng cường kiểm soát nguồn thải và triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ chất lượng không khí, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.
Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa và thu hút đầu tư công nghiệp ngày càng gia tăng, Tây Ninh xác định quản lý chất lượng không khí và kiểm soát nguồn phát thải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân.
Hướng tới mục tiêu đến năm 2030, địa phương đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để hoàn thiện mạng lưới giám sát môi trường, khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh trong các lĩnh vực kinh tế.
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh, chất lượng không khí trên địa bàn hiện vẫn duy trì ở mức tốt. Kết quả quan trắc định kỳ cho thấy các chỉ tiêu môi trường cơ bản đều nằm trong giới hạn cho phép theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 05:2023/BTNMT.
.jpg)
Đến nay, địa phương chưa ghi nhận các điểm nóng về ô nhiễm không khí. Dữ liệu quan trắc tích lũy từ năm 2018 cho thấy các thông số ô nhiễm chủ yếu như bụi tổng (TSP), SO₂, NO₂ và CO đều thấp hơn ngưỡng quy chuẩn. Trong ba năm gần đây, nồng độ bụi tổng dao động từ 55-178 µg/Nm³, SO₂ từ 30-136 µg/Nm³, NO₂ từ 10-70 µg/Nm³, còn CO dao động trong khoảng 743-29.780 µg/Nm³.
Đối với các chất ô nhiễm độc hại như NH₃, H₂S và Pb, kết quả quan trắc tại hầu hết các vị trí đều không phát hiện hoặc chỉ ghi nhận ở nồng độ rất thấp. Các chỉ tiêu bụi hô hấp và ozone (O₃) cũng đáp ứng yêu cầu theo chương trình quan trắc định kỳ của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Phần lớn các chỉ số ô nhiễm tại khu vực đô thị trung tâm và các vùng kinh tế trọng điểm đều ở mức thấp. Dữ liệu quan trắc chưa cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực này với vùng nền, khu vực nông thôn hay các xã biên giới.
Ông Nguyễn Tân Thuấn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh đánh giá, kết quả này có được nhờ công tác quản lý chất lượng môi trường không khí đã được ngành chức năng địa phương triển khai bài bản, hiệu quả, thông qua việc cụ thể hóa hệ thống thể chế, chính sách và các giải pháp kỹ thuật thực tiễn trong thời gian qua.
Hiện mạng lưới quan trắc không khí xung quanh của tỉnh đã được chuẩn hóa với 104 vị trí được bố trí tại các khu đô thị, nút giao thông trọng điểm và khu, cụm công nghiệp có nhiều nguồn phát thải. Hệ thống được duy trì quan trắc 6 đợt mỗi năm, cung cấp nguồn dữ liệu đầy đủ, đồng bộ và có độ tin cậy cao, phục vụ đánh giá hiện trạng môi trường.
Song song đó, Tây Ninh đã đưa vào vận hành 5 trạm quan trắc chất lượng không khí tự động cấp tỉnh tại các phường Tân Ninh, Trảng Bàng và các xã Đức Lập, Bến Lức, Cần Giuộc nhằm theo dõi liên tục diễn biến chất lượng không khí.
Trong công tác kiểm soát khí thải công nghiệp, tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, yêu cầu các cơ sở có lưu lượng khí thải lớn lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý. Đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã kết nối thành công dữ liệu từ 50 trạm quan trắc khí thải tự động của 41 doanh nghiệp. Tỷ lệ truyền nhận dữ liệu đạt trên 90%, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động xả thải.
Cùng với đó, công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường được duy trì thường xuyên hằng năm. Các chương trình tập huấn, phổ biến quy định pháp luật, phát hành sổ tay hướng dẫn và tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cũng được triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp huyện, góp phần nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng không khí vẫn còn không ít khó khăn. Hiện tỷ lệ dữ liệu hợp lệ từ hệ thống quan trắc tự động mới đạt khoảng 50%. Một số trạm tại Cần Giuộc, Đức Lập và Bến Lức thường xuyên gặp sự cố kỹ thuật do các thiết bị phân tích và cảm biến bụi mịn PM10, PM2.5 đã hết thời hạn sử dụng, khiến dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu để tính toán và phân loại chất lượng không khí theo chỉ số AQI. Ngoài ra, chương trình quan trắc định kỳ cũng cần bổ sung đầy đủ các thông số PM10, PM2.5 và O₃ theo quy chuẩn mới.
Theo dự báo phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030, áp lực đối với môi trường không khí sẽ tiếp tục gia tăng. Tại khu vực Tây Ninh cũ, tổng lượng phát thải ước đạt khoảng 48.951 tấn/năm, tăng 1,8% so với năm 2023, trong đó nguồn phát thải điểm tăng 11,5%. Đối với khu vực Long An cũ, tổng lượng phát thải dự báo đạt khoảng 41.094,9 tấn/năm, tăng 5,44% so với năm 2024; riêng nguồn phát thải điểm từ công nghiệp có thể tăng tới 59,5%.
Hiện khí CO chiếm khoảng 70-75% tổng tải lượng phát thải trên địa bàn tỉnh, tiếp đến là NO₂ với tỷ lệ 9-13% và bụi tổng từ 9,4-12,5%. Nguồn phát sinh CO chủ yếu đến từ giao thông đường bộ sử dụng nhiên liệu hóa thạch và hoạt động đốt phụ phẩm nông nghiệp còn phổ biến tại các huyện Châu Thành, Bến Cầu và Trảng Bàng. Trong khi đó, bụi tổng phát sinh chủ yếu từ giao thông và hoạt động chăn nuôi quy mô hộ gia đình trong khu dân cư.
Dự báo đến năm 2030, nồng độ bụi tại một số nút giao thông quan trọng có thể tiệm cận ngưỡng cho phép. Trước thực tế này, UBND tỉnh Tây Ninh đã xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí đến năm 2030 với mục tiêu kiểm soát hiệu quả các nguồn phát thải từ đô thị, công nghiệp và giao thông, đồng thời duy trì trên 90% số ngày trong năm có chỉ số VN_AQI dưới 100, tương ứng mức chất lượng không khí từ trung bình đến tốt.
Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh Nguyễn Minh Lâm yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp ứng phó cụ thể. Trước hết, các ngành chức năng liên quan cần rà soát, điều chỉnh đồng bộ các nhiệm vụ quản lý chất lượng không khí giữa hai khu vực Long An và Tây Ninh trước đây nhằm bảo đảm tính thống nhất, thông suốt trên địa bàn mới.
Trong kiểm soát nguồn thải điểm, tỉnh yêu cầu các cơ sở thuộc diện bắt buộc phải hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và truyền dữ liệu liên tục về Sở Nông nghiệp và Môi trường. Đồng thời, các cơ quan chức năng sẽ rà soát, cập nhật các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và vùng hạn chế phát thải, gồm các phường trung tâm có mật độ dân cư cao và tỷ lệ lấp đầy công nghiệp lớn như Tân An, Long An, Khánh Hậu, Tân Ninh, Bình Minh, Long Hoa, Hòa Thành, Trảng Bàng và An Tịnh.
Đối với các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, tỉnh sẽ không thu hút thêm các dự án mới thuộc ngành nghề có lượng phát thải lớn như nhiệt điện than, xi măng, luyện kim, lò đốt rác sinh hoạt hoặc các cơ sở sử dụng lò hơi có công suất từ 10 tấn/giờ trở lên. Đồng thời, địa phương xây dựng lộ trình di dời các cơ sở không bảo đảm khoảng cách an toàn môi trường ra khỏi khu dân cư và vùng bảo vệ.
Trong lĩnh vực giao thông, Tây Ninh đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh. Mục tiêu đến năm 2030 là toàn bộ xe buýt, taxi đầu tư mới sẽ sử dụng điện hoặc các dạng năng lượng sạch, đồng thời nâng tỷ lệ phương tiện xanh trong giao thông đô thị lên tối thiểu 50%.
Địa phương cũng sẽ thúc đẩy các chính sách hỗ trợ như ưu đãi lãi suất vay đầu tư phương tiện công cộng, trợ giá, miễn giảm phí cho học sinh, sinh viên và đẩy mạnh xã hội hóa hệ thống xe đạp công cộng.
Song song với các giải pháp quản lý, Tây Ninh tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ vào công tác bảo vệ môi trường. Tỉnh đang nghiên cứu triển khai trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data) nhằm đồng bộ hóa hệ thống quản lý dữ liệu nguồn thải, hướng tới xây dựng mô hình "Bản sao số" (Digital Twin) phục vụ giám sát và dự báo ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, các dự án như kiểm kê khí nhà kính cấp tỉnh hay phát triển hệ thống cây xanh đa tầng kết hợp tưới tự động trên các tuyến giao thông chính cũng đang được xây dựng để sớm triển khai.
Việc chủ động nhận diện các nguy cơ ô nhiễm cùng với triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cho thấy quyết tâm của Tây Ninh trong bảo vệ môi trường không khí, tạo nền tảng cho mục tiêu phát triển một tỉnh công nghiệp - đô thị xanh và bền vững trong tương lai.
