Đột phá chính sách vi mô để kích hoạt tăng trưởng hai con số

Tài chính xanh - Ngày đăng : 13:55, 15/07/2026

Trong bối cảnh dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống đang dần thu hẹp, cải cách vi mô có tính đột phá được xem là "chìa khóa" quyết định để thúc đẩy sức sản xuất của doanh nghiệp, kích thích sự phát triển của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tài chính xanh

Đột phá chính sách vi mô để kích hoạt tăng trưởng hai con số

Mai Hạ {Ngày xuất bản}

Trong bối cảnh dư địa của các chính sách vĩ mô truyền thống đang dần thu hẹp, cải cách vi mô có tính đột phá được xem là "chìa khóa" quyết định để thúc đẩy sức sản xuất của doanh nghiệp, kích thích sự phát triển của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao năng lực doanh nghiệp và khơi thông dòng vốn tín dụng là những giải pháp được cho trọng tâm thảo luận tại Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số”, diễn ra ngày 14/7 tại Hà Nội.

Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của cải cách

Nửa đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tăng trưởng GDP 8,18% so với cùng kỳ. Đây được coi là mức cao nhất trong 16 năm. Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng hai con số trong nhiều năm, động lực không chỉ đến từ đầu tư công, xuất khẩu hay mở rộng tổng cầu mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực của doanh nghiệp - chủ thể trực tiếp tạo ra tăng trưởng, việc làm và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, mô hình tăng trưởng cần chuyển mạnh sang dựa trên năng suất lao động, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng doanh nghiệp, thay vì phụ thuộc vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và lợi thế chi phí thấp.

Theo ông Tuấn, doanh nghiệp vừa chịu tác động từ biến động kinh tế thế giới, vừa quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao. Bên cạnh cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng, các FTA thế hệ mới và dòng vốn FDI chất lượng cao, doanh nghiệp cũng đối mặt với áp lực về chi phí đầu vào, tiêu chuẩn xanh, ESG, chuyển đổi số và cạnh tranh thương mại điện tử xuyên biên giới.

Ông chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn cản trở sự phát triển của doanh nghiệp gồm: thể chế, khả năng tiếp cận nguồn lực, năng lực nội tại và thị trường. Nếu không sớm tháo gỡ, những nút thắt này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng trong bối cảnh yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới công nghệ ngày càng cao.

sx.jpg
Doanh nghiệp vừa chịu tác động từ biến động kinh tế thế giới, vừa quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao. Ảnh minh họa

Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhìn nhận, 3 rào cản lớn nhất hiện nay đối với doanh nghiệp là khả năng tiếp cận vốn, đất đai và công nghệ; chi phí tuân thủ pháp luật và hệ thống chính sách vẫn thiên về hỗ trợ trước mắt hơn là tạo nền tảng phát triển dài hạn.

Tại hội thảo, các chuyên gia đều cho rằng, cải cách thể chế cần được đặt ở vị trí trung tâm của chương trình cải cách kinh tế. Chính sách cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo năng lực và từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp; nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách, khơi thông các nguồn lực về vốn, đất đai, công nghệ, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, hình thành các cụm ngành có khả năng lan tỏa công nghệ, từ đó tạo ra năng lực cạnh tranh mới thay vì chỉ giải quyết những khó khăn trước mắt.

Khơi thông tín dụng, tạo động lực tăng trưởng mới

Nếu cải cách thể chế được xem là điều kiện tiên quyết, thì tín dụng và dòng vốn là nguồn lực giúp doanh nghiệp hiện thực hóa các kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất.

Theo PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Học viện Ngân hàng, năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.

Ngoài việc duy trì mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý, ngành ngân hàng đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.

Đáng chú ý, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN đã điều chỉnh nhiều quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, trong đó nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa để các tổ chức tín dụng mở rộng cung ứng vốn cho nền kinh tế.

PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh đánh giá, định hướng điều hành tín dụng năm 2026 không đơn thuần là mở rộng quy mô vốn, mà hướng mạnh dòng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các động lực tăng trưởng mới.

Đáng chú ý, nhiều khoản vay phục vụ nhà ở xã hội và các dự án quy mô lớn có tác động lan tỏa đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không tính vào hạn mức tăng trưởng tín dụng. Đây được đánh giá là bước điều hành linh hoạt, vừa kiểm soát rủi ro, vừa tạo điều kiện cho dòng vốn chảy vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao.

Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ mới đang được nghiên cứu và triển khai như hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp thực hiện các dự án xanh, gói tín dụng quy mô lớn cho hạ tầng và công nghệ số, mở rộng hoạt động cho thuê tài chính đối với phần mềm, tài sản trí tuệ và dữ liệu, phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Tuy nhiên, các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra rằng, những chính sách này chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ với cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Dòng vốn chỉ có thể tạo ra tăng trưởng khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ vốn, có dự án khả thi và hoạt động trong môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch.

Từ góc độ nghiên cứu, ông Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, việc khơi thông nguồn lực tài chính phải đi cùng cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trị và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh khẳng định, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua các giải pháp tín dụng linh hoạt, ưu tiên vốn cho các lĩnh vực sản xuất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Cần chuyển mạnh sang các chính sách vi mô có tính đột phá

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương nhận định, bên cạnh việc tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, cần chuyển mạnh trọng tâm sang cải cách vi mô có tính đột phá. Đó là những cải cách có khả năng tác động trực tiếp vào các điểm nghẽn của hoạt động sản xuất kinh doanh; tạo ra những thay đổi rõ ràng về chi phí, năng suất, khả năng tiếp cận nguồn lực và động lực đổi mới của hàng triệu chủ thể kinh tế.

GS, TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, để các đột phá vi mô trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần tập trung vào ba yêu cầu: Chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo; chuyển từ chính sách dàn trải sang tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực, doanh nghiệp và dự án có sức lan tỏa; đồng thời coi chất lượng thực thi là yếu tố quyết định, bởi chính sách đúng nhưng triển khai chậm sẽ làm lãng phí cơ hội phát triển.

kte.jpg
Các chuyên gia thảo luận tại diễn đàn

Ông Lợi đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó ưu tiên đột phá thể chế cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế theo mô hình "sandbox" nhằm thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Bên cạnh đó, cần đổi mới chính sách thuế, tài khóa theo hướng ưu tiên các hoạt động R&D, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn; đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn tín dụng bằng các sản phẩm tài chính linh hoạt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận vốn thuận lợi hơn.

Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia Hồ Đức Thắng đề cập đến thể chế dành cho trí tuệ nhân tạo (AI), với một hành lang pháp lý minh bạch, đây được coi là một động lực tăng trưởng mới.

Những vấn đề thiết thực như năng lực phát triển của doanh nghiệp; cơ chế đột phá đối với khu vực kinh tế và khu vực tự do thương mại; đổi mới chính sách thuế, tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp trong một thế giới nhiều biến động; chuyển đổi số, công nghệ, dữ liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh là những mạch dẫn trực tiếp có thể chuyển hóa chủ trương tăng trưởng thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trên thực tế, giúp Việt Nam tiến tới tăng trưởng hai con số bền vững, hiệu quả.

Các ý kiến tại diễn đàn cho thấy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ phụ thuộc vào quy mô của các gói hỗ trợ hay tốc độ tăng trưởng tín dụng, mà chất lượng của các cải cách vi mô cũng đóng vai trò rất quan trọng.

Khi thể chế thực sự thông thoáng, doanh nghiệp được tiếp cận bình đẳng các nguồn lực và dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, khu vực doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để đầu tư, đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Mai Hạ