Đề xuất phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng
Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 18:00, 16/07/2026
Đề xuất phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định phương pháp định giá rừng và xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng.
Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho thị trường carbon rừng, tạo căn cứ xác định giá khởi điểm trong các hoạt động chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho thị trường carbon rừng
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo Thông tư quy định phương pháp định giá rừng và xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng để lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức và địa phương.
Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là lần đầu tiên quy định chi tiết phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Quy định này nhằm triển khai Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.
Theo Nghị định 180/2026/NĐ-CP, việc xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân cần được hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ triển khai trên thực tế.
Thực tế hiện nay cho thấy, Việt Nam đang từng bước hình thành thị trường carbon trong nước và thúc đẩy các hoạt động chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon rừng. Tuy nhiên, việc đàm phán giá vẫn thiếu cơ sở pháp lý thống nhất do chưa có quy định về mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Hiện nay, Việt Nam đang triển khai thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ cho Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) do Ngân hàng Thế giới (WB) nhận ủy thác theo quy định tại Nghị định số 107/2022/NĐ-CP. Giá chuyển nhượng chủ yếu được xác định dựa trên đề xuất của bên mua và tham chiếu giá carbon trên thị trường quốc tế.
Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, trong bối cảnh thực hiện Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP và hướng tới vận hành thị trường carbon trong nước, việc xây dựng phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là yêu cầu cấp thiết. Đây sẽ là cơ sở xác định giá khởi điểm phục vụ đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng hoặc giao dịch trên sàn carbon trong tương lai.
Khắc phục những bất cập trong định giá rừng
Bên cạnh việc bổ sung quy định về dịch vụ carbon rừng, dự thảo Thông tư cũng được xây dựng nhằm thay thế Thông tư số 20/2023/TT-BNNPTNT về phương pháp định giá rừng.
Thời gian qua, Thông tư số 20 đã tạo cơ sở pháp lý để các địa phương xác định giá các loại rừng, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên rừng và xác định tổng giá trị kinh tế của rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp.
Tuy nhiên, qua quá trình triển khai, nhiều bất cập đã bộc lộ.
Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, một số địa phương đề nghị bổ sung quy định về phương pháp xác định đơn giá bồi thường rừng khi Nhà nước thu hồi rừng do Thông tư hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể.
Ngoài ra, quy định về khung giá giữa rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất còn khác nhau, dẫn đến khó khăn khi điều chỉnh quy hoạch hoặc chuyển đổi giữa ba loại rừng.
Các địa phương cũng kiến nghị hướng dẫn rõ hơn phương pháp xác định giá trị đối với loài cây sinh trưởng nhanh, cây sinh trưởng chậm, cũng như cách áp dụng khung giá cho từng lô rừng có điều kiện địa hình, vị trí và chất lượng khác nhau.
Bên cạnh đó, việc Luật Giá, Luật Đấu thầu cùng nhiều văn bản pháp luật liên quan đã được sửa đổi, bổ sung trong thời gian gần đây cũng đặt ra yêu cầu ban hành Thông tư mới để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Đề xuất hai phương pháp xác định mức chi trả carbon rừng
Theo dự thảo, việc xây dựng phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng phải bảo đảm thống nhất với pháp luật về giá, pháp luật về lâm nghiệp và các quy định liên quan; đồng thời tuân thủ nguyên tắc khoa học, tính đúng, tính đủ chi phí và vận hành theo cơ chế thị trường.
Dự thảo đề xuất hai phương pháp xác định mức chi trả gồm phương pháp chi phí và phương pháp so sánh.
Đối với phương pháp chi phí, mức chi trả được xác định trên cơ sở tổng hợp chi phí xây dựng và triển khai dự án carbon rừng, chi phí hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng cùng các khoản thuế, phí theo quy định.
Trong đó, chi phí hỗ trợ bảo vệ rừng, phát triển rừng và hỗ trợ sinh kế được tính tối đa bằng 15% tổng chi phí. Mức này được xây dựng trên cơ sở chính sách đầu tư trong lâm nghiệp theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP và kinh nghiệm thực hiện Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2021-2025.
Đối với phương pháp so sánh, mức chi trả được xác định bằng cách đối chiếu với các dự án carbon rừng đã triển khai, thông qua các hệ số điều chỉnh về chất lượng tín chỉ, mức độ rủi ro, nguy cơ đảo nghịch và quy mô tín chỉ carbon tạo ra. Các hệ số này được đánh giá là có thể lượng hóa từ hồ sơ dự án, bảo đảm khả năng áp dụng trên thực tế.
Theo dự thảo, mức chi trả được sử dụng để đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên sàn giao dịch carbon sẽ là mức cao hơn giữa kết quả tính theo phương pháp chi phí và phương pháp so sánh.
Đối với trường hợp không phát sinh giao dịch trong 12 tháng liên tục, tổ chức xây dựng dự án carbon rừng sẽ phải điều chỉnh mức chi trả dựa trên giá tín chỉ carbon bình quân của ba dự án carbon rừng đã giao dịch gần nhất và đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, việc ban hành Thông tư mới không chỉ khắc phục những hạn chế trong công tác định giá rừng mà còn tạo nền tảng pháp lý quan trọng để phát triển thị trường carbon rừng minh bạch, góp phần khai thác hiệu quả giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng và thúc đẩy thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.
