Phê duyệt chương trình điều tra đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn đến năm 2030
Đa dạng sinh học - Ngày đăng : 10:00, 30/07/2026
Phê duyệt chương trình điều tra đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn đến năm 2030
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành chương trình điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học trên phạm vi toàn quốc, với mục tiêu hoàn thiện hệ thống dữ liệu số về các hệ sinh thái và loài sinh vật, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên và ứng phó với các thách thức môi trường trong giai đoạn mới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 2878/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên đến năm 2030. Chương trình sẽ được triển khai trên phạm vi cả nước nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng và diễn biến của các hệ sinh thái, các loài sinh vật, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên.
Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để triển khai Đề án "Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Trong giai đoạn 2026-2030, các nhiệm vụ được phân công cụ thể về nội dung, lộ trình thực hiện, đơn vị chủ trì và kết quả đầu ra, góp phần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý trung ương, địa phương và các ban quản lý khu bảo tồn.
Điều tra đồng bộ các hệ sinh thái và loài nguy cấp
Theo chương trình, hoạt động điều tra, kiểm kê và quan trắc sẽ được thực hiện đồng bộ tại các khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước.
Đối với hệ sinh thái, việc theo dõi tập trung vào bốn nhóm chính gồm: rừng tự nhiên, đất ngập nước, rạn san hô và thảm cỏ biển. Các nội dung đánh giá bao gồm diện tích, chất lượng và mức độ biến động của từng hệ sinh thái theo thời gian.

Với các loài động vật, cơ quan chuyên môn sẽ thống kê số lượng cá thể, quy mô quần thể, thành phần loài và tần suất xuất hiện. Chương trình ưu tiên điều tra các loài đặc hữu, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và các loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam.
Đối với thực vật, việc điều tra sẽ tập trung xác định diện tích phân bố, thành phần loài và xu hướng biến động, đặc biệt là các loài đặc hữu và có nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả khảo sát sẽ là căn cứ để xây dựng các giải pháp bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái phù hợp với điều kiện của từng khu bảo tồn.
Không chỉ dừng ở việc cập nhật danh mục các loài, chương trình còn hướng đến phát hiện sớm những dấu hiệu suy giảm quần thể, biến đổi sinh cảnh và các nguy cơ tác động đến đa dạng sinh học, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý kịp thời điều chỉnh các biện pháp bảo tồn.
Hình thành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học thống nhất
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chương trình là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số về đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn, bảo đảm đồng bộ và có khả năng kết nối với cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
Hệ thống này sẽ cập nhật đầy đủ thông tin về diện tích và chất lượng các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển; đồng thời lưu trữ dữ liệu về số lượng, thành phần, vùng phân bố và hiện trạng của các loài động, thực vật.
Toàn bộ dữ liệu không gian sẽ được biên tập trên nền hệ tọa độ VN-2000, thể hiện ranh giới các hệ sinh thái, khu vực phân bố của các loài và vị trí xuất hiện của các loài nguy cấp, quý, hiếm hoặc đang bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam.
Song song với đó, chương trình yêu cầu tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn bộ quá trình điều tra, quan trắc, xử lý và quản lý dữ liệu. Đội ngũ cán bộ tại các khu bảo tồn cũng sẽ được đào tạo về kỹ thuật điều tra, nhận diện loài, thu thập thông tin, xây dựng báo cáo và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu.
Hoàn thành điều tra tại các khu bảo tồn trước năm 2030
Theo lộ trình thực hiện, trong năm 2026, các cơ quan chuyên môn sẽ xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ công tác điều tra, kiểm kê và quan trắc đa dạng sinh học. Giai đoạn 2027-2028 tiếp tục hoàn thiện các định mức chuyên ngành, đồng thời triển khai điều tra thực địa tại các khu bảo tồn thiên nhiên trên cả nước.
Việc đánh giá hiện trạng các loài nguy cấp, quý, hiếm và cập nhật dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia sẽ được thực hiện thường xuyên hằng năm. Chương trình dự kiến tổng kết vào năm 2030.
Theo quyết định, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, theo dõi tiến độ, tổng hợp kết quả và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia.
Các đơn vị quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp, thủy sản, biển và hải đảo có trách nhiệm phối hợp xây dựng quy trình kỹ thuật và cập nhật dữ liệu thuộc lĩnh vực phụ trách. UBND các tỉnh, thành phố sẽ tổ chức triển khai kế hoạch tại địa phương, bố trí kinh phí và tích hợp dữ liệu vào hệ thống quốc gia, trong khi ban quản lý các khu bảo tồn trực tiếp thực hiện công tác điều tra, quan trắc và định kỳ báo cáo kết quả.
Nguồn kinh phí triển khai chương trình được huy động từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương cùng các nguồn viện trợ, tài trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác. Khi hoàn thành, chương trình sẽ hình thành hệ thống dữ liệu đa dạng sinh học thống nhất, đầy đủ và thường xuyên cập nhật, tạo nền tảng nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước.
