Mưa lớn cực đoan và bài toán ngập úng đô thị: Khi hạ tầng không còn theo kịp biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu - Ngày đăng : 07:47, 30/07/2026

Những trận mưa với cường độ lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên khiến nhiều đô thị rơi vào cảnh ngập sâu chỉ sau vài chục phút. Đây không chỉ là hệ quả của biến đổi khí hậu mà còn phản ánh những hạn chế trong quy hoạch, phát triển hạ tầng và quản lý đô thị. Khi các hình thái thời tiết cực đoan được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, chống ngập không còn là bài toán xử lý sự cố mà phải trở thành chiến lược thích ứng dài hạn.
Biến đổi khí hậu

Mưa lớn cực đoan và bài toán ngập úng đô thị: Khi hạ tầng không còn theo kịp biến đổi khí hậu

Thu Trinh - Mai Hương {Ngày xuất bản}

Những trận mưa với cường độ lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên khiến nhiều đô thị rơi vào cảnh ngập sâu chỉ sau vài chục phút. Đây không chỉ là hệ quả của biến đổi khí hậu mà còn phản ánh những hạn chế trong quy hoạch, phát triển hạ tầng và quản lý đô thị. Khi các hình thái thời tiết cực đoan được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, chống ngập không còn là bài toán xử lý sự cố mà phải trở thành chiến lược thích ứng dài hạn.

6e7695c4-80fa-41c5-ab49-00e1729a0191.png

Những trận mưa với cường độ lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên khiến nhiều đô thị rơi vào cảnh ngập sâu chỉ sau vài chục phút. Đây không chỉ là hệ quả của biến đổi khí hậu mà còn phản ánh những hạn chế trong quy hoạch, phát triển hạ tầng và quản lý đô thị. Khi các hình thái thời tiết cực đoan được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng, chống ngập không còn là bài toán xử lý sự cố mà phải trở thành chiến lược thích ứng dài hạn.

Mỗi mùa mưa, hình ảnh nhiều tuyến phố chìm trong nước, phương tiện chết máy, giao thông tê liệt và cuộc sống người dân bị đảo lộn lại tái diễn tại không ít đô thị trên cả nước. Điều đáng nói, tình trạng ngập úng không còn chỉ xuất hiện sau những trận mưa kéo dài hay có lượng mưa kỷ lục, mà ngày càng phổ biến ngay cả khi mưa chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng có cường suất rất lớn. Thực trạng này đặt ra câu hỏi: Phải chăng nguyên nhân chỉ đến từ những cơn mưa cực đoan, hay còn bắt nguồn từ chính khả năng chống chịu của các đô thị?

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là mưa lớn cường suất cao, được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng cả về tần suất và mức độ. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng mưa chỉ là yếu tố kích hoạt, còn ngập úng đô thị là kết quả của sự cộng hưởng giữa biến đổi khí hậu với những hạn chế trong quy hoạch, phát triển không gian đô thị, hệ thống thoát nước và công tác quản lý hạ tầng.

Khi các đô thị không còn đủ không gian để giữ nước, hệ thống tiêu thoát quá tải trước những trận mưa vượt chuẩn thiết kế, việc chống ngập không thể chỉ dừng ở các giải pháp ứng phó trước mắt. Thay vào đó, cần một cách tiếp cận tổng thể hơn, từ quy hoạch, đầu tư hạ tầng đến quản lý nước mưa và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây cũng là chìa khóa để các đô thị phát triển bền vững trước những thách thức ngày càng lớn từ thiên nhiên.

Mưa cực đoan gia tăng, ngập úng trở thành thách thức ngày càng lớn đối với đô thị

Chỉ trong vài giờ, những trận mưa lớn có cường suất cao có thể khiến hàng loạt tuyến đường chìm trong nước, giao thông tê liệt, đời sống người dân đảo lộn và hoạt động kinh tế - xã hội bị gián đoạn. Tình trạng ngập úng không còn là sự cố mang tính thời điểm mà đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với quá trình phát triển đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.

Thực tế này cũng đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Phát biểu tại buổi làm việc với Thành ủy Hà Nội về tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2026 vào ngày 08/07, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Hà Nội tập trung giải quyết những vấn đề dân sinh bức xúc để xây dựng Thủ đô xanh, văn minh, đáng sống. Trong đó, ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm không khí, xử lý nước thải và rác thải được xác định là những nhiệm vụ ưu tiên cần tạo chuyển biến rõ nét ngay trong năm 2026.

a33f3ce8-ea85-4d06-be67-485dec2ac9fa-1-.jpeg

Không chỉ riêng Hà Nội, nhiều đô thị trên cả nước đang phải đối mặt với nguy cơ ngập úng ngày càng gia tăng khi các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất dày hơn. Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, hiện tượng El Nino đang tác động đến Việt Nam và dự báo sẽ tiếp tục mạnh dần trong khoảng ba tháng tới, duy trì cường độ cao từ tháng 10 đến tháng 12/2026. Mặc dù El Nino thường khiến lượng mưa trung bình suy giảm, song các chuyên gia khí tượng cảnh báo vẫn có khả năng xuất hiện những trận mưa rất lớn trong thời gian ngắn, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, ngập úng đô thị và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác.

Riêng tại Hà Nội, câu chuyện chống ngập tiếp tục "nóng" tại kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 của HĐND thành phố. Trong phiên chất vấn ngày 15/7, nhiều đại biểu bày tỏ lo ngại khi Quy hoạch thoát nước Thủ đô sau 13 năm vẫn chưa hoàn thành, trong khi nhiều khu vực liên tục ngập sâu sau các trận mưa lớn. Đại biểu Lê Văn Đức đề nghị làm rõ nguyên nhân chậm triển khai quy hoạch, tiến độ xây dựng hồ điều hòa, các công trình thoát nước khẩn cấp cũng như trách nhiệm của các đơn vị liên quan.

Trả lời chất vấn, Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh thừa nhận tình trạng úng ngập cục bộ mỗi khi xuất hiện mưa lớn là bài toán rất phức tạp, không thể xử lý bằng những giải pháp tình thế. Theo ông, thành phố đang định hướng quy hoạch hạ tầng với tầm nhìn 100 năm, nhằm tái cấu trúc không gian đô thị và tích hợp đồng bộ hệ thống tiêu thoát nước với quy hoạch xây dựng để nâng cao khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa quy hoạch vẫn còn nhiều khoảng trống. Sau 13 năm, tỷ lệ thực hiện các hồ điều hòa và công trình trọng điểm theo quy hoạch mới đạt dưới 20%. Để khắc phục tình trạng này, Hà Nội đang triển khai 13 công trình cấp bách, gồm các dự án hồ điều hòa cùng 6 công trình cải tạo hệ thống kênh, cống và trạm bơm. Song song đó, thành phố đẩy mạnh khơi thông dòng chảy, bổ cập nước cho các tuyến sông Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Nhuệ và sông Đáy nhằm nâng cao năng lực tiêu thoát nước cho khu vực nội đô.

b3fc6fea-a28c-4b6a-aaa0-2d5d5682b9e3.png

Những diễn biến trên cho thấy, trong bối cảnh mưa cực đoan được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu, ngập úng đô thị không còn đơn thuần là hệ quả của những cơn mưa lớn. Đây là bài toán tổng hợp, phản ánh năng lực chống chịu của hạ tầng, chất lượng quy hoạch và hiệu quả quản trị đô thị. Để giải quyết tận gốc vấn đề, cần nhìn nhận đầy đủ các nguyên nhân sâu xa khiến nhiều đô thị ngày càng dễ tổn thương trước những trận mưa cực đoan.

Ngập úng không chỉ do mưa: Những "điểm nghẽn" trong quy hoạch và phát triển đô thị

Nếu như trước đây, ngập úng thường được xem là hệ quả tất yếu của những trận mưa lớn thì hiện nay, nhiều chuyên gia cho rằng cách lý giải này không còn phù hợp. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan, mưa lớn chỉ là yếu tố kích hoạt, còn mức độ ngập nặng hay nhẹ lại phụ thuộc vào khả năng chống chịu của đô thị. Thực tế cho thấy, những hạn chế trong quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật và quản trị đô thị mới là nguyên nhân khiến nhiều thành phố ngày càng dễ "thất thủ" trước các trận mưa cực đoan.

Quy hoạch thiếu tích hợp khiến nước không còn đường thoát

Theo PGS.TS Vũ Hoài Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội), nguyên nhân sâu xa của ngập úng đô thị nằm ở việc quy hoạch chưa được thực hiện theo hướng tích hợp giữa cao độ nền, mạng lưới tiêu thoát nước và các không gian trữ nước tự nhiên.

Ông phân tích, nhiều khu đô thị mới được tôn nền cao hơn các khu dân cư hiện hữu nhưng không đồng bộ với hệ thống thoát nước của toàn khu vực. Khi mưa lớn xảy ra, nước từ khu vực cao dồn xuống khu vực thấp nhưng không có hướng tiêu thoát phù hợp, tạo nên các điểm ngập cục bộ kéo dài. Điều này cho thấy quy hoạch thoát nước không thể tách rời quy hoạch xây dựng, giao thông và sử dụng đất.

5f3bed98-5e5e-464e-b391-beefb6315d57.png

Đồng quan điểm, KTS Trần Tuấn Anh cho rằng việc đầu tư thêm trạm bơm, hồ điều hòa hay mở rộng cống sẽ khó phát huy hiệu quả nếu quy hoạch cao độ nền không được kết nối đồng bộ với mạng lưới thoát nước đô thị. Theo ông, chống ngập phải được tính toán ngay từ giai đoạn quy hoạch tổng thể, thay vì xử lý từng điểm ngập sau khi đô thị đã hình thành.

Đô thị hóa nhanh làm mất "không gian cho nước"

Bên cạnh những bất cập trong quy hoạch, tốc độ đô thị hóa nhanh trong nhiều năm qua cũng làm suy giảm đáng kể khả năng điều tiết nước tự nhiên của các thành phố.

Nhận định về thực trạng tại TP.HCM, KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng thành phố đã phát triển với mật độ bê tông hóa quá cao, trong khi diện tích cây xanh, mặt nước và các bề mặt có khả năng thấm nước lại không được bảo tồn tương xứng. Khi phần lớn diện tích đất bị phủ kín bởi bê tông và nhựa đường, nước mưa không còn điều kiện thấm xuống đất mà nhanh chóng chảy tràn trên bề mặt, gây áp lực rất lớn lên hệ thống tiêu thoát nước.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại nhiều đô thị khác. Tại Hà Nội, trong hơn một thập kỷ qua, diện tích mặt nước tự nhiên được ước tính đã giảm trên 15% do nhiều hồ, ao và vùng trũng bị san lấp phục vụ phát triển đô thị. Trong khi đó, sau 13 năm triển khai quy hoạch thoát nước, tỷ lệ thực hiện các hồ điều hòa và công trình trọng điểm mới đạt dưới 20%, khiến khả năng trữ và điều tiết nước của đô thị ngày càng suy giảm.

Theo ông Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội, nhiều đô thị đã vô tình "lấy đi" những không gian vốn có chức năng chứa nước tự nhiên. Ông cho rằng muốn chống ngập hiệu quả, cần trả lại vai trò cho hồ nước, ao đầm và hệ thống mặt nước trong cấu trúc đô thị. Theo ông, đây không phải là những khoảng đất dự trữ để phát triển xây dựng mà là hạ tầng thiết yếu giúp điều hòa dòng chảy và giảm áp lực cho hệ thống thoát nước khi xảy ra mưa lớn.

0e84d8ae-ce71-48fe-8690-1b5d53ec7f3f.png

Hạ tầng kỹ thuật đang tụt lại phía sau diễn biến khí hậu

Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng năng lực của hệ thống thoát nước hiện nay không còn theo kịp sự thay đổi của khí hậu.

Tại Hà Nội, nhiều tuyến cống được xây dựng từ hàng chục năm trước, thậm chí từ thời Pháp thuộc, chỉ được thiết kế để tiêu thoát các trận mưa có cường độ khoảng 100mm trong 2 giờ. Trong khi đó, những năm gần đây đã xuất hiện không ít trận mưa đạt 200-300mm chỉ trong vài giờ, vượt xa công suất thiết kế.

Không chỉ quá tải về quy mô, hệ thống tiêu thoát nước còn đối mặt với nhiều bất cập như cống xuống cấp, khẩu độ nhỏ, thiếu kết nối giữa các lưu vực thoát nước, rác thải làm tắc nghẽn cửa thu nước và việc vận hành chưa thực sự đồng bộ. Điều này khiến nhiều khu vực dù có mưa không quá lớn vẫn xảy ra ngập úng kéo dài.

Ở các đô thị phía Nam, thách thức còn lớn hơn khi mưa lớn thường kết hợp với triều cường. Tại TP.HCM và Cần Thơ, nhiều khu vực thấp thường xuyên ngập sâu do nước trong hệ thống cống không thể thoát ra sông, kênh khi mực nước bên ngoài dâng cao.

Biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro, đòi hỏi thay đổi tư duy chống ngập

Theo các chuyên gia của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Xu hướng gia tăng các trận mưa cực đoan trong thời gian ngắn, cùng với nước biển dâng và triều cường, sẽ khiến nguy cơ ngập úng tại các đô thị ngày càng lớn nếu hạ tầng không được nâng cấp kịp thời.

Các chuyên gia khuyến nghị Việt Nam cần xây dựng chiến lược thoát nước và quản lý ngập úng theo tầm nhìn trung và dài hạn, thay vì chủ yếu xử lý các điểm ngập phát sinh. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch đô thị, quy hoạch thủy lợi, giao thông, tài nguyên nước và thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời tăng cường liên kết giữa các địa phương trong cùng lưu vực để bảo đảm hiệu quả tiêu thoát nước.

Những phân tích trên cho thấy, ngập úng đô thị không còn là bài toán kỹ thuật đơn thuần. Đó là kết quả của sự cộng hưởng giữa biến đổi khí hậu với những hạn chế kéo dài trong quy hoạch, phát triển hạ tầng và quản trị đô thị. Chính vì vậy, muốn giảm thiểu ngập úng trong tương lai, các đô thị không thể chỉ mở rộng cống hay xây thêm trạm bơm mà cần thay đổi căn bản tư duy quản lý nước mưa và nâng cao khả năng chống chịu của toàn bộ hệ thống đô thị.

Chống ngập bằng tư duy mới: Từ "thoát nước nhanh" đến "quản lý nước mưa"

Nhiều năm qua, các đô thị lớn đã đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng cho hệ thống cống, trạm bơm, hồ điều hòa và các công trình tiêu thoát nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tình trạng ngập úng vẫn tái diễn sau nhiều trận mưa lớn. Điều đó cho thấy, nếu chỉ mở rộng hạ tầng kỹ thuật mà không thay đổi tư duy quản lý nước mưa thì nguy cơ quá tải vẫn sẽ tiếp diễn.

Tại Hà Nội, đến hết tháng 4/2026, khoảng 40 hạng mục thuộc ba dự án cải tạo hệ thống thoát nước đã cơ bản hoàn thành; nhiều tuyến cống, kênh tiêu, trạm bơm và 5 hồ điều hòa đã đủ điều kiện vận hành trước mùa mưa. Theo Kế hoạch số 325/KH-UBND, thành phố đang triển khai 7 nhóm dự án cấp bách với tổng vốn khoảng 7.836 tỷ đồng và 11 nhóm dự án giai đoạn 2025-2030 có tổng mức đầu tư hơn 17.000 tỷ đồng nhằm nâng cao năng lực tiêu thoát nước.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng đầu tư công trình chỉ giải quyết phần "ngọn". Nếu lượng nước chảy tràn trên bề mặt tiếp tục gia tăng do bê tông hóa và không gian chứa nước tự nhiên ngày càng thu hẹp thì bất kỳ hệ thống thoát nước nào cũng có nguy cơ quá tải trước những trận mưa vượt tần suất thiết kế.

Phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu

Cũng theo TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, một trong những nguyên nhân khiến ngập úng đô thị ngày càng nghiêm trọng là các thành phố đã dần đánh mất hệ thống điều tiết nước tự nhiên trong quá trình đô thị hóa.

Ông cho biết, trước đây, hồ nước, ao đầm và các vùng trũng đóng vai trò như những "bể chứa" tự nhiên của đô thị. Khi mưa lớn xảy ra, lượng nước này được lưu giữ tạm thời trước khi thoát dần ra sông, giúp giảm đáng kể áp lực cho hệ thống cống. Tuy nhiên, nhiều năm qua, không ít hồ ao đã bị san lấp để xây dựng khu dân cư, trung tâm thương mại hoặc bãi đỗ xe. Khi các không gian chứa nước tự nhiên bị thu hẹp, toàn bộ lượng nước mưa dồn vào hệ thống thoát nước vốn đã quá tải, làm gia tăng nguy cơ ngập úng.

Theo TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, thực tế cho thấy nhiều khu vực vốn là ao hồ hoặc vùng trũng sau khi bị san lấp vẫn thường xuyên trở thành các "điểm đen" ngập nước mỗi khi mưa lớn. Điều này phản ánh rõ vai trò không thể thay thế của hệ thống mặt nước trong cấu trúc đô thị.

"Hệ thống hồ nước của Hà Nội không chỉ có giá trị về cảnh quan mà còn là một bộ phận quan trọng của hạ tầng sinh thái. Hồ nước giúp điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sống, đồng thời đóng vai trò tích trữ và điều tiết nước mưa. Vì vậy, trong quy hoạch đô thị hiện đại, cần bảo tồn và phát huy các không gian mặt nước hiện có, thay vì tiếp tục thu hẹp chúng", ông Đào Ngọc Nghiêm nhấn mạnh.

Theo ông, nhiều quốc gia đã chuyển từ tư duy "thoát nước nhanh" sang mô hình "đô thị bọt biển" (Sponge City), trong đó nước mưa được giữ lại ngay tại nơi phát sinh thông qua hồ sinh thái, công viên ngập nước, mái xanh, vườn mưa, mặt đường thấm nước... Nhờ đó, lượng nước chảy tràn được giảm đáng kể, đồng thời bổ sung nguồn nước ngầm và cải thiện vi khí hậu đô thị.

Quy hoạch phải đi trước biến đổi khí hậu

Ở góc độ thích ứng khí hậu, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng biến đổi khí hậu đang làm thay đổi căn bản điều kiện tự nhiên tại các đô thị Việt Nam. Những hiện tượng như nắng nóng cực đoan, mưa lớn cục bộ hay triều cường xuất hiện với tần suất cao hơn đang khiến nhiều công trình hạ tầng được thiết kế theo các số liệu khí hậu trong quá khứ nhanh chóng bộc lộ hạn chế.

f599d5ba-7c20-4ec7-800b-045cdcae003a.png

Theo ông, nếu quy hoạch đô thị không tích hợp các kịch bản biến đổi khí hậu ngay từ đầu thì nhiều công trình sẽ rơi vào tình trạng "thiết kế trong điều kiện cũ nhưng vận hành trong điều kiện mới". Khi đó, dù vừa hoàn thành, công trình cũng có thể nhanh chóng quá tải trước những trận mưa cực đoan hoặc các hiện tượng thời tiết bất thường.

Ông cho rằng, quy hoạch đô thị trong giai đoạn tới cần được xây dựng trên cơ sở các kịch bản khí hậu dài hạn, cập nhật thường xuyên các tiêu chuẩn thiết kế, đồng thời lồng ghép các giải pháp thích ứng ngay từ khâu quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật.

Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, chuyên gia về phát triển đô thị và quản lý hạ tầng kỹ thuật, cho rằng nhiều địa phương hiện vẫn chưa coi thích ứng với biến đổi khí hậu là một trụ cột trong quy hoạch phát triển.

Theo ông, hệ thống cây xanh, mặt nước, hồ điều hòa và mạng lưới thoát nước cần được xem là một hệ thống hạ tầng xanh - xanh dương thống nhất, có mối liên kết chặt chẽ với quy hoạch giao thông, quy hoạch xây dựng và quy hoạch thủy lợi, thay vì phát triển riêng lẻ theo từng dự án.

gnu.png
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến, chuyên gia về phát triển đô thị và quản lý hạ tầng kỹ thuật

"Nếu thiếu một tầm nhìn tổng thể, các giải pháp chống ngập hay chống nóng sẽ chỉ mang tính tình thế. Đô thị muốn phát triển bền vững phải được quy hoạch theo hướng nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu, thay vì chỉ xử lý các sự cố phát sinh", PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến nhấn mạnh.

Ứng dụng khoa học công nghệ và nâng cao năng lực quản trị

Không chỉ đầu tư hạ tầng, các chuyên gia cho rằng công tác dự báo, cảnh báo sớm và quản trị rủi ro thiên tai cũng cần được nâng lên một bước mới.

Phát biểu tại Hội nghị Dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng tính cực đoan và bất định của thời tiết, cùng với khả năng El Niño tác động mạnh đến Việt Nam trong nửa cuối năm 2026 và đầu năm 2027, việc nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Theo Thứ trưởng, điều quan trọng không chỉ là nâng cao chất lượng dự báo mà còn phải chuyển hóa hiệu quả các thông tin khoa học thành quyết định quản lý và hành động ứng phó kịp thời. Muốn vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, mô hình dự báo hiện đại và tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, các địa phương nhằm hỗ trợ xây dựng các kịch bản ứng phó sát với thực tiễn.

Ông cũng đề nghị các bộ, ngành và địa phương chủ động đánh giá tác động của El Niño, nhận diện sớm các nguy cơ để xây dựng phương án ứng phó phù hợp, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Học kinh nghiệm quốc tế để quản lý nước mưa bền vững

Nhiều quốc gia đã thay đổi cách tiếp cận từ "thoát nước" sang "quản lý nước mưa". Trung Quốc triển khai mô hình "Đô thị bọt biển" (Sponge City), tăng khả năng giữ và thấm nước thông qua hồ sinh thái, công viên ngập nước và vật liệu thấm. Singapore coi nước mưa là nguồn tài nguyên, kết hợp hệ thống thoát nước với không gian xanh và hồ chứa để vừa chống ngập vừa bổ sung nguồn nước. Trong khi đó, Hà Lan phát triển các giải pháp hạ tầng xanh, quảng trường chứa nước và không gian ngập có kiểm soát nhằm thích ứng với điều kiện khí hậu cực đoan.

14f48259-2b7b-4fa5-b4b1-4ba29d21e41d.png

Các chuyên gia cho rằng đây cũng là xu hướng mà Việt Nam cần nghiên cứu áp dụng. Thay vì coi nước mưa là đối tượng phải thoát bỏ càng nhanh càng tốt, cần xem nước mưa là nguồn tài nguyên cần được lưu giữ, phân tán và khai thác hợp lý, qua đó vừa giảm nguy cơ ngập úng, vừa tăng khả năng chống chịu của đô thị trước biến đổi khí hậu.

Những trận mưa cực đoan xuất hiện với tần suất ngày càng dày hơn không còn là hiện tượng bất thường mà đang trở thành một trạng thái "bình thường mới" dưới tác động của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, bài toán ngập úng đô thị không thể tiếp tục được giải quyết bằng tư duy ứng phó sau mỗi trận mưa hay chỉ dựa vào việc mở rộng cống, xây thêm trạm bơm. Điều cần thiết hơn là một cách tiếp cận tổng thể, lấy khả năng thích ứng khí hậu làm nền tảng, tích hợp đồng bộ giữa quy hoạch đô thị, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng sinh thái và công nghệ dự báo, quản trị rủi ro.

Đô thị của tương lai không chỉ cần phát triển nhanh mà còn phải có khả năng chống chịu trước những cú sốc của thiên nhiên. Muốn vậy, mỗi mét vuông hồ nước được giữ lại, mỗi công viên ngập nước được hình thành, mỗi tuyến cống được thiết kế theo các kịch bản khí hậu mới và mỗi quyết định quy hoạch dựa trên dữ liệu khoa học đều là những "mắt xích" quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro ngập úng. Khi nước mưa không còn bị coi là "gánh nặng" cần thoát bỏ càng nhanh càng tốt mà được quản lý như một nguồn tài nguyên cần lưu giữ và điều tiết hợp lý, các đô thị mới có thể nâng cao khả năng chống chịu và phát triển bền vững trước những thách thức ngày càng lớn của biến đổi khí hậu.

Thu Trinh - Mai Hương