Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 7: Gỡ điểm nghẽn chồng chéo giữa ĐTM và GPMT: Từ tiền kiểm nhiều tầng đến quản lý môi trường dựa trên rủi ro, dữ liệu và hậu kiểm
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 16:03, 05/08/2026
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 7: Gỡ điểm nghẽn chồng chéo giữa ĐTM và GPMT: Từ tiền kiểm nhiều tầng đến quản lý môi trường dựa trên rủi ro, dữ liệu và hậu kiểm
Trong bối cảnh Chính phủ yêu cầu tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến đánh giá tác động môi trường (ĐTM), giấy phép môi trường (GPMT), phòng cháy chữa cháy, khu công nghiệp/cụm công nghiệp và cấp phép xây dựng, chồng chéo giữa ĐTM và GPMT cần được nhìn nhận như một điểm nghẽn thể chế của mô hình quản lý môi trường, không chỉ là vướng mắc biểu mẫu.

Trong bối cảnh Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã thiết lập lại hệ thống công cụ quản lý môi trường, trong đó ĐTM là công cụ đánh giá, dự báo tác động trước khi quyết định đầu tư, còn GPMT là công cụ quản lý vận hành, kiểm soát nguồn thải và điều kiện xả thải trong quá trình hoạt động , Nghị định số 08/2022/NĐ-CP và Nghị định số 05/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa việc phân loại dự án, đối tượng lập ĐTM, đối tượng phải có GPMT, vận hành thử nghiệm và quan trắc môi trường.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy ranh giới chức năng giữa ĐTM và GPMT chưa được tách bạch đầy đủ. Nhiều nội dung đã được phân tích, thẩm định trong ĐTM tiếp tục được mô tả, giải trình, rà soát trong hồ sơ GPMT; đặc biệt là công nghệ xử lý, tải lượng phát thải, đấu nối hạ tầng, chương trình quan trắc và kế hoạch vận hành thử nghiệm. Dự thảo bài viết kèm theo của nhóm tác giả đã khái quát hiện tượng này bằng khái niệm “tiền kiểm nhiều tầng”, tức một nội dung môi trường được xem xét nhiều lần bởi các thủ tục có mục tiêu khác nhau nhưng hồ sơ lại gần như trùng lặp.
Từ góc độ quản trị môi trường, câu hỏi trung tâm không phải là có nên “bỏ” ĐTM hay “bỏ” GPMT, mà là làm thế nào để phân định đúng chức năng, tránh đánh giá lặp, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án nhưng vẫn giữ được năng lực kiểm soát phát thải, sự cố và rủi ro môi trường. Bài viết này tiếp cận vấn đề theo ba trục: (i) nhận diện bản chất chồng chéo ĐTM - GPMT; (ii) so sánh với chính sách và thủ tục của EU; và (iii) đề xuất mô hình đơn giản hóa theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, dữ liệu và hậu kiểm.
Tạp chí Môi trường và Cuộc sống trân trọng giới thiệu những phân tích của Chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt, TS. Trịnh Xuân Đức - Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam qua bài phỏng vấn sau.
ĐTM và GPMT khác nhau về thời điểm, mục tiêu và đối tượng kiểm soát
P.V: Thưa TS. Trịnh Xuân Đức, bản chất của sự chồng chéo giữa Đánh giá tác động môi trường và Giấy phép môi trường trong hệ thống pháp luật hiện nay là gì, và nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng này?
TS. Trịnh Xuân Đức: ĐTM có bản chất là công cụ đánh giá trước dự án. Nội dung cốt lõi của ĐTM là nhận diện nguồn tác động, dự báo mức độ ảnh hưởng, xem xét tính phù hợp địa điểm, công nghệ, quy mô, phương án bảo vệ môi trường và khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận. Về mặt quản lý, ĐTM trả lời câu hỏi: dự án có nên được chấp thuận tại địa điểm và quy mô đó không, và nếu được chấp thuận thì điều kiện môi trường nguyên tắc là gì.
GPMT có bản chất khác. Đây là công cụ quản lý vận hành, xác định nguồn thải, dòng thải, thông số ô nhiễm, giá trị giới hạn, vị trí xả thải, phương thức xả thải, vận hành thử nghiệm, quan trắc, báo cáo và trách nhiệm vận hành công trình bảo vệ môi trường. GPMT trả lời câu hỏi: khi dự án đã đi vào vận hành, cơ sở được xả thải trong giới hạn nào, phải quan trắc ra sao, chịu trách nhiệm cập nhật dữ liệu và bị hậu kiểm như thế nào.

Như vậy, ĐTM và GPMT không nên được hiểu là hai “vòng phê duyệt” cùng một nội dung. ĐTM phải là nơi xác lập điều kiện môi trường chiến lược và trần tải lượng ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư; GPMT phải là nơi chuyển các điều kiện đó thành nghĩa vụ vận hành, quan trắc và chịu trách nhiệm pháp lý trong giai đoạn hoạt động.
Cơ chế “tiền kiểm nhiều tầng” làm tăng chi phí tuân thủ
Vấn đề phát sinh khi nội dung của ĐTM và GPMT bị kéo gần nhau theo hướng hồ sơ hóa. Trên thực tế, nhiều dự án sau khi đã thực hiện ĐTM, đã trình bày công nghệ xử lý, tải lượng phát thải, phương án đấu nối, kế hoạch quan trắc và vận hành thử nghiệm, khi xin GPMT vẫn phải mô tả lại, giải trình lại hoặc bị yêu cầu bổ sung các phần tương tự. Điều này tạo ra ít nhất bốn hệ quả: kéo dài thời gian chuẩn bị dự án; tăng chi phí tư vấn và chi phí cơ hội; tăng rủi ro khác biệt cách hiểu giữa các lần thẩm định; và khuyến khích doanh nghiệp tập trung vào hình thức hồ sơ thay vì chất lượng dữ liệu vận hành.
Một minh chứng định lượng có thể thấy từ cấu trúc hồ sơ môi trường thực tế. Báo cáo đề xuất cấp GPMT của một dự án thứ cấp trong cụm công nghiệp có thể dài tới khoảng 197 trang, gồm các chương về thông tin chung, sự phù hợp với quy hoạch và khả năng chịu tải, hiện trạng môi trường, đánh giá dự báo tác động, công trình bảo vệ môi trường, nội dung đề nghị cấp phép, vận hành thử nghiệm và quan trắc. Cấu trúc này cho thấy hồ sơ GPMT, trong nhiều trường hợp, đang chứa nhiều nội dung gần với một báo cáo ĐTM rút gọn, thay vì chỉ tập trung vào điều kiện xả thải và nghĩa vụ vận hành.
Tình trạng này không chỉ gây tốn kém cho doanh nghiệp. Nó còn làm phân tán nguồn lực của cơ quan quản lý. Khi thời gian thẩm định dành nhiều cho kiểm tra lại phần mô tả công nghệ, địa điểm, hiện trạng hoặc dự báo đã được xem xét trước đó, năng lực kiểm soát dữ liệu quan trắc, kiểm tra vận hành thực tế và thanh tra theo rủi ro sẽ bị suy giảm.
Bất cập rõ nhất ở dự án thứ cấp trong KCN/CCN
PV: Khi khu công nghiệp và cụm công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung và hồ sơ môi trường tổng thể, doanh nghiệp thứ cấp có cần lặp lại toàn bộ nội dung đánh giá hiện trạng môi trường hay không, thưa ông?
TS. Trịnh Xuân Đức: Đối với khu công nghiệp và cụm công nghiệp (KCN/CCN), sự chồng chéo càng rõ vì các hạ tầng môi trường tập trung đã được thiết kế để quản lý theo cụm. Về nguyên tắc, KCN/CCN đã có quy hoạch ngành nghề, hệ thống thu gom nước thải, trạm xử lý nước thải tập trung, điều kiện đấu nối, khả năng tiếp nhận tải lượng và cơ chế quan trắc. Nếu từng doanh nghiệp thứ cấp vẫn phải lặp lại gần như đầy đủ các bước đánh giá như một dự án độc lập, lợi thế quản lý theo hạ tầng tập trung sẽ bị giảm đáng kể.
Ví dụ, báo cáo rà soát KCN Nhơn Trạch 1 ghi nhận KCN có diện tích theo GPMT là 426,49 ha, tỷ lệ lấp đầy công bố trên 95%, có hệ thống thu gom nước thải tách riêng với thoát nước mưa và nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất cấp phép 10.000 m3/ngày đêm. Giấy phép môi trường của KCN đồng thời yêu cầu vận hành đúng quy trình, bảo đảm nước thải sau xử lý đạt giới hạn cho phép, lắp đặt quan trắc tự động, thực hiện vận hành thử nghiệm và có phương án ứng phó sự cố (Báo cáo KCN Nhơn Trạch 1, 2026). Những dữ liệu này cho thấy, với dự án thứ cấp ít rủi ro và chỉ đấu nối vào hạ tầng đạt chuẩn, trọng tâm quản lý nên là kiểm tra sự phù hợp ngành nghề, tải lượng đấu nối và dữ liệu vận hành, thay vì yêu cầu lặp lại toàn bộ lớp đánh giá hiện trạng.
Nghị định số 05/2025/NĐ-CP đã có bước tiến theo hướng giảm lặp khi sửa đổi quy định liên quan đến dự án trong khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung hoặc cụm công nghiệp, trong đó một số hồ sơ không phải trình bày lại nội dung đánh giá hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án nếu khu/cụm đã có hồ sơ môi trường tổng thể. Tuy nhiên, cải cách này cần được phát triển thêm thành nguyên tắc thiết kế thủ tục: dự án thứ cấp trong KCN/CCN phải được quản lý trước hết bằng điều kiện đấu nối, trần tải lượng và cơ sở dữ liệu của chủ hạ tầng.
" EU giảm gánh nặng hành chính không cần thiết, tăng chất lượng quá trình ra quyết định và tạo điều kiện đánh giá tác động môi trường"
PV: Thưa chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt, mô hình phân định giữa đánh giá tác động môi trường và cơ chế cấp phép phát thải của Liên minh châu Âu (EU) có những điểm khác biệt cơ bản gì so với Việt Nam? Theo ông, đâu là những bài học quan trọng mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường?
Chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt: EU không sử dụng thuật ngữ “giấy phép môi trường” theo cách Việt Nam đang dùng, nhưng hệ thống pháp luật EU phân định khá rõ giữa đánh giá môi trường trước quyết định đầu tư và cấp phép phát thải trong vận hành. ĐTM được điều chỉnh chủ yếu bởi EIA Directive, tức Directive 2011/92/EU được sửa đổi bởi Directive 2014/52/EU. Ủy ban châu Âu nêu rõ lần sửa đổi năm 2014 nhằm giảm gánh nặng hành chính không cần thiết, tăng chất lượng quá trình ra quyết định và tạo điều kiện đánh giá tác động môi trường mà không làm suy yếu biện pháp bảo vệ môi trường hiện có (European Commission, 2014).
Trong khi đó, phát thải công nghiệp được điều chỉnh bởi Industrial Emissions Directive (IED), hiện đã được sửa đổi bởi Directive (EU) 2024/1785 và thường được gọi là IED 2.0. IED tập trung vào điều kiện vận hành, giới hạn phát thải, áp dụng kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT), quan trắc, báo cáo, thanh tra, công khai thông tin và trách nhiệm cải tiến hiệu quả môi trường. Ủy ban châu Âu cho biết IED 2.0 có hiệu lực từ ngày 04/8/2024 và hướng tới thúc đẩy đổi mới công nghệ, hiệu quả vật liệu và khử carbon trong các hoạt động công nghiệp, chăn nuôi quy mô lớn (European Commission, 2024a, 2024b).

Sự phân định này tạo ra bài học quan trọng: ĐTM không nên biến thành giấy phép xả thải, còn GPMT không nên trở thành “ĐTM lần hai”. ĐTM đánh giá phương án, địa điểm, tác động và điều kiện môi trường trước khi dự án được chấp thuận; giấy phép phát thải vận hành lại tập trung vào dữ liệu, giới hạn và trách nhiệm tuân thủ sau khi cơ sở đi vào hoạt động.
EU không “bỏ thủ tục”, mà tích hợp và phối hợp thủ tục
PV: Từ kinh nghiệm của EU trong việc tích hợp thủ tục, quản lý môi trường dựa trên dữ liệu và thanh tra theo rủi ro, theo ông, Việt Nam cần đổi mới cơ chế cấp Giấy phép môi trường như thế nào để giảm chồng chéo thủ tục nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ môi trường?
Chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt: Kinh nghiệm EU cho thấy cải cách thủ tục môi trường không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Cách tiếp cận phổ biến là phối hợp thủ tục, tránh đánh giá lặp lại và tăng giá trị của dữ liệu đã nộp. Theo logic này, thông tin môi trường phải được sử dụng xuyên suốt vòng đời dự án: dữ liệu phục vụ đánh giá trước đầu tư có thể tiếp tục được dùng làm nền cho cấp phép phát thải, nhưng chỉ những nội dung thay đổi, thiếu hoặc liên quan trực tiếp đến điều kiện vận hành mới cần cập nhật.
Cách tiếp cận này phù hợp với nguyên tắc “một dữ liệu - nhiều mục đích quản lý”. Nếu dữ liệu về địa điểm, quy hoạch, khả năng chịu tải, công nghệ nguyên lý, tải lượng dự kiến và phương án đấu nối đã được thẩm định trong ĐTM, thì khi cấp GPMT không cần yêu cầu doanh nghiệp tái lập luận từ đầu. GPMT chỉ cần kiểm tra liệu dữ liệu vận hành, thiết kế cuối cùng và tải lượng đề nghị cấp phép có nằm trong giới hạn đã được chấp thuận hay không.
IED 2.0 nhấn mạnh quản lý phát thải công nghiệp bằng dữ liệu, hiệu quả môi trường và trách nhiệm giải trình. Một tài liệu của Ủy ban châu Âu năm 2025 cho biết khung IED sửa đổi bao phủ hơn 75.000 cơ sở công nghiệp lớn và trang trại chăn nuôi thâm canh ở EU (European Commission, 2025a). Quy mô này cho thấy, với số lượng đối tượng lớn, quản lý môi trường hiện đại không thể chỉ dựa vào thẩm định hồ sơ giấy mà phải dựa trên dữ liệu phát thải, dữ liệu vận hành, quan trắc, công khai thông tin và thanh tra có trọng tâm.
EU cũng liên tục thúc đẩy các quy định về kinh tế tuần hoàn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm ô nhiễm công nghiệp. Trong báo cáo triển khai chính sách môi trường năm 2025, Ủy ban châu Âu tiếp tục đặt IED, dữ liệu phát thải công nghiệp, quy định về tuần hoàn sản phẩm, chất thải và tiếp cận công lý môi trường trong một khung thực thi thống nhất (European Commission, 2025b). Đây là kinh nghiệm có giá trị đối với Việt Nam khi chuyển GPMT từ “giấy phép hồ sơ” sang “giấy phép dữ liệu”.

7 Đề xuất đơn giản hóa thủ tục ĐTM và GPMT
Trước câu hỏi của phóng viên về việc Việt Nam cần thiết kế lại mối quan hệ giữa Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và Giấy phép môi trường (GPMT) như thế nào để vừa loại bỏ sự chồng chéo thủ tục, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý môi trường trong suốt vòng đời dự án, Chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt và TS. Trịnh Xuân Đức đề xuất 7 nhóm giải pháp đơn giản thủ tục ĐTM và GPMT.
Đề xuất 1: Không gộp cơ học, mà “tích hợp có phân tầng”
Cải cách ĐTM - GPMT không nên thực hiện bằng cách gộp cơ học hai thủ tục thành một. Lý do là ĐTM và GPMT khác nhau về thời điểm, bản chất dữ liệu và mục tiêu quản lý. Nếu gộp hoàn toàn, cơ quan quản lý có thể mất công cụ cập nhật điều kiện vận hành khi dự án thay đổi thiết kế kỹ thuật, công nghệ xử lý, nguồn thải hoặc tải lượng thực tế. Ngược lại, nếu tách rời hoàn toàn như hiện nay, doanh nghiệp tiếp tục phải đi qua hai vòng hồ sơ có nội dung trùng lặp.
Giải pháp phù hợp là “tích hợp có phân tầng”. Theo đó, ĐTM giữ vai trò đánh giá chiến lược, tải lượng và khả năng chịu tải; GPMT giữ vai trò cấp điều kiện vận hành, kiểm soát dữ liệu phát thải và hậu kiểm. Nội dung đã được phê duyệt hoặc chấp thuận trong ĐTM không được rà soát lại trong GPMT, trừ trường hợp có thay đổi công nghệ, tăng tải lượng, thay đổi quy mô, thay đổi loại hình phát thải hoặc phát sinh yếu tố nhạy cảm mới.
Đề xuất 2: Thiết kế lại ĐTM thành công cụ “chiến lược - tải lượng”
ĐTM cần được tinh gọn theo hướng tập trung vào các quyết định có ý nghĩa môi trường cao nhất ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Năm nhóm nội dung cần ưu tiên gồm:
- Đánh giá khả năng chịu tải môi trường đối với nước, không khí, tiếng ồn, hạ tầng tiếp nhận và tải lượng tích lũy;
- Đánh giá sự phù hợp của địa điểm, quy hoạch, phân vùng môi trường và khoảng cách đến đối tượng nhạy cảm;
- Đánh giá công nghệ ở cấp nguyên lý và rủi ro công nghệ, không biến ĐTM thành hồ sơ thiết kế kỹ thuật chi tiết;
- Xác định “trần tải lượng môi trường” đối với các thông số chính như COD, BOD5, TSS, amoni, tổng nitơ, tổng phospho, bụi, NOx, SOx, VOC, tiếng ồn, mùi và chất thải rắn;
- Xác định các điều kiện môi trường phải chuyển tiếp sang GPMT, bao gồm điều kiện đấu nối, yêu cầu quan trắc, yêu cầu dữ liệu và cơ chế cảnh báo rủi ro.

Cách thiết kế này giúp ĐTM trả về sản phẩm quản lý rõ ràng: danh mục điều kiện môi trường bắt buộc và trần tải lượng được phép xem xét cho giai đoạn vận hành. Khi đó, GPMT chỉ có nhiệm vụ cụ thể hóa các điều kiện này bằng thông số xả thải, tần suất quan trắc, chế độ báo cáo và nghĩa vụ vận hành.
Đề xuất 3: Thiết kế lại GPMT thành “giấy phép dữ liệu”
GPMT cần chuyển trọng tâm từ mô tả hồ sơ sang dữ liệu vận hành. Một GPMT hiện đại không nên yêu cầu doanh nghiệp trình bày lại toàn bộ lịch sử địa điểm, hiện trạng môi trường và đánh giá tác động đã có trong ĐTM; thay vào đó, cần yêu cầu bộ dữ liệu tối thiểu nhưng có giá trị kiểm soát cao, gồm:
- Dữ liệu nguồn thải: lưu lượng, tải lượng, thành phần ô nhiễm, biến động theo ca/ngày/mùa;
- Dữ liệu vận hành công trình xử lý: công suất, thời gian vận hành, hóa chất, năng lượng, bùn thải, hiệu suất xử lý;
- Dữ liệu đấu nối: vị trí, lưu lượng thiết kế, lưu lượng thực tế, tiêu chuẩn tiếp nhận, năng lực còn lại của hạ tầng tập trung;
-Dữ liệu quan trắc: quan trắc định kỳ, tự động/liên tục, cảnh báo vượt ngưỡng, truyền dữ liệu về cơ quan quản lý;
-Dữ liệu tài nguyên thứ cấp và carbon: tái sử dụng nước, tái chế, RDF/SRF, bùn ổn định, vật liệu tái chế, năng lượng tiết kiệm và phát thải khí nhà kính.
Khi GPMT trở thành giấy phép dữ liệu, doanh nghiệp có nghĩa vụ cập nhật dữ liệu thực, còn cơ quan quản lý có căn cứ để hậu kiểm, thanh tra theo rủi ro và xử lý vi phạm dựa trên kết quả vận hành thay vì dựa chủ yếu vào tính đầy đủ hình thức của hồ sơ.
Đề xuất 4: Phân loại rủi ro để giảm tiền kiểm đối với nhóm nguy cơ thấp
Không nên áp dụng cùng một mức tiền kiểm cho mọi dự án. Cần xây dựng ma trận rủi ro ĐTM - GPMT dựa trên bốn nhóm yếu tố: Loại hình sản xuất; quy mô/tải lượng phát thải; vị trí và độ nhạy cảm môi trường; năng lực hạ tầng tiếp nhận và lịch sử tuân thủ. Dự án có nguy cơ rất cao và cao vẫn phải ĐTM đầy đủ, GPMT chi tiết, quan trắc nghiêm ngặt và hậu kiểm thường xuyên. Ngược lại, dự án nguy cơ thấp trong KCN/CCN có hạ tầng xử lý tập trung đạt chuẩn, chỉ phát sinh nước thải sinh hoạt hoặc tải lượng nhỏ, cần được đơn giản hóa mạnh.

Đề xuất 5: Cơ chế đặc thù cho dự án thứ cấp trong KCN/CCN: “hồ sơ môi trường dựa trên đấu nối”
Đối với dự án thứ cấp trong KCN/CCN đã có ĐTM tổng thể, GPMT của chủ hạ tầng, hệ thống xử lý tập trung, quan trắc và quy hoạch ngành nghề, nên áp dụng cơ chế hồ sơ môi trường dựa trên đấu nối. Doanh nghiệp thứ cấp chỉ cần chứng minh bốn điều kiện: phù hợp ngành nghề và quy hoạch tiếp nhận; không vượt tải lượng đấu nối được phân bổ; không phát sinh nguồn thải ngoài phạm vi đăng ký; và chấp nhận truyền/cung cấp dữ liệu vận hành cho chủ hạ tầng và cơ quan quản lý.
Cơ chế này không làm giảm trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp. Ngược lại, nó chuyển trách nhiệm từ “nộp lại hồ sơ mô tả” sang “chịu trách nhiệm bằng dữ liệu”. Chủ hạ tầng KCN/CCN phải được giao vai trò quản lý tải lượng tổng, kiểm soát đấu nối, tổng hợp dữ liệu quan trắc, cảnh báo quá tải và báo cáo định kỳ. Cơ quan nhà nước tập trung hậu kiểm vào các điểm rủi ro: doanh nghiệp có tải lượng lớn, ngành nghề không phù hợp, dấu hiệu đấu nối sai, dữ liệu bất thường hoặc vượt chuẩn.
Đề xuất 6: Xây dựng cơ sở dữ liệu ĐTM - GPMT thống nhất
Cải cách thủ tục sẽ không bền vững nếu mỗi thủ tục tiếp tục vận hành bằng bộ hồ sơ riêng. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường thống nhất gồm ĐTM, GPMT, quan trắc tự động, quan trắc định kỳ, thanh tra, xử phạt, tải lượng, đấu nối, dữ liệu carbon, EPR và dữ liệu tuần hoàn vật chất. Cơ sở dữ liệu này phải cho phép cơ quan cấp phép truy cập phần dữ liệu đã thẩm định trong ĐTM để không yêu cầu doanh nghiệp nộp lại, đồng thời cho phép cơ quan thanh tra theo dõi lịch sử tuân thủ của từng cơ sở.
Ở cấp kỹ thuật, mỗi dự án/cơ sở cần có mã định danh môi trường thống nhất; mỗi nguồn thải có mã dòng thải; mỗi điểm xả, thiết bị xử lý, điểm quan trắc và điểm đấu nối có dữ liệu vị trí, thông số, tải lượng và lịch sử vận hành. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, thẩm định hồ sơ có thể rút ngắn đáng kể, trong khi năng lực phát hiện vi phạm lại tăng lên.
Đề xuất 7: Phát triển cơ chế End-of-Waste và quản lý tài nguyên thứ cấp
Một nguyên nhân khác làm thủ tục môi trường nặng nề là nhiều dòng vật chất có khả năng tái sử dụng, tái chế hoặc thay thế nguyên liệu vẫn bị quản lý như chất thải trong suốt vòng đời. Để hỗ trợ kinh tế tuần hoàn, cần nghiên cứu cơ chế End-of-Waste (EoW) cho các dòng vật chất đáp ứng tiêu chí kỹ thuật, an toàn môi trường và thị trường sử dụng rõ ràng, như RDF/SRF, tro sinh khối đạt chuẩn, bùn hữu cơ ổn định, vật liệu tái chế hoặc nguyên liệu thứ cấp. Khi một dòng vật chất đã đáp ứng tiêu chí EoW, GPMT nên quản lý bằng tiêu chuẩn chất lượng và dữ liệu truy xuất, thay vì chỉ bằng logic “phát sinh chất thải - chuyển giao xử lý”.
kiến nghị
PV: Để hiện thực hóa mô hình quản lý môi trường hiện đại, chuyển từ tiền kiểm sang quản lý dựa trên dữ liệu và hậu kiểm, theo ông Việt Nam cần ưu tiên triển khai những giải pháp và chính sách nào trong thời gian tới?
TS. Trịnh Xuân Đức: Chồng chéo ĐTM - GPMT không chỉ là vấn đề kỹ thuật của biểu mẫu hồ sơ. Nó phản ánh một mô hình quản lý môi trường còn nặng về tiền kiểm, hồ sơ và thẩm định lặp lại, trong khi mục tiêu thực chất của quản lý môi trường là kiểm soát nước thải, khí thải, chất thải, tiếng ồn, mùi, rủi ro sự cố và trách nhiệm vận hành. Khi cùng một nội dung bị đánh giá nhiều lần, cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý đều mất nguồn lực; còn dữ liệu vận hành, hậu kiểm và quản lý rủi ro lại chưa được đặt đúng vị trí trung tâm.

Kinh nghiệm EU cho thấy cải cách thủ tục môi trường cần đồng thời đạt hai mục tiêu: giảm gánh nặng hành chính không cần thiết nhưng không làm suy yếu tiêu chuẩn môi trường. Điều này chỉ đạt được khi ĐTM và GPMT được phân định đúng chức năng, dữ liệu được dùng lại giữa các thủ tục, cấp phép vận hành dựa trên giới hạn phát thải và quan trắc, còn thanh tra tập trung vào rủi ro và kết quả vận hành thực tế.
Đối với Việt Nam, chúng tôi kiến nghị bảy nhóm giải pháp sau:
1. Ban hành nguyên tắc pháp lý rõ ràng: nội dung đã được thẩm định trong ĐTM không rà soát lại trong GPMT, trừ khi có thay đổi công nghệ, quy mô, tải lượng, loại hình phát thải hoặc yếu tố nhạy cảm mới;
2. Thiết kế ĐTM thành công cụ đánh giá chiến lược - tải lượng, tập trung vào khả năng chịu tải, trần tải lượng, địa điểm, công nghệ nguyên lý và điều kiện môi trường chuyển tiếp;
3. Thiết kế GPMT thành giấy phép dữ liệu, tập trung vào nguồn thải, giới hạn xả thải, vận hành công trình xử lý, quan trắc, đấu nối, báo cáo và hậu kiểm;
4. Áp dụng phân tầng rủi ro đối với dự án, cơ sở và ngành nghề; đơn giản hóa mạnh nhóm nguy cơ thấp, nhất là dự án thứ cấp trong KCN/CCN có hạ tầng xử lý tập trung đạt chuẩn;
5. Thiết lập cơ chế hồ sơ môi trường dựa trên đấu nối cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN/CCN, gắn trách nhiệm của chủ hạ tầng với quản lý tải lượng tổng, dữ liệu quan trắc và cảnh báo quá tải;
6. Xây dựng cơ sở dữ liệu ĐTM - GPMT thống nhất, có mã định danh dự án/cơ sở, dòng thải, điểm xả, điểm đấu nối và lịch sử tuân thủ;
7. Phát triển cơ chế End-of-Waste để chuyển các dòng vật chất đủ điều kiện từ “chất thải” sang “tài nguyên thứ cấp”, hỗ trợ kinh tế tuần hoàn, EPR, thị trường carbon và công nghiệp môi trường.
"Nếu thực hiện đúng hướng, đơn giản hóa ĐTM - GPMT sẽ không làm suy giảm chất lượng bảo vệ môi trường. Ngược lại, cải cách này có thể giúp giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, thúc đẩy đầu tư xanh, phát triển KCN sinh thái và nâng cao hiệu quả quản trị môi trường dựa trên dữ liệu tại Việt Nam", chuyên gia Nguyễn Ngọc Việt chia sẻ.
Người thực hiện: Thu Trinh
