Điện Biên khai thác tiềm năng tín chỉ carbon từ hơn 430.000 ha rừng

Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 18:00, 10/08/2026

Với hơn 430.000 ha rừng, trong đó 98,41% là rừng tự nhiên, Điện Biên đang nghiên cứu phát triển các dự án tín chỉ carbon, ưu tiên REDD+ và mô hình nông lâm kết hợp với mắc ca, cà phê.
Tài nguyên và phát triển

Điện Biên khai thác tiềm năng tín chỉ carbon từ hơn 430.000 ha rừng

Hải Đăng 10/08/2026 18:00

Với hơn 430.000 ha rừng, trong đó 98,41% là rừng tự nhiên, Điện Biên đang nghiên cứu phát triển các dự án tín chỉ carbon, ưu tiên REDD+ và mô hình nông lâm kết hợp với mắc ca, cà phê.

Mới đây, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Forest Trends tổ chức Hội thảo "Thị trường tín chỉ carbon rừng và cơ hội với Điện Biên".

capture(2).jpg
Ảnh minh họa

Điện Biên hiện có hơn 430.000 ha rừng, trong đó gần 98% là rừng tự nhiên. Đây là dư địa lớn để địa phương nghiên cứu các dự án tín chỉ carbon, đặc biệt là REDD+ và mô hình nông lâm kết hợp gắn với mắc ca, cà phê.

Tỉnh đang định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu carbon rừng, triển khai các dự án thí điểm và từng bước hình thành thị trường tín chỉ carbon rừng. Mục tiêu là chuyển giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực phục vụ bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế và phát triển kinh tế xanh.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Điện Biên Lê Xuân Cảnh, đến năm 2030, diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp của tỉnh là 525.733 ha, chiếm hơn 55% diện tích tự nhiên.

Số liệu hiện trạng rừng năm 2025 cho thấy Điện Biên có 434.647,57 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 45,52%. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 427.758,14 ha, tương đương 98,41% diện tích có rừng; rừng trồng đạt 6.889,43 ha.

Khoảng 326.181 ha, tương đương 75% diện tích có rừng, đang ở trạng thái rừng nghèo và nghèo kiệt. Đây là thách thức trong việc nâng cao chất lượng rừng nhưng cũng mở ra dư địa để nghiên cứu phục hồi, tăng khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon.

Điện Biên đã giao đất, giao rừng hơn 403.000 ha cho các chủ rừng. Đây là cơ sở để xác định chủ thể quản lý, tổ chức đầu tư phát triển lâm nghiệp cũng như xây dựng cơ chế quản lý, giám sát và phân chia lợi ích từ các dự án tín chỉ carbon.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh tăng từ 42,66% năm 2020 lên 45,52% năm 2025. Diện tích có rừng tăng hơn 27.600 ha. Cùng với đó, tỉnh triển khai các giải pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trồng rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh.

Theo ông Lê Xuân Cảnh, tín chỉ carbon không chỉ tạo ra một loại hàng hóa mới mà còn mở ra cơ hội chuyển giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực tài chính phục vụ phát triển bền vững.

Nguồn thu từ tín chỉ carbon có thể được tái đầu tư cho bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên, nâng cao năng lực quản lý tài nguyên, đồng thời hỗ trợ người dân cải thiện sinh kế, tăng thu nhập và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đánh giá các loại hình dự án, ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, cho rằng REDD+ là hướng có tiềm năng cao nhất tại Điện Biên xét cả về quy mô diện tích và mức độ sẵn sàng.

Tỉnh có hơn 427.000 ha rừng tự nhiên và là một trong 6 địa phương tham gia Dự án REDD+ do Quỹ Khí hậu xanh (GCF) phê duyệt ngày 26/3/2026, với sự hỗ trợ của JICA. Từ khung dự án vùng hiện có, Điện Biên có thể tiếp tục cụ thể hóa văn kiện dự án cấp tỉnh, xác định diện tích rừng, mức tham chiếu và ranh giới dự án.

Nông lâm kết hợp và cây phân tán (AFP), nhất là các mô hình gắn với mắc ca và cà phê, cũng được đánh giá có triển vọng.

Mắc ca đang được tỉnh định hướng mở rộng lên khoảng 40.000 ha vào năm 2030. Loại cây này vừa góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc, vừa tạo sản phẩm hàng hóa, có khả năng được hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng và tạo tín chỉ carbon.

Cà phê tập trung tại Mường Ảng, Tuần Giáo, Búng Lao, Quài Tở, nơi đã xuất hiện các mô hình trồng xen mắc ca, tạo tiền đề cho mô hình nông lâm kết hợp cà phê - mắc ca - cây bóng mát.

Đối với trồng rừng mới và xúc tiến tái sinh (A/R), tiềm năng vẫn còn nhưng quỹ đất bị thu hẹp do cạnh tranh với cây lâu năm. Phần đất còn lại chủ yếu là đất xấu, đất dốc, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn để hình thành dự án tín chỉ.

Mô hình nuôi dưỡng, làm giàu rừng tự nhiên (IFM-N) cũng có tiềm năng nếu xác định được diện tích rừng nghèo, nghèo kiệt đủ điều kiện. Tuy nhiên, trước khi xây dựng dự án cần điều tra, phân loại cụ thể trạng thái rừng. Đối với IFM-P, diện tích rừng trồng của Điện Biên còn nhỏ nên được đánh giá ít tiềm năng hơn.

Từ những điều kiện hiện có, ông Trần Lâm Đồng đề xuất Điện Biên ưu tiên REDD+ và AFP trong giai đoạn đầu; A/R và IFM-N có thể được nghiên cứu trong trung hạn sau khi hoàn thành điều tra cơ bản về trạng thái rừng và quỹ đất.

Để biến tiềm năng thành những dự án có khả năng tạo tín chỉ, tỉnh cần hoàn thiện dữ liệu về rừng, đất lâm nghiệp và quyền quản lý, sử dụng.

Hiện Điện Biên chưa có số liệu công bố chi tiết về trạng thái rừng tự nhiên theo các nhóm giàu, trung bình, nghèo, nghèo kiệt và phục hồi. Đây là cơ sở quan trọng để xác định mức tham chiếu cho REDD+ và IFM-N. Công tác đo đạc bản đồ địa chính cấp xã cũng chưa hoàn thành.

Đối với AFP, một phần diện tích mắc ca và cà phê đang được trồng trên đất quy hoạch rừng phòng hộ, rừng sản xuất hoặc đất nương rẫy chưa được cấp quyền sử dụng đất ổn định.

Do đó, việc rà soát, xử lý chồng lấn giữa quy hoạch rừng với diện tích cây lâu năm và hoàn thiện hồ sơ giao đất, giao rừng là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm điều kiện pháp lý cho việc xây dựng dự án.

Năng lực đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) tại địa phương cũng cần tiếp tục được nâng cao.

Theo ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững, dự án carbon phải bảo đảm quyền sử dụng hợp pháp đối với đất và rừng, có ranh giới rõ ràng trên bản đồ, dữ liệu phục vụ tính toán carbon đầy đủ, chính xác, nhất quán và minh bạch. Dự án cũng phải tuân thủ phương pháp tính toán carbon, được bên thứ ba độc lập đủ điều kiện thẩm định, xác minh, đăng ký và cấp tín chỉ theo quy định.

Từ yêu cầu này, Điện Biên được đề xuất xây dựng Đề án phát triển thị trường carbon rừng của tỉnh, làm cơ sở pháp lý và kỹ thuật cho quá trình triển khai.

Trọng tâm của Đề án là rà soát, điều tra bổ sung hiện trạng rừng, nhất là rừng tự nhiên nghèo và nghèo kiệt; xác định ranh giới quỹ đất trống, đồi núi trọc; khoanh vùng ưu tiên cho từng loại hình dự án; xử lý chồng lấn giữa quy hoạch rừng với diện tích mắc ca, cà phê và hoàn thiện hồ sơ giao đất, giao rừng.

Theo đề xuất, trong giai đoạn 2026 - 2027, tỉnh tập trung xây dựng Đề án, hoàn thiện dữ liệu nền và triển khai dự án thí điểm. Giai đoạn 2028 - 2030 sẽ đăng ký các dự án chính thức theo Tiêu chuẩn quốc gia và thủ tục hành chính.

Trước mắt, REDD+ trong khuôn khổ Dự án GCF được xem là hướng có thể tận dụng nền tảng sẵn có. Điện Biên có thể phối hợp với JICA và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng văn kiện dự án, xác định diện tích rừng tự nhiên tham gia, mức tham chiếu và cơ chế quản lý tài chính; ưu tiên khu vực có diện tích rừng tự nhiên lớn và dữ liệu thuận lợi cho theo dõi biến động rừng.

Song song đó, tỉnh có thể thí điểm AFP tại các vùng mắc ca, cà phê tập trung như Tuần Giáo, Mường Ảng, Mường Mùn, Quài Tở và Búng Lao. Các mô hình cần hoàn thiện hồ sơ đất đai, tổ chức liên kết giữa các chủ rừng, thiết kế mô hình nông lâm kết hợp đáp ứng yêu cầu về tín chỉ carbon và tạo thêm lợi ích cho người dân từ nông sản, dịch vụ môi trường rừng và tín chỉ carbon.

Đến năm 2030, Điện Biên đặt mục tiêu trồng mới 1.000 ha rừng tập trung, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh gần 52.000 ha rừng tự nhiên, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên khoảng 47%, phát triển khoảng 1.000 ha cây dược liệu; mở rộng mắc ca lên khoảng 40.000 ha và phát triển khoảng 20.900 ha cà phê theo hướng sản xuất bền vững.

Những định hướng này có thể tạo sự gắn kết giữa phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trường và thị trường carbon.

Với tiềm năng rừng lớn cùng sự hỗ trợ của Trung ương, sự chỉ đạo của tỉnh, phối hợp giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương, sự đồng thuận của người dân cũng như các chương trình, dự án quốc tế, Điện Biên được kỳ vọng có thể trở thành địa phương tiên phong tại khu vực Tây Bắc trong phát triển tín chỉ carbon gắn với bảo vệ rừng, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Hải Đăng