Gỡ nút thắt tài chính cho xử lý nước thải

An ninh nguồn nước - Ngày đăng : 13:30, 15/08/2026

Pháp luật về tài nguyên nước ngày càng đặt ra yêu cầu cao đối với thu gom, xử lý, tuần hoàn và tái sử dụng nước thải. Tuy nhiên, dòng tiền cho cả hệ thống vẫn chưa theo kịp yêu cầu. Khi giá dịch vụ chưa phản ánh đầy đủ chi phí, nguồn thu chưa đủ sức nuôi hệ thống, bài toán xử lý nước thải khó có thể giải quyết căn cơ.
An ninh nguồn nước

Gỡ nút thắt tài chính cho xử lý nước thải

Minh An • 15/08/2026 13:30

Pháp luật về tài nguyên nước ngày càng đặt ra yêu cầu cao đối với thu gom, xử lý, tuần hoàn và tái sử dụng nước thải. Tuy nhiên, dòng tiền cho cả hệ thống vẫn chưa theo kịp yêu cầu. Khi giá dịch vụ chưa phản ánh đầy đủ chi phí, nguồn thu chưa đủ sức nuôi hệ thống, bài toán xử lý nước thải khó có thể giải quyết căn cơ.

Từ yêu cầu pháp luật đến khoảng trống tài chính

Nước thải đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn đối với quá trình phát triển đô thị, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh nguồn nước.

Theo thông tin báo cáo của Đoàn giám sát Quốc hội năm 2025, tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý mới đạt khoảng 18%. Con số này cho thấy phần lớn nước thải đô thị vẫn chưa được xử lý đầy đủ trước khi thải ra môi trường. Tỷ lệ này đã tăng so với khoảng 14% năm 2020, nhưng vẫn còn khoảng cách rất lớn so với yêu cầu thực tế.

nuoc-thai.jpg
Ảnh minh họa

Đáng chú ý, vấn đề không chỉ nằm ở việc thiếu nhà máy xử lý. Một hệ thống xử lý nước thải muốn hoạt động hiệu quả phải có cả mạng lưới thu gom, trạm bơm, nhà máy xử lý, hệ thống quan trắc, xử lý bùn thải và nguồn kinh phí thường xuyên cho điện, hóa chất, nhân công, bảo trì, sửa chữa, thay thế thiết bị. Chỉ cần một mắt xích thiếu nguồn lực, hiệu quả của toàn hệ thống sẽ bị ảnh hưởng.

Trong khi đó, yêu cầu pháp luật đang ngày càng cao. Luật Tài nguyên nước năm 2023 nghiêm cấm xả nước thải vào nguồn nước dưới đất và xả nước thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường vào nguồn nước mặt, nước biển. Luật đồng thời đưa chức năng nguồn nước trở thành một trong những căn cứ để lựa chọn giải pháp bảo vệ, cải tạo, phục hồi nguồn nước và xem xét các dự án có hoạt động xả nước thải.

Đặc biệt, Điều 59 Luật Tài nguyên nước 2023 đã đặt vấn đề tuần hoàn, tái sử dụng nước ở một tầm cao hơn. Các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có khai thác, sử dụng nước và xả nước thải tại khu vực nguồn nước mặt không còn khả năng chịu tải phải có giải pháp sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước hoặc phương án xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu trước khi xả vào nguồn tiếp nhận. Luật cũng quy định các dự án thực hiện giải pháp tuần hoàn, tái sử dụng nước được xem xét giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Như vậy, tư duy quản lý đã có bước chuyển từ “xử lý nước thải để đạt quy chuẩn” sang quản lý nước theo chức năng, khả năng chịu tải của nguồn nước và hướng tới tuần hoàn, tái sử dụng.

Nhưng để những yêu cầu đó trở thành hiện thực, cần một yếu tố không thể thiếu: Nguồn lực tài chính.

Chi phí lớn, nguồn thu chưa đủ sức nuôi hệ thống


Xử lý nước thải là một dịch vụ có chi phí cao. Không chỉ có khoản tiền đầu tư ban đầu để xây dựng nhà máy, hệ thống còn phát sinh chi phí thường xuyên trong suốt vòng đời vận hành.

Đó là chi phí điện năng, hóa chất, nhân lực, quan trắc, xử lý bùn, bảo dưỡng thiết bị, sửa chữa đường ống, trạm bơm và khấu hao công trình. Với những hệ thống lớn, đây là khoản chi thường xuyên rất đáng kể.

Theo các chuyên gia, chi phí xử lý nước thải sinh hoạt có thể lên tới khoảng 12.000-13.000 đồng/m³, thậm chí cao hơn trong một số trường hợp.

Trong khi đó, cần phân biệt rõ phí bảo vệ môi trường đối với nước thải với giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải.

Theo Nghị định 346/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt được xác định ở mức 10% giá bán 1 m³ nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng; trường hợp cần thiết, HĐND cấp tỉnh có thể quyết định mức phí cao hơn.

Điều đáng lưu ý là phí bảo vệ môi trường không đồng nghĩa với giá dịch vụ xử lý nước thải. Hai khoản thu có mục đích và cơ chế quản lý khác nhau.

Bởi vậy, nếu chỉ dựa vào khoản phí tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá nước sạch thì rất khó tạo ra nguồn lực đủ lớn để vận hành toàn bộ chuỗi dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải.

Đây chính là khoảng trống tài chính đang đặt ra đối với nhiều địa phương.

Một nhà máy xử lý nước thải có thể được đầu tư bằng nguồn vốn rất lớn, nhưng sau khi hoàn thành, câu hỏi khó hơn lại xuất hiện: Ai trả tiền cho chi phí vận hành trong 20-30 năm tiếp theo?

Nếu câu hỏi này chưa có lời giải, nguy cơ là công trình được đầu tư nhưng hoạt động không hết công suất; việc bảo trì, sửa chữa bị trì hoãn; thiết bị xuống cấp nhưng không có kinh phí thay thế. Khi đó, hiệu quả môi trường của khoản đầu tư ban đầu cũng bị suy giảm.

Không thể xử lý nước thải bằng “tư duy xây nhà máy”


Thực tế cho thấy, giải quyết bài toán nước thải không thể chỉ tập trung vào đầu tư thêm nhà máy.

Một nhà máy xử lý dù hiện đại đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu phía trước không có mạng lưới thu gom đồng bộ. Ngược lại, mạng lưới thu gom được đầu tư nhưng nhà máy hoạt động dưới công suất cũng tạo ra sự lãng phí nguồn lực.

Đây là lý do cơ chế tài chính cần được thiết kế cho toàn bộ chuỗi dịch vụ nước thải, từ thu gom, vận chuyển đến xử lý, xử lý bùn, quan trắc và tái sử dụng nước.

Hiện nay, một trong những khó khăn là giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải ở nhiều nơi chưa phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý của toàn bộ chuỗi dịch vụ. Phần chênh lệch vì thế vẫn phải trông chờ vào ngân sách nhà nước.

Cách làm này giúp bảo đảm an sinh và duy trì dịch vụ trong những điều kiện nhất định, nhưng nếu kéo dài sẽ tạo áp lực lớn lên ngân sách địa phương, đồng thời làm giảm động lực thu hút nguồn vốn tư nhân.

Với một dự án xử lý nước thải, nhà đầu tư cần nhìn thấy dòng tiền ổn định trong thời gian dài. Nếu doanh thu phụ thuộc vào mức giá thấp, ngân sách bù thiếu nhưng chưa có cơ chế cam kết rõ ràng, thời gian hoàn vốn kéo dài và rủi ro cao, thì rất khó kỳ vọng khu vực tư nhân tham gia mạnh mẽ.

Đây cũng là một trong những lý do các dự án xử lý nước thải có tính chất xã hội cao nhưng lại không dễ trở thành những dự án có phương án tài chính hấp dẫn.

Giá nước thải thấp cũng làm giảm động lực tái sử dụng


Một nghịch lý khác đang xuất hiện. Luật Tài nguyên nước đã khuyến khích sử dụng nước tuần hoàn, tái sử dụng nước; thậm chí trong một số trường hợp còn đặt ra yêu cầu phải có giải pháp tuần hoàn, tái sử dụng.

Tuy nhiên, để tái sử dụng nước thải, doanh nghiệp phải đầu tư thêm hệ thống xử lý chuyên sâu, đường ống riêng, thiết bị kiểm soát chất lượng và chi phí vận hành.

Nếu giá nước sạch và chi phí khai thác nguồn nước mới vẫn thấp hơn đáng kể so với chi phí xử lý để tái sử dụng, doanh nghiệp sẽ khó có động lực kinh tế để đầu tư.

Nói cách khác, chính sách đã phát tín hiệu “hãy tiết kiệm và tái sử dụng nước”, nhưng tín hiệu giá chưa đủ mạnh để biến yêu cầu đó thành một lựa chọn kinh tế hấp dẫn.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận không chỉ từ góc độ môi trường mà cả từ góc độ kinh tế.

Nước thải, nếu được xử lý đúng cách, không hoàn toàn là “chất thải”. Nó có thể trở thành một nguồn tài nguyên thứ cấp cho sản xuất, tưới cây, làm mát, vệ sinh công nghiệp hoặc những mục đích phù hợp khác.

Muốn thúc đẩy thị trường nước tuần hoàn, cần làm cho việc tái sử dụng nước có lợi ích kinh tế rõ ràng hơn so với khai thác và sử dụng nguồn nước mới.

Điểm mấu chốt hiện nay không đơn thuần là tăng phí nước thải, mà là thiết kế lại cơ chế tài chính cho toàn bộ lĩnh vực.

Trước hết, cần từng bước tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải, đồng thời có lộ trình điều chỉnh phù hợp với khả năng chi trả của người dân.

Trong quá trình đó, cần tách bạch giữa giá dịch vụ và chính sách an sinh. Không nên duy trì giá dịch vụ thấp cho tất cả người sử dụng chỉ để bảo đảm khả năng chi trả của một bộ phận hộ nghèo. Thay vào đó, có thể thiết kế cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ chính sách và những nhóm dễ bị tổn thương.

Thứ hai, cần nghiên cứu cơ chế để nguồn thu từ dịch vụ nước thải được sử dụng đúng mục đích, minh bạch và có khả năng quay trở lại đầu tư cho hệ thống. Khi người dân và doanh nghiệp nhìn thấy khoản tiền mình chi trả thực sự được sử dụng để duy trì, nâng cấp dịch vụ, mức độ chấp nhận xã hội sẽ cao hơn.

Thứ ba, cần tạo cơ chế chia sẻ rủi ro đủ rõ để thu hút khu vực tư nhân. Với những dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, Nhà nước cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ phù hợp, cơ chế thanh toán dài hạn và cam kết về sản lượng hoặc chất lượng dịch vụ, thay vì chỉ kỳ vọng doanh nghiệp tự cân đối toàn bộ bài toán tài chính.

Thứ tư, cần có chính sách tài chính đủ hấp dẫn cho các dự án tuần hoàn, tái sử dụng nước. Việc Luật Tài nguyên nước cho phép xem xét giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với dự án thực hiện giải pháp tuần hoàn, tái sử dụng nước là một tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện các công cụ tài chính khác để giảm chi phí đầu tư ban đầu và rút ngắn thời gian hoàn vốn cho doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần thực hiện tốt hơn nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Luật Tài nguyên nước 2023 đã quy định kinh phí phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm có thể đến từ nguồn chi trả của đối tượng gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm, bên cạnh ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác.

Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ thực sự có ý nghĩa khi chi phí gây ô nhiễm được nhận diện và lượng hóa đầy đủ, cơ chế thu - chi minh bạch và nguồn tiền đủ lớn để phục hồi những gì đã bị tổn hại.

Đừng để thiếu tiền vận hành làm lãng phí tiền đầu tư


Việt Nam đang bước vào giai đoạn mà yêu cầu bảo vệ tài nguyên nước không thể chỉ dừng ở việc xây thêm công trình xử lý. Mục tiêu phải là xây dựng một hệ thống nước thải hoạt động ổn định, bền vững về tài chính và từng bước chuyển từ xử lý sang tuần hoàn, tái sử dụng.

Con số khoảng 18% nước thải đô thị được thu gom, xử lý cho thấy khoảng cách vẫn còn rất lớn. Chính Quốc hội cũng đã chỉ ra rằng hạ tầng thu gom, xử lý nước thải đô thị chưa được đầu tư đồng bộ, trong khi ngân sách địa phương còn hạn chế và công nghệ xử lý tiên tiến có chi phí cao.

Vì vậy, câu chuyện của nước thải hôm nay không chỉ là câu chuyện về công nghệ hay hạ tầng.

Đó còn là câu chuyện về giá, phí, ngân sách, đầu tư tư nhân và cách phân bổ trách nhiệm tài chính.

Pháp luật đã mở đường cho quản lý nước theo chức năng nguồn nước, khả năng chịu tải, tuần hoàn và tái sử dụng. Nhưng nếu dòng tiền không đi cùng chính sách, những yêu cầu tiến bộ đó sẽ khó đi vào cuộc sống.

Muốn những dòng sông được phục hồi, những nhà máy xử lý nước thải hoạt động bền vững và nước thải thực sự trở thành một phần của nền kinh tế tuần hoàn, cần bắt đầu từ một việc rất thực tế: thiết kế một cơ chế tài chính đủ mạnh để nuôi sống cả hệ thống.

Minh An