Việt Nam tại UNCCD COP17: Mở rộng nguồn lực tài chính cho phục hồi rừng, đất đai

Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 11:05, 23/08/2026

Hội nghị lần thứ 17 các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD COP17) diễn ra tại Thủ đô Ulaanbaatar, Mông Cổ từ ngày 17 - 28/8/2026, với chủ đề “Phục hồi đất đai, Khơi nguồn hy vọng”. Sự kiện quy tụ đại diện 197 quốc gia thành viên cùng giới khoa học, các tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp.
Tài nguyên và phát triển

Việt Nam tại UNCCD COP17: Mở rộng nguồn lực tài chính cho phục hồi rừng, đất đai

Hải Đăng • 23/08/2026 11:05

Hội nghị lần thứ 17 các bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD COP17) diễn ra tại Thủ đô Ulaanbaatar, Mông Cổ từ ngày 17 - 28/8/2026, với chủ đề “Phục hồi đất đai, Khơi nguồn hy vọng”. Sự kiện quy tụ đại diện 197 quốc gia thành viên cùng giới khoa học, các tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc tham dự UNCCD COP17 tiếp tục thể hiện cam kết của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về phục hồi đất, ngăn chặn suy thoái tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Việt Nam đẩy mạnh phục hồi rừng, chống suy thoái đất

Việt Nam gia nhập UNCCD từ năm 1998. Sau gần 30 năm thực hiện các cam kết, mục tiêu chống sa mạc hóa và suy thoái đất ngày càng được gắn với chính sách lâm nghiệp, quản lý đất đai, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế.

Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng khi nhiều khu vực trong nước đang chịu tác động đồng thời của hạn hán, xói mòn đất dốc, xâm nhập mặn, sạt lở và suy giảm chất lượng đất.

capture(7).jpg
Ảnh minh họa

Trong các giải pháp ứng phó, rừng được xem như một dạng “hạ tầng tự nhiên”, góp phần giữ nước, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, sạt lở và điều hòa khí hậu. Cùng với đó, trong quá trình thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng ngày càng được xác định rõ về giá trị.

Những năm qua, Việt Nam triển khai nhiều chương trình phục hồi rừng, Đề án “Trồng 1 tỷ cây xanh” và Chiến lược phát triển lâm nghiệp, qua đó duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 42%. Đây là một trong những nền tảng sinh thái quan trọng góp phần giữ nước ngầm, chống sạt lở và hạn chế thoái hóa đất.

Tại các khu vực có điều kiện khô hạn, nhiều giải pháp lâm nghiệp thích ứng cũng được triển khai. Trong đó có phục hồi, mở rộng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn cát ven biển tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ; đồng thời bảo vệ đất dốc và hạn chế xói mòn ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Cùng với phục hồi rừng, Việt Nam thúc đẩy các mô hình sinh kế bền vững và nông lâm kết hợp. Các mô hình canh tác nông - lâm kết hợp thích ứng biến đổi khí hậu, tăng cường cây che phủ đất và phát triển cây dược liệu dưới tán rừng được mở rộng, vừa tạo thêm thu nhập cho người dân vừa góp phần bảo vệ tài nguyên đất.

Việc hoàn thiện thể chế và xây dựng các cơ chế tài chính xanh cũng được chú trọng. Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, lồng ghép mục tiêu tự nguyện cân bằng suy thoái đất vào quy hoạch lâm nghiệp quốc gia và các kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đồng thời, Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được ban hành, tạo thêm cơ sở để triển khai các mục tiêu phục hồi đất và bảo vệ tài nguyên rừng.

Giá trị carbon rừng gắn với lợi ích của người giữ rừng

Tuy nhiên, việc sở hữu diện tích rừng lớn không đồng nghĩa Việt Nam mặc nhiên có thể tạo ra và đưa tín chỉ carbon lên thị trường. Tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026 với chủ đề “Từ chính sách đến hành động”, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết điều kiện tiên quyết để hình thành giá trị carbon từ rừng là phải xác định được lượng carbon hấp thụ hoặc lượng phát thải được giảm.

Ông nhấn mạnh: “Muốn bán được carbon thì trước hết phải chứng minh được mình có bao nhiêu carbon”.

Theo ông Phạm Hồng Lượng, ngành lâm nghiệp có lợi thế nhờ đã duy trì hoạt động điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng trong nhiều năm. Hệ thống dữ liệu này là cơ sở để tính toán lượng giảm phát thải, trước khi kết quả được thẩm định và xác minh.

Một bước tiến quan trọng về cơ chế chính sách là Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026. Văn bản này tạo hành lang pháp lý riêng cho dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng, bao gồm đối tượng, hình thức, mức chi trả; quản lý và sử dụng nguồn tiền; dự án carbon rừng; xác định kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được cung ứng.

Theo quy định, việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng không được làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.

Giá trao đổi hoặc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon có thể được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon theo quy định.

Khung pháp lý mới cũng tạo điều kiện để chủ rừng hợp tác với doanh nghiệp, nhà đầu tư và các đơn vị trung gian trong quá trình xây dựng, đăng ký, đo đạc, thẩm định và triển khai dự án carbon rừng.

Đi cùng với cơ hội mở rộng nguồn thu là yêu cầu cao hơn về tính minh bạch của dữ liệu, quyền đối với kết quả giảm phát thải và cơ chế phân chia lợi ích. Thực tế triển khai Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ là một ví dụ.

Trong kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh và được Ngân hàng Thế giới (WB) công nhận 16,2 triệu tấn CO₂ giảm phát thải. Trên cơ sở đó, Việt Nam thực hiện hai lần chuyển nhượng với tổng khối lượng 11,3 triệu tấn, thu về 56,5 triệu USD.

Cơ chế phân bổ nguồn thu được xây dựng trên kinh nghiệm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó phần lớn nguồn kinh phí được đưa trở lại cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi.

Khoảng 80.000 chủ rừng đã được hưởng lợi từ nguồn tiền này, gồm khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng.

Kết quả trên cho thấy carbon rừng không chỉ mang lại giá trị trong thực hiện các mục tiêu giảm phát thải mà còn có thể trở thành nguồn lực tài chính bổ sung cho bảo vệ rừng, phục hồi đất và cải thiện sinh kế của các cộng đồng gắn bó với rừng.

Việc Việt Nam tham gia UNCCD COP17 vì vậy không chỉ tiếp tục khẳng định trách nhiệm trong thực hiện các cam kết quốc tế về chống sa mạc hóa và suy thoái đất, mà còn mở ra cơ hội tăng cường hợp tác, huy động nguồn lực tài chính xanh cho phục hồi hệ sinh thái và phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững.

Hải Đăng