Cần Thơ mở rộng không gian kinh tế biển, hướng tới phát triển xanh
Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 09:00, 23/09/2026
Cần Thơ mở rộng không gian kinh tế biển, hướng tới phát triển xanh
UBND TP Cần Thơ vừa công bố Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025, qua đó cung cấp cơ sở đánh giá chất lượng môi trường, hệ sinh thái và các nguồn gây tác động, đồng thời định hướng quản lý, khai thác không gian biển theo hướng xanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Mở rộng không gian biển, gia tăng dư địa phát triển
Sau sáp nhập, TP Cần Thơ có khoảng 72 km đường bờ biển, trải dài qua 6 xã, phường gồm Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề và Vĩnh Hải. Không gian ven biển của thành phố kết nối trực tiếp với Biển Đông thông qua 3 cửa sông lớn là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh.
Theo báo cáo, việc hình thành không gian biển và ven biển mới tạo thêm dư địa phát triển cho Cần Thơ, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế biển, logistics, cảng biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, cũng như năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, đây cũng là khu vực có hệ sinh thái đặc thù và nhạy cảm với các tác động môi trường. Rừng ngập mặn, bãi triều và vùng cửa sông Hậu không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học mà còn góp phần điều hòa khí hậu, giảm tác động của thiên tai và hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng ven biển.
Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021-2025 vì vậy đặt yêu cầu quản lý không gian biển theo hướng kết hợp giữa khai thác tiềm năng phát triển và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên.
Thủy sản và logistics tạo động lực cho kinh tế biển
Thủy sản hiện tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các địa phương ven biển Cần Thơ.
Năm 2025, sản lượng thủy sản tại các địa phương ven biển đạt quy mô lớn. Xã Trần Đề dẫn đầu với khoảng 81.514 tấn, tiếp đến là xã Cù Lao Dung với khoảng 29.580 tấn.
Nuôi tôm nước lợ tiếp tục là ngành sản xuất chủ lực. Riêng phường Vĩnh Phước hiện có hơn 3.500 ha nuôi tôm thẻ chân trắng, sản lượng trên 23.700 tấn. Các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và bán thâm canh cũng được phát triển tại Vĩnh Châu, Lai Hòa và Vĩnh Hải.
Cùng với nuôi trồng, hoạt động khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá đang hình thành chuỗi kinh tế biển có quy mô ngày càng lớn.
Xã Trần Đề được xác định là một trong những trung tâm logistics nghề cá của khu vực ĐBSCL. Năm 2025, địa phương ghi nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng, với tổng sản lượng hàng hóa thông qua cảng khoảng 156.100 tấn, trong đó thủy sản khoảng 89.000 tấn.
Những kết quả này được xem là cơ sở để Cần Thơ tiếp tục nghiên cứu, định hướng phát triển cảng biển nước sâu Trần Đề, hướng tới hình thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng ĐBSCL.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng các hoạt động kinh tế biển, áp lực lên môi trường cũng được dự báo sẽ tăng. Nước thải, chất thải rắn từ đô thị, hoạt động nuôi trồng thủy sản, cảng biển, tàu thuyền và các hoạt động khai thác tài nguyên có thể tạo ra những tác động tích lũy đối với hệ sinh thái ven biển nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Chất lượng nước biển được duy trì ổn định
Một trong những nội dung đáng chú ý của báo cáo là kết quả quan trắc môi trường nước biển ven bờ.
Hiện TP Cần Thơ duy trì quan trắc nước biển ven bờ tại 5 điểm, với tần suất 2 tháng/lần. Kết quả quan trắc năm 2025 cho thấy chất lượng nước biển tại các điểm quan trắc cơ bản ổn định và có xu hướng cải thiện.
Đây là cơ sở quan trọng để thành phố tiếp tục kiểm soát các nguồn thải và theo dõi diễn biến môi trường trong bối cảnh các hoạt động kinh tế ven biển được mở rộng.
Năm 2025, Cần Thơ đã phân bổ hơn 600 tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường. Trong đó, các nhiệm vụ liên quan đến môi trường biển tập trung vào quan trắc, phục hồi rừng phòng hộ ven biển và quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.
Dù chất lượng môi trường biển hiện được đánh giá tương đối ổn định, báo cáo cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục kiểm soát nguồn thải từ đất liền, chất thải trong hoạt động sản xuất, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ ven biển.
Trong giai đoạn 2026-2030, Cần Thơ xác định bảo vệ môi trường biển phải được triển khai song hành với phát triển kinh tế biển.
Một trong những nhiệm vụ được ưu tiên là hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải và chất thải; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải; hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần; thúc đẩy sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Đối với tài nguyên sinh vật biển, thành phố định hướng tăng cường quản lý nghề cá, kiểm soát khai thác IUU, phục hồi nguồn lợi và sinh cảnh thủy sản. Công tác phục hồi rừng ngập mặn, quản lý tổng hợp vùng bờ cũng được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Đáng chú ý, Cần Thơ định hướng kết hợp các công trình phòng, chống sạt lở với giải pháp dựa vào thiên nhiên, qua đó vừa bảo vệ khu dân cư và hạ tầng ven biển, vừa duy trì chức năng của các hệ sinh thái tự nhiên.
Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị và các xã ven biển đạt trên 95%; đồng thời trồng và phục hồi khoảng 250 ha rừng phòng hộ ven biển.
Phát triển năng lượng sạch, hướng tới kinh tế biển xanh
Cùng với giao thông, logistics và các khu kinh tế biển, Cần Thơ định hướng mở rộng các lĩnh vực kinh tế mới, trong đó có năng lượng sạch, ưu tiên điện gió ngoài khơi.
Việc phát triển năng lượng tái tạo được đặt trong yêu cầu bảo đảm sử dụng hợp lý không gian biển, đánh giá đầy đủ các tác động môi trường và bảo vệ hệ sinh thái trong quá trình triển khai dự án.
Đối với hoạt động khai thác tài nguyên biển, thành phố tăng cường quản lý, trong đó có khai thác cát biển, gắn với đánh giá tác động môi trường, kiểm soát quá trình khai thác và yêu cầu phục hồi môi trường sau khai thác.
Theo định hướng được nêu trong báo cáo, phát triển không gian biển Cần Thơ trong những năm tới không chỉ nhằm khai thác các lợi thế về vị trí địa lý, thủy sản, cảng biển và logistics, mà còn phải bảo đảm khả năng duy trì lâu dài của các hệ sinh thái và nguồn tài nguyên.
Với cách tiếp cận này, Cần Thơ hướng tới hình thành hành lang kinh tế biển xanh, trong đó tăng trưởng kinh tế được đặt song hành với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên biển và thích ứng với biến đổi khí hậu.
