Tín chỉ các-bon mang về hơn 384 tỷ đồng cho Quảng Trị
Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 19:00, 25/09/2026
Tín chỉ các-bon mang về hơn 384 tỷ đồng cho Quảng Trị
Đến tháng 8/2026, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã chi trả hơn 384 tỷ đồng từ nguồn chuyển nhượng tín chỉ các-bon, đạt gần 96% kế hoạch giai đoạn 2023-2026. Nguồn kinh phí này đang góp phần hỗ trợ bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế và nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong giảm phát thải khí nhà kính.
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị, trong giai đoạn 2023-2026, tổng nguồn thu từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) trên địa bàn tỉnh đạt hơn 403 tỷ đồng. Trong đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam điều phối hơn 402 tỷ đồng.
Tính đến tháng 8/2026, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã thực hiện chi trả hơn 384 tỷ đồng cho các đối tượng được hưởng lợi từ nguồn chuyển nhượng tín chỉ các-bon, đạt gần 96% kế hoạch của cả giai đoạn.

Nguồn kinh phí được phân bổ đến nhiều nhóm đối tượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng, gồm các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; các công ty nông, lâm nghiệp; UBND cấp xã được giao quản lý rừng; lực lượng vũ trang; doanh nghiệp tư nhân cùng các hộ gia đình, cá nhân.
Tín chỉ các-bon tạo thêm nguồn lực giữ rừng
Theo cơ chế chi trả giảm phát thải, nguồn kinh phí từ chuyển nhượng tín chỉ các-bon được sử dụng cho nhiều hoạt động gắn trực tiếp với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, một phần kinh phí được dành cho các hoạt động lâm nghiệp gián tiếp nhằm góp phần giảm phát thải khí nhà kính; hỗ trợ bảo vệ rừng tự nhiên, thực hiện các biện pháp lâm sinh; đồng thời hỗ trợ phát triển sinh kế cho cộng đồng và nâng cao hiệu quả quản lý rừng.
Bên cạnh nguồn lực dành cho các hoạt động trực tiếp, Quỹ cũng triển khai công tác truyền thông, đào tạo và tập huấn nhằm nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng và các chủ thể liên quan về bảo vệ rừng, giảm phát thải và thực hiện chính sách tài chính các-bon.
Việc đa dạng hóa các nội dung sử dụng nguồn kinh phí không chỉ tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ rừng mà còn hướng tới việc gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích thiết thực của những cộng đồng đang sinh sống và phụ thuộc vào rừng.
Hướng lợi ích về cộng đồng sống gần rừng
Sau 3 năm triển khai, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị cho biết việc thực hiện chi trả nguồn chuyển nhượng tín chỉ các-bon được triển khai theo hướng công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng quy định.
Đáng chú ý, nguồn kinh phí này đã tạo thêm nguồn lực hỗ trợ các hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực của cộng đồng tại các khu vực có rừng.
Đối với người dân sinh sống ở miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống gắn với rừng, các khoản chi trả từ nguồn tín chỉ các-bon được kỳ vọng tạo thêm động lực để cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, hạn chế các hành vi xâm hại tài nguyên rừng và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.
Cùng với các nguồn lực khác dành cho lâm nghiệp, chính sách chi trả giảm phát thải đang từng bước hình thành cơ chế gắn giữa bảo vệ rừng - giảm phát thải - tạo sinh kế - hưởng lợi từ giá trị các-bon.
Quảng Trị hiện duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 61%. Việc triển khai nguồn kinh phí từ chuyển nhượng tín chỉ các-bon được đánh giá là góp phần bổ sung nguồn lực cho quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, duy trì hệ sinh thái và nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng.
Thông qua cơ chế ERPA, giá trị của việc bảo vệ rừng và giảm phát thải từng bước được chuyển hóa thành nguồn lực tài chính phục vụ trở lại cho công tác lâm nghiệp và cộng đồng.
Đây cũng là một trong những hướng đi nhằm cụ thể hóa các cam kết của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời mở rộng các cơ chế tài chính mới cho lĩnh vực lâm nghiệp.
Với hơn 384 tỷ đồng đã được chi trả tính đến tháng 8/2026, nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ các-bon đang trở thành một nguồn lực đáng kể đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng tại Quảng Trị. Việc tiếp tục bảo đảm công khai, minh bạch trong phân bổ và sử dụng nguồn kinh phí, đồng thời tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương, sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì rừng tự nhiên và phát huy giá trị kinh tế, xã hội, môi trường của rừng trong thời gian tới.
