Bài 7: Hoàn thiện chính sách, nâng năng lực thích ứng với thiên tai – Góc nhìn chuyên gia

Nước và cuộc sống - Ngày đăng : 20:49, 21/09/2026

Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về an ninh nguồn nước khi biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất thường và cực đoan của thiên tai. Mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhanh và khó lường, trong khi hạn hán, thiếu nước và suy giảm nguồn nước cũng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội.
Nước và cuộc sống

Bài 7: Hoàn thiện chính sách, nâng năng lực thích ứng với thiên tai – Góc nhìn chuyên gia

Nga Nguyễn {Ngày xuất bản}

Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về an ninh nguồn nước khi biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất thường và cực đoan của thiên tai. Mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhanh và khó lường, trong khi hạn hán, thiếu nước và suy giảm nguồn nước cũng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội.

bia-lon.png

Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về an ninh nguồn nước khi biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất thường và cực đoan của thiên tai. Mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhanh và khó lường, trong khi hạn hán, thiếu nước và suy giảm nguồn nước cũng diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến đời sống dân cư, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội.

Trong bối cảnh đó, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện về bổ sung công trình trữ nước hay ứng phó khi thiên tai xảy ra, mà đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể từ hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo đến tăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng và địa phương. Từ thực tiễn và những vấn đề được đặt ra tại Hội thảo – Tọa đàm về tài nguyên nước khu vực miền Trung – Tây Nguyên, các chuyên gia, nhà quản lý đã đưa ra nhiều kiến nghị đáng chú ý.

Quản lý nhà nước và chiến lược tổng thể về an ninh nguồn nước

quan-ly.png

Tài nguyên nước không đơn thuần là một yếu tố đầu vào cho sản xuất, mà đã được khẳng định là nguồn lực cốt lõi định hình sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội. Giới chuyên gia và các nhà quản lý đồng thuận rằng, trước những biến động khắc nghiệt của thời tiết, tư duy khai thác truyền thống phải nhường chỗ cho mô hình quản trị tổng hợp đa ngành, đa mục tiêu.

Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, tài nguyên nước ngày càng được xác định là nguồn lực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển bền vững. Định hướng này thể hiện rõ qua Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các chủ trương, chính sách liên quan, trong đó trọng tâm là chuyển từ tư duy khai thác đơn thuần sang quản trị tổng hợp tài nguyên nước, đồng thời tăng cường phối hợp đa ngành, đa mục tiêu và phát huy các giá trị kinh tế, xã hội, sinh thái của nguồn nước.

Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa đối với miền Trung – Tây Nguyên, khu vực giữ vị trí quan trọng về kinh tế, sinh thái, quốc phòng – an ninh và liên kết vùng, đồng thời sở hữu hệ thống sông, hồ, nguồn nước dưới đất và các hệ sinh thái có giá trị lớn. Tuy nhiên, lợi thế về tài nguyên nước đang song hành với những sức ép ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và sự thiếu đồng bộ của hệ thống hạ tầng thủy lợi đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi căn bản phương thức quản lý.

Ông Hiển cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ, nước không thể chỉ được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên để khai thác và phân bổ cho từng ngành. Nguồn nước cần được đặt trong tổng thể quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh và duy trì sinh kế cộng đồng. Nói cách khác, chủ động nguồn nước phải trở thành một trong những điều kiện nền tảng để miền Trung – Tây Nguyên nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

ong-hien.png

Từ góc nhìn quản lý địa phương, ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, cho rằng bài toán này thể hiện khá rõ qua thực tiễn của địa phương. Với hệ thống sông lớn và hơn 1.200 công trình thủy lợi phục vụ sản xuất, dân sinh, Đắk Lắk có nền tảng nhất định để bảo đảm nguồn nước. Tuy nhiên, sự phân bố không đều theo mùa, dấu hiệu suy giảm nguồn nước dưới đất, nguy cơ ô nhiễm và những hạn chế của hạ tầng thủy lợi đang khiến khả năng khai thác và điều tiết nguồn nước chưa tương xứng với nhu cầu phát triển.

Đắk Lắk vì vậy định hướng đổi mới quản lý tài nguyên nước theo hướng hiện đại hơn, trong đó số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động và nâng cao khả năng theo dõi diễn biến nguồn nước được xem là những công cụ quan trọng. Cùng với đó, địa phương hướng tới các mô hình đầu tư đa mục tiêu, kết hợp quản lý và sử dụng nước với phát triển năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường bảo vệ hành lang nguồn nước. Cách tiếp cận này cho thấy quản trị nước không còn chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành tài nguyên hay thủy lợi, mà cần sự tham gia đồng bộ của chính quyền, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng.

Trong thời gian tới, Đắk Lắk sẽ tập trung đổi mới công tác quản lý tài nguyên nước theo hướng hiện đại và bền vững; đẩy mạnh số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động nhằm nâng cao khả năng theo dõi, quản lý nguồn nước. Tỉnh cũng định hướng thúc đẩy các mô hình đầu tư đa mục tiêu, gắn quản lý, sử dụng tài nguyên nước với phát triển năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ nghiêm ngặt hành lang nguồn nước.

"Chúng tôi kỳ vọng các diễn đàn như Hội thảo này sẽ tạo điều kiện để cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp thiết thực, phù hợp với thực tiễn. Qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước, phục vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy tăng trưởng xanh tại miền Trung – Tây Nguyên", đại diện tỉnh Đắk Lắk bày tỏ.

o.-thien-van.png

Ở góc độ khoa học, GS.TS. Phạm Quý Nhân, Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam cho rằng, nghịch lý lớn của miền Trung – Tây Nguyên nằm ở chỗ khu vực có nguồn tài nguyên nước tương đối phong phú nhưng lại thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu nước cục bộ. Các lưu vực Đồng Nai, Vu Gia – Thu Bồn, Srêpốk và Sê San có tổng lượng dòng chảy trung bình năm lần lượt khoảng 39,98 tỷ m³, 19,35 tỷ m³, 18,4 tỷ m³ và 12,84 tỷ m³. Tây Nguyên đồng thời có tiềm năng đáng kể về nước dưới đất, nhất là trong các tầng chứa nước bazan.

Vấn đề nằm ở sự phân bố nguồn nước không đồng đều cả theo không gian và thời gian. Khoảng 60 - 80% lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô có thể kéo dài 6 - 8 tháng. Đặc biệt tại khu vực Nam Trung Bộ, điều kiện khô hạn thuộc nhóm cao của cả nước khiến sự chênh lệch giữa mùa mưa và mùa khô càng trở nên rõ rệt. Vì vậy, một khu vực có tổng lượng nước không nhỏ vẫn có thể đồng thời đối mặt với thiếu nước sinh hoạt, sản xuất và nguy cơ xâm nhập mặn.

Áp lực càng lớn khi nhu cầu sử dụng nước tiếp tục tăng. Tây Nguyên hiện có khoảng 640.000 - 700.000 ha cà phê, hơn 80.000 ha hồ tiêu cùng diện tích đáng kể cao su và cây ăn quả. Đây đều là những ngành sản xuất phụ thuộc lớn vào nguồn nước tưới trong mùa khô. Trong khi đó, công nghiệp, đô thị và du lịch phát triển nhanh tại nhiều địa phương miền Trung tiếp tục làm gia tăng nhu cầu khai thác nước. Nhu cầu nước mùa cạn của khu vực được dự báo từ khoảng 67,7 tỷ m³/năm hiện nay có thể tăng lên khoảng 73,4 tỷ m³/năm vào năm 2050.

Biến đổi khí hậu vì thế không chỉ làm gia tăng nguy cơ thiếu nước mà còn khiến diễn biến nguồn nước trở nên khó dự báo hơn. Theo GS.TS. Phạm Quý Nhân, những đợt hạn hán nghiêm trọng tại Ninh Thuận, Bình Thuận hay các trận lũ lớn ở miền Trung cho thấy an ninh nguồn nước phải được nhìn nhận theo cả hai chiều: thiếu nước trong mùa khô và dư thừa, dòng chảy cực đoan trong mùa mưa. Cùng với đó, khai thác quá mức nước dưới đất và ô nhiễm từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp đang làm suy giảm thêm khả năng phục hồi của các nguồn nước.

Cần chuyển mạnh sang quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, thay cho cách tiếp cận phân tán theo địa giới và ngành sử dụng nước. Trọng tâm là bảo vệ rừng đầu nguồn, vận hành hiệu quả hồ chứa, kiểm soát khai thác nước dưới đất, tiết kiệm, tái sử dụng nước và nâng cao năng lực dự báo hạn hán, lũ lụt, kiểm soát ô nhiễm. Với các lưu vực liên vùng, liên quốc gia như Sê San, Srêpốk, cần tăng cường phối hợp quản lý. An ninh nguồn nước không chỉ dựa vào công trình mà còn cần năng lực dự báo, điều phối, phân bổ nguồn nước gắn với phát triển và bảo vệ hệ sinh thái.

quy-nhan.png

Nhìn rộng hơn, quản lý nguồn nước tại miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước yêu cầu chuyển từ ứng phó sang chủ động, từ xử lý từng vấn đề riêng lẻ sang quản trị tổng thể theo lưu vực và từ khai thác nguồn nước sang đầu tư cho năng lực bảo đảm nguồn nước. Đây cũng là nền tảng để khu vực vừa duy trì các ngành sản xuất phụ thuộc vào nước, vừa bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động ngày càng khó lường của khí hậu.

Giải pháp hạ tầng và thuỷ lợi xanh cho bài toán an ninh nguồn nước

ha-tang1.png

Để giải quyết bài toán thừa nước mùa mưa, thiếu trầm trọng mùa khô tại miền Trung – Tây Nguyên, các chuyên gia quan tâm đến nhóm giải pháp tập trung tối ưu hóa hạ tầng thủy lợi. Cốt lõi là phát triển mô hình “Thủy lợi xanh” tích hợp công nghệ số, bảo vệ rừng đầu nguồn, vận hành hồ chứa thông minh và tìm kiếm nguồn nước bền vững cho vùng cao.

An ninh nguồn nước tại miền Trung – Tây Nguyên không chỉ là câu chuyện của những lưu vực lớn mà còn hiện hữu rõ ở vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn còn hạn chế về hạ tầng cấp nước. Theo TS. Triệu Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, đây là những khu vực dễ bị tổn thương khi mùa khô kéo dài, nguồn nước phân bố không đều, trong khi địa hình chia cắt và dân cư phân tán khiến việc đầu tư, vận hành công trình cấp nước gặp nhiều khó khăn.

Chi phí đầu tư và vận hành cao, cùng hạn chế về nhân lực quản lý, bảo trì khiến không ít công trình chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Vì vậy, theo TS. Triệu Đức Huy, mục tiêu không chỉ là đưa nước đến với người dân mà phải lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp với đặc điểm từng địa bàn, bảo đảm khả năng vận hành ổn định và lâu dài. Chuyển đổi số trong quản lý, giám sát và vận hành được xem là công cụ quan trọng để giảm phụ thuộc vào phương thức thủ công, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nước.

Trong đó, nước dưới đất có thể trở thành nguồn nước chiến lược cho các vùng núi cao và khu vực khan hiếm nước vào mùa khô. Nếu được điều tra, đánh giá đầy đủ về trữ lượng, chất lượng và khả năng khai thác bền vững, nguồn nước này có thể cung cấp tương đối ổn định cho các trạm cấp nước quy mô nhỏ, cụm dân cư hoặc điểm công cộng. Việc kết hợp điện lưới với năng lượng mặt trời cho hệ thống bơm cũng có thể giảm chi phí và tăng tính chủ động của công trình.

Kết quả Dự án điều tra, tìm kiếm nguồn nước tại các vùng núi cao và khan hiếm nước cho thấy đến nay đã có 39/40 tỉnh triển khai. Trong 286 vùng được điều tra, 277 vùng được xác định đủ điều kiện khai thác với tổng lưu lượng khoảng 145.888 m³/ngày đêm, có khả năng cung cấp nước cho khoảng 1,46 triệu người. Dự án cũng đã triển khai 678 công trình lỗ khoan phục vụ tìm kiếm và khai thác nước dưới đất.

Từ kết quả này, TS. Triệu Đức Huy cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, ưu tiên đầu tư tại những khu vực thiếu nước nghiêm trọng và phát triển các mô hình cấp nước đa nguồn có giám sát trực tuyến. Đây là hướng tiếp cận giúp hạ tầng cấp nước thích ứng tốt hơn với biến động nguồn nước, đồng thời giảm chi phí vận hành và nâng cao tính bền vững.

duc-huymoi.png

Ở quy mô rộng hơn, những hạn chế về hạ tầng đang diễn ra cùng lúc với sức ép ngày càng lớn lên toàn bộ hệ thống nguồn nước Tây Nguyên. PGS.TS. Dương Hồng Sơn, Viện Khoa học Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia cho rằng, khu vực đang chịu tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, suy giảm rừng đầu nguồn và nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong sản xuất, sinh hoạt.

Tây Nguyên hiện thuộc phạm vi 4 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, có diện tích hơn 54.500 km², dân số khoảng 6,2 triệu người. Khu vực có 4 hệ thống sông lớn gồm Ba, Sê San, Srêpốk và thượng nguồn Đồng Nai, với tổng lượng dòng chảy mặt khoảng 56 tỷ m³/năm và trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất khoảng 6,75 tỷ m³/năm.

Tuy nhiên, tổng lượng nước tương đối lớn không đồng nghĩa với khả năng bảo đảm nguồn nước quanh năm. Phần lớn dòng chảy tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau thường xuyên xảy ra thiếu nước. Dù lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.600 - 2.500 mm, khả năng tích trữ và điều tiết vẫn còn hạn chế. Suy giảm rừng đầu nguồn, khai thác nước dưới đất quá mức cùng nhu cầu ngày càng lớn của nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và sinh hoạt đang tạo sức ép ngày càng rõ lên tài nguyên nước.

Mức độ dễ tổn thương đã thể hiện qua nhiều đợt hạn hán. Năm 2016, Đắk Lắk có gần 37.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng, thiệt hại khoảng 1.110 tỷ đồng và hơn 21.000 hộ thiếu nước sinh hoạt. Gia Lai ghi nhận hơn 11.500 ha cây trồng bị ảnh hưởng trong năm 2016 và hơn 9.000 ha vào năm 2020; nhiều hồ đập tiếp tục khô cạn trong năm 2024. Tại Đắk Nông, khoảng 24.900 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn hán trong năm 2020.

Theo PGS.TS. Dương Hồng Sơn, nếu không có giải pháp đồng bộ, đến năm 2030 Tây Nguyên có nguy cơ thiếu khoảng 5,5 tỷ m³ nước mỗi năm. Khi đó, tác động không chỉ giới hạn ở sản xuất nông nghiệp và sinh kế mà còn liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh tài nguyên nước.

ong-hong-son.png

Từ thực tế này, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới cách tiếp cận đối với hệ thống thủy lợi. TS. Lê Thị Mai Vân, Viện Quy hoạch Thủy lợi nhấn mạnh sức ép từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm và nhu cầu sử dụng nước gia tăng đang đòi hỏi mô hình quản trị thủy lợi chuyển theo hướng xanh, tuần hoàn và thông minh.

Theo phân tích của TS. Lê Thị Mai Vân, nông nghiệp hiện sử dụng khoảng 82% tổng lượng nước, tương đương 65 tỷ m³/năm, nhưng diện tích tưới thực tế mới đạt khoảng 68% so với thiết kế. Nhiều hệ thống thủy nông và lưu vực sông lớn đồng thời chịu sức ép ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng. Nhu cầu sử dụng nước dự báo đạt khoảng 122 tỷ m³/năm vào năm 2030, cao hơn khoảng 1,5 lần hiện nay.

Những con số này cho thấy bài toán nước không chỉ nằm ở thiếu hay thừa về lượng mà còn liên quan đến phân bố, hiệu quả sử dụng và chất lượng nguồn nước. Trong khi đó, quản lý thủy lợi vẫn chủ yếu tập trung vào cấp và tiêu nước, chưa kết nối đầy đủ giữa quản trị tài nguyên, môi trường, vận hành công trình và dữ liệu số. Khả năng tái sử dụng nước và tận dụng dòng chảy hồi quy còn hạn chế.

Theo hướng tiếp cận của TS. Lê Thị Mai Vân, công nghệ số có thể trở thành nền tảng cho quá trình chuyển đổi. IoT, AI, cảm biến, SCADA, Digital Twin và các hệ thống hỗ trợ ra quyết định cho phép giám sát, mô phỏng, dự báo và vận hành công trình theo thời gian thực. Qua đó, hệ thống có thể giảm thất thoát nước, tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu quả phân phối và mở rộng khả năng tái sử dụng nước.

Tuy nhiên, thủy lợi xanh không chỉ là câu chuyện công nghệ. Các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi đất ngập nước, thu gom nước mưa, trồng rừng, tăng khả năng giữ nước của lưu vực và phát triển các hồ chứa tự nhiên cần được kết hợp với hệ thống công trình hiện hữu. Mục tiêu là tăng khả năng hấp thụ, lưu giữ và điều tiết nước của cả công trình và hệ sinh thái.

Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình Thủy lợi xanh, coi hệ thống thủy lợi như một hệ sinh thái tài nguyên tuần hoàn được quản trị thông minh trên nền tảng số. Mô hình tập trung vào 4 trụ cột: sử dụng hiệu quả và tái sử dụng nước; giảm ô nhiễm và phát thải; vận hành thông minh dựa trên dữ liệu; khai thác đa mục tiêu gắn với bảo vệ môi trường.

mai-van.png


Từ vùng núi cao đến hệ thống thủy lợi quy mô lớn, điểm chung của các giải pháp là chuyển từ tư duy xây dựng công trình để đáp ứng nhu cầu trước mắt sang đầu tư cho khả năng chống chịu và hiệu quả vận hành lâu dài. Hạ tầng cấp nước, nguồn nước dưới đất, thủy lợi, dữ liệu số và các giải pháp dựa vào tự nhiên cần được đặt trong cùng một cấu trúc quản trị. Đây là nền tảng để miền Trung – Tây Nguyên không chỉ có thêm nguồn nước mà còn nâng cao khả năng quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn nước trước những biến động ngày càng cực đoan của khí hậu.

Đột phá công nghệ và kinh tế tuần hoàn từ khối doanh nghiệp

cong-nghe.png

Nếu hạ tầng và quản trị tạo nền tảng cho an ninh nguồn nước, công nghệ và năng lực đổi mới của doanh nghiệp đang mở thêm hướng đi trong khai thác, sử dụng và tuần hoàn tài nguyên.

Từ xử lý nước, nước thải, chất thải đến năng lượng tái tạo và số hóa dữ liệu môi trường, doanh nghiệp ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình chuyển đổi theo hướng xanh và hiệu quả tài nguyên.

Theo ông Nguyễn Trường Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kiến Tạo Xanh KTX Group, định hướng phát triển tập trung vào hai trụ cột là công nghệ xanh và công nghệ số, hướng tới các giải pháp liên kết giữa sản xuất, môi trường và quản trị tài nguyên.

Trong lĩnh vực nước, doanh nghiệp phát triển các công nghệ xử lý nước sạch, nước thải từ phương pháp truyền thống đến RO, Nano Gốm, CDI và QFLOW. Các hệ thống xử lý nước thải được định hướng tái sử dụng khoảng 70–80% lượng nước sau xử lý, qua đó giảm nhu cầu khai thác nguồn nước mới và lượng nước thải xả ra môi trường. Nước sau xử lý vì vậy có thể trở thành một phần của vòng tuần hoàn tài nguyên.

Tư duy này cũng được áp dụng với chất thải thông qua phân loại tại nguồn, xử lý hữu cơ bằng công nghệ sinh học, tái chế và chuyển hóa phụ phẩm nông nghiệp, chất thải công nghiệp thành nguyên liệu hoặc nhiên liệu cho sản xuất năng lượng. Khi được phân loại và công nghệ hóa phù hợp, chất thải có thể trở thành nguồn đầu vào mới, vừa giảm áp lực môi trường vừa tạo giá trị kinh tế.

Năng lượng tái tạo được đặt trong mối liên hệ với quản lý tài nguyên. Điện mặt trời có khả năng triển khai linh hoạt nhưng phụ thuộc thời tiết, diện tích và xử lý tấm pin cuối vòng đời; điện gió phù hợp với khu vực ven biển, hải đảo; trong khi điện sinh khối có thể tận dụng rác thải, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi. Việc kết nối các nguồn năng lượng này với hệ thống xử lý chất thải mở rộng dư địa cho kinh tế tuần hoàn.

Bên cạnh đó, mô hình nhà vệ sinh sạch – xanh – tuần hoàn được định hướng gắn với hệ thống nước sạch và vệ sinh môi trường, chú trọng vật liệu xanh, tiết kiệm nước, năng lượng và giảm hóa chất, đồng thời ứng dụng công nghệ số trong quản lý.

truong-son.png

Nếu doanh nghiệp đang mở rộng không gian ứng dụng công nghệ xanh thì việc nhận diện và khai thác các giá trị kinh tế mới từ tài nguyên nước cũng đang mở ra một hướng đi đáng chú ý. PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm, Chủ tịch Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam cho rằng, miền Trung – Tây Nguyên có lợi thế đặc biệt về nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, với sự đa dạng về nhiệt độ, thành phần hóa học và công năng sử dụng.

Theo thống kê được ông Nguyễn Văn Lâm dẫn chứng, Việt Nam đã phát hiện hơn 400 nguồn nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, trong đó miền Trung – Tây Nguyên có 94 nguồn, chiếm khoảng 23,3%, riêng Tây Nguyên có 26 nguồn. Quảng Ngãi có 27 nguồn, phần lớn có nhiệt độ trên 50°C; Gia Lai có những nguồn đạt 70–80°C; Khánh Hòa có 29 nguồn nước khoáng, nước nóng, trong đó một số đã được khai thác phục vụ du lịch và đóng chai. Lâm Đồng cũng sở hữu nhiều nguồn nước khoáng carbonic, silic-fluor có giá trị.

Sự đa dạng này cho phép nguồn nước được khai thác cho nhiều mục đích, từ đóng chai, ngâm tắm, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe đến nghiên cứu sử dụng nhiệt địa chất. Tiềm năng bùn khoáng trong khu vực cũng có thể kết hợp với nguồn nước nóng để phát triển các sản phẩm du lịch trị liệu và phục hồi sức khỏe.

Tuy nhiên, giá trị của nguồn tài nguyên này chỉ có thể được phát huy lâu dài nếu được khai thác theo quy hoạch tổng thể. Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Lâm, hoạt động khai thác hiện vẫn còn phân tán, một số nguồn chưa được đầu tư bài bản, công nghệ còn hạn chế, trong khi quan trắc và bảo vệ nguồn nước chưa được chú trọng tương xứng. Vì vậy, thay vì khai thác đơn mục tiêu, cần tính đến khả năng kết hợp nước khoáng với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ liên quan. Một số nguồn như Thạch Bích, Hội Vân, Phú Sen, Đảnh Thạnh, Vĩnh Hảo và Đắk Mol có thể được nghiên cứu định hướng khai thác tổng hợp đến năm 2030.

Đối với những nguồn nước nóng có nhiệt độ cao, tiềm năng còn nằm ở việc khai thác địa nhiệt phục vụ phát điện, sấy nông sản, nuôi trồng thủy sản hoặc cung cấp nhiệt cho sản xuất. Nếu được nghiên cứu và quản lý phù hợp, đây có thể là một hướng kết hợp giữa khai thác tài nguyên, phát triển năng lượng sạch và giảm phát thải.

van-lam.png

Từ góc độ quốc tế, yêu cầu nâng cấp công nghệ trong ngành nước cũng đang được thể hiện qua các dự án mà K-water triển khai tại Việt Nam. Ông Kim Tae Hoon, Giám đốc K-water chi nhánh Việt Nam, cho biết doanh nghiệp ưu tiên các dự án quản lý, vận hành và bảo dưỡng hệ thống nước, trước hết hướng tới những ngành sử dụng nhiều nước như dệt nhuộm, gia công kim loại và chế biến thực phẩm. Đây là những lĩnh vực có lượng nước thải lớn, đòi hỏi hệ thống xử lý ổn định, hiệu quả và tiết kiệm năng lượng.

Theo lộ trình được K-water đặt ra, dự án vận hành và bảo dưỡng nước thải tại Việt Nam được triển khai sau khi hoàn tất các thủ tục nội bộ, quyết định đầu tư trong tháng 6/2026 và mua cổ phần vào tháng 9/2026. Song song, Dự án cấp nước MHS được định hướng vận hành dài hạn đến năm 2066, gồm hai trạm bơm nước thô, một nhà máy xử lý nước công suất thiết kế 86.000 m³/ngày và hệ thống đường ống dài hơn 35 km. Công suất dự kiến tăng từ 30.000 m³/ngày vào năm 2027 lên 60.000 m³/ngày năm 2031 và khoảng 80.000 m³/ngày vào năm 2035, qua đó từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn nước mua ngoài.

Điểm đáng chú ý trong hướng phát triển của K-water là đưa AI vào vận hành nhà máy nước. Theo đó, trí tuệ nhân tạo có thể được tích hợp vào các khâu như tự động hóa châm hóa chất, khử trùng bằng Clo, quản lý năng lượng, tối ưu hoạt động bơm và kiểm soát tiêu thụ điện. Khi kết hợp với giám sát thời gian thực, phân tích dữ liệu, CCTV thông minh và nền tảng quản lý dự báo, hệ thống có thể tiến tới nhận diện sớm nguy cơ sự cố và hỗ trợ điều hành trước khi vấn đề phát sinh.

K-water dự kiến thí điểm mô hình nhà máy nước ứng dụng AI tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trước khi xem xét mở rộng. Đây cũng cho thấy chuyển đổi số trong ngành nước đang dịch chuyển từ số hóa dữ liệu sang sử dụng dữ liệu để dự báo và ra quyết định.

kim.png

Khi công nghệ xanh được kết nối với kinh tế tuần hoàn và nền tảng dữ liệu, doanh nghiệp không chỉ tham gia giải quyết bài toán môi trường mà còn có thể trở thành một mắt xích trong hệ thống bảo đảm an ninh nguồn nước, năng lượng và phát triển bền vững của miền Trung – Tây Nguyên.

tay-nguyen.png
* Hình ảnh trong bài do AI thiết kế

Nga Nguyễn