Phát triển kinh tế văn hóa - phát huy sức mạnh nội sinh - kiến tạo đất nước phát triển nhanh, bền vững
Cuộc sống xanh - Ngày đăng : 16:44, 12/10/2026
Phát triển kinh tế văn hóa - phát huy sức mạnh nội sinh - kiến tạo đất nước phát triển nhanh, bền vững
"Phát triển kinh tế văn hóa - phát huy sức mạnh nội sinh - kiến tạo đất nước phát triển nhanh, bền vững" là tiêu đề bài viết của nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.
Tạp chí Môi trường và Cuộc sống -Moitruong.net.vn trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của PGS, TS. Phạm Minh Chính, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về "Phát triển kinh tế văn hóa - phát huy sức mạnh nội sinh - kiến tạo đất nước phát triển nhanh, bền vững".
Trong bối cảnh thế giới biến chuyển nhanh chóng cùng sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiềm năng phát triển và lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng phụ thuộc vào năng lực đổi mới sáng tạo, trình độ khoa học, công nghệ, nguồn lực văn hóa và khả năng chuyển hóa, kết nối nguồn lực đó thành động lực phát triển. Đối với Việt Nam, đây là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, góp phần tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; người dân là trung tâm, chủ thể sáng tạo, thụ hưởng; nâng cao chất lượng đời sống, vì hạnh phúc của nhân dân.
Văn hóa - Cội nguồn sức mạnh của dân tộc
Văn hóa là một phạm trù rất rộng, phản ánh tầng sâu nhất của đời sống tinh thần, hệ giá trị và bản sắc của một dân tộc; là sự kết tinh giá trị tinh hoa được hình thành, bồi đắp, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng, bền bỉ, làm nên bản lĩnh, cốt cách và sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam, góp phần hun đúc ý chí độc lập, tự cường, tinh thần đoàn kết và khát vọng vươn lên, đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để giành độc lập, tự do, mang lại hòa bình, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân.

Chín sáu năm qua, kể từ mùa xuân năm 1930, Đảng ta luôn xác định xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam là nhiệm vụ có vị trí, vai trò chiến lược trong sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước. Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) (1), văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt nền móng đầu tiên trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa, đã xác lập quan điểm, nguyên tắc căn bản cho đường lối phát triển nền văn hóa cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, gắn với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đề cương về văn hóa Việt Nam đã xác định nội hàm văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật và nêu rõ "Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa" (2); đồng thời, xác định ba nguyên tắc lớn của cuộc vận động văn hóa nước nhà: dân tộc hóa; khoa học hóa; đại chúng hóa (3).
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một nền văn hóa mới, hòa hợp với khoa học và nguyện vọng của nhân dân. Người nhấn mạnh phải coi trọng như nhau các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong công cuộc xây dựng và kiến thiết nước nhà. Ngày 24/11/1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi"; lấy hạnh phúc của đồng bào, sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh. Người cũng chỉ rõ: "Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị" (4) và đặc biệt nhấn mạnh đến năm điểm lớn để xây dựng nền văn hóa dân tộc: "1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. 2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. 3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. 4- Xây dựng chính trị: dân quyền. 5- Xây dựng kinh tế" (5). Theo Người, sự ra đời của văn hóa vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống: "Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" (6).
Văn hóa là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, vừa thuộc về vấn đề căn cốt của dân tộc, vừa gắn chặt với vận mệnh chính trị, kinh tế và tiến bộ xã hội. Không chỉ tìm đường, mở lối, đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng sáng ngời của sự hội tụ, kết tinh của văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước hòa quyện với giá trị tiến bộ của thời đại. Người không tiếp nhận văn hóa nhân loại một cách thụ động, mà luôn chọn lọc và chuyển hóa thành sức mạnh đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng con người mới, xã hội mới. Đến nay, chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa vẫn tiếp tục là kim chỉ nam trong quá trình Đảng ta kế thừa, vận dụng, phát triển đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, nhiều nghị quyết, văn kiện chiến lược của Đảng về phát triển văn hóa và con người Việt Nam đã được ban hành, từng bước định hình sự phát triển sâu sắc về tư duy lý luận, nhận thức và năng lực tổng kết thực tiễn. Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của đất nước; đồng thời, kế thừa, chắt lọc và nâng tầm giá trị tốt đẹp của nền văn hiến dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, Đại hội IV của Đảng (năm 1976) đã đề ra quan điểm xây dựng con người mới, nền văn hóa mới. Tiếp đó, Đại hội V của Đảng (năm 1982) tiếp tục phát triển và làm rõ nội hàm nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng (năm 1991) thông qua, đã xác định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là "nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" (7), là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII (tháng 7-1998), Nghị quyết chuyên đề về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" đã khẳng định quan điểm có ý nghĩa nền tảng: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" (8). Quan điểm này thể hiện nhận thức sâu sắc của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước và một lần nữa được nhấn mạnh tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001). Đến các kỳ đại hội Đảng tiếp theo, tư duy và nhận thức của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn (9), khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ và sức sáng tạo của nhân dân; gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người và gắn phát triển con người với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc, nói lên bản sắc của Dân tộc. Văn hóa còn thì Dân tộc còn..." (10). Đây là thông điệp sâu sắc, đặt ra yêu cầu mang tính chiến lược: Bản sắc văn hóa làm nên đặc trưng của dân tộc, mạch nguồn văn hóa làm nên sức sống trường tồn của quốc gia. Văn hóa không đứng ngoài, mà gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đất nước càng phát triển, càng phải bồi đắp giá trị văn hóa; càng hội nhập quốc tế sâu rộng, càng phải coi trọng, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc; không để tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học, công nghệ và tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa làm mai một, phai nhạt giá trị văn hóa làm nên cốt cách dân tộc và sức mạnh quốc gia.
Thực tiễn sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng tới hoàn thành hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Trên nền tảng kết quả quan trọng đã được xác lập tại Đại hội XIII (11), Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển toàn diện và sâu sắc về tư duy, đường lối xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng trong phát triển nhanh và bền vững đất nước, là "tài nguyên", "sức mạnh mềm" của quốc gia" (12); đồng thời, đặt ra yêu cầu "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam" (13). Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026, của Bộ Chính trị, "Về phát triển văn hóa Việt Nam" tiếp tục nâng tầm và làm sâu sắc thêm quan điểm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, phát triển kinh tế và xã hội. Yêu cầu này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ đối với việc đổi mới căn bản tư duy về vị trí và vai trò của văn hóa trong mô hình phát triển đất nước: "Xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia" (14).
Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ việc bảo đảm phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hóa thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việt Nam không đánh đổi văn hóa và tiến bộ, công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trong giai đoạn phát triển mới, mối quan hệ giữa chính trị, kinh tế và văn hóa đang ngày càng gắn bó chặt chẽ và mang tầm chiến lược. Do đó, mỗi quyết định chính trị phải đánh giá đầy đủ sự tác động đến kinh tế và văn hóa; mỗi chính sách kinh tế được thực thi phải góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển văn hóa, con người; mỗi chính sách văn hóa được tiến hành phải góp phần củng cố, tăng cường nền tảng chính trị vững chắc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.
Giá trị văn hóa trong dòng chảy kinh tế
Bước vào kỷ nguyên mới, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa được đặt ra với tầm vóc và sứ mệnh to lớn hơn, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với sự vận động, phát triển của chính văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giao lưu và tiếp biến văn hóa ngày càng mạnh mẽ. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ: "Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng thương hiệu quốc gia; xây dựng và hoàn thiện thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa; xây dựng văn hóa trong kinh tế và trong chính trị; xây dựng môi trường văn hóa số" (15). Đây là định hướng quan trọng về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới, đồng thời cũng gợi mở về phương diện lý luận để tiếp tục có nhận thức mới, toàn diện và sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa văn hóa với phát triển đất nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/01/2026, của Bộ Chính trị chỉ rõ: Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đây không phải là đầu tư cho sự phát triển của đời sống văn hóa, mà sâu xa hơn là đầu tư cho con người, khơi dậy sức sáng tạo, bồi đắp bản lĩnh, tri thức, củng cố sức mạnh nội sinh của dân tộc và giữ gìn, phát huy giá trị làm nên bản sắc, sức sống và vị thế của Việt Nam trong vòng tuần hoàn phát triển: Văn hóa cung cấp nguồn lực giá trị và sáng tạo; nguồn lực được chuyển hóa thành động lực phát triển; sự phát triển tạo điều kiện để đầu tư, bảo tồn, sáng tạo và mở rộng khả năng thụ hưởng văn hóa, đồng thời huy động sự tham gia của nhân dân để tiếp tục bồi đắp, làm giàu nguồn lực văn hóa, nguồn lực đất nước.
Tuy nhiên, thời gian qua, tiềm năng to lớn của văn hóa Việt Nam vẫn chưa thực sự được khai mở đầy đủ như một tài sản chiến lược quốc gia. Hiện nay, đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào nền kinh tế còn khiêm tốn; thị trường phát triển chưa đồng đều; nhiều di sản, giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa thành sản phẩm, nguồn lực phát triển kinh tế di sản; thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực còn bất cập; năng lực sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Trên không gian số, văn hóa Việt Nam chưa tạo được dấu ấn mạnh mẽ và chiếm lĩnh vị trí xứng đáng trong đời sống xã hội và dòng chảy văn hóa toàn cầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra 4 "khoảng trống" (16) cần sớm khắc phục, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa: "Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam" (17). Đây là định hướng, chỉ đạo có tính mở đường, thể hiện tư duy đổi mới, cách tiếp cận chủ động, sáng tạo, khơi dậy, phát huy và chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Theo tinh thần đó, mỗi thế hệ không chỉ kế thừa, gìn giữ di sản của những thế hệ đi trước, mà còn có trách nhiệm kiến tạo giá trị văn hóa cho tương lai, chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành tri thức và tài sản trí tuệ quốc gia.
Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, "Về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm văn hóa; coi phát triển văn hóa và con người là nền tảng, là nguồn lực và động lực nội sinh, sức mạnh mềm quốc gia. Văn hóa không thể tách biệt, khép kín, mà phải gắn kết với hệ sinh thái phát triển hiện đại của quốc gia và quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng đất nước (18), với trọng tâm là phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, tài sản hóa các giá trị văn hóa và thúc đẩy xuất khẩu văn hóa, bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia và giải quyết hài hòa, hiệu quả mối quan hệ giữa bảo tồn với phát triển. Đây không chỉ là sự bổ sung về nội dung, mà là sự nâng tầm về vị thế của văn hóa trong toàn bộ chiến lược phát triển đất nước, theo đó mọi cơ chế, chính sách, chương trình, dự án phải được đặt trong yêu cầu hài hòa giữa tạo dựng của cải vật chất với bồi đắp giá trị tinh thần, giữa phát triển kinh tế với phát triển con người, vừa củng cố niềm tin, làm giàu bản sắc văn hóa và nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra những mục tiêu rất cao, đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực trực tiếp cho tăng trưởng (phấn đấu giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP của đất nước, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm vào năm 2030; đóng góp 9% GDP của đất nước vào năm 2045) (19). Đây không chỉ là yêu cầu về con số hay quy mô, mà là thước đo năng lực chuyển hóa văn hóa thành sức sản xuất, năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo ra không gian phát triển mới, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Kinh tế văn hóa với vai trò chuyển hóa nguồn lực, giá trị và sức sáng tạo văn hóa thành hàng hóa, dịch vụ, tài sản, thương hiệu và giá trị kinh tế có sức cạnh tranh thông qua hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng trên thị trường; đồng thời, sử dụng hiệu quả cơ chế và nguồn lực kinh tế để bảo tồn, tái tạo, phát huy và làm giàu giá trị văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tổng thể của đất nước. Bản chất của kinh tế văn hóa không phải là gắn thêm yếu tố "kinh tế" vào hoạt động "văn hóa", mà là tổ chức đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị văn hóa từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông đến tiêu dùng và phát triển thương hiệu, thị trường cạnh tranh có sự quản lý, điều tiết, định hướng của Nhà nước. Như vậy, kinh tế văn hóa được xác định là cấu phần quan trọng của nền kinh tế, gắn trực tiếp với phát triển lực lượng sản xuất mới, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo; thiết lập một hệ sinh thái kết nối văn hóa với kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo, thể thao, du lịch, thương mại, truyền thông, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế... Quá trình đó tuyệt đối không phải thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá, không đánh đổi bản sắc dân tộc lấy tăng trưởng kinh tế, con người là trung tâm, là chủ thể của sáng tạo; bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng; đổi mới sáng tạo làm động lực; khoa học, công nghệ làm phương tiện, công cụ; hiệu quả tổng hợp về kinh tế, xã hội, môi trường, hạnh phúc và mức độ thụ hưởng của nhân dân làm thước đo.
Kinh tế văn hóa không chỉ vận hành chuỗi giá trị văn hóa, mà còn hình thành hệ sinh thái phát triển toàn diện, có phạm vi ảnh hưởng rộng và hiệu quả lan tỏa lớn. Giá trị tạo ra không chỉ ở tác phẩm hay di sản, mà còn trong toàn bộ hệ sinh thái đưa ý tưởng, sản phẩm văn hóa đến công chúng, cách xác lập nội dung, bản quyền, dữ liệu, thương hiệu và khả năng lan tỏa, thụ hưởng. Tạo đột phá trong phát triển kinh tế văn hóa thông qua việc chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính sang quản trị và kiến tạo phát triển; từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát huy và sáng tạo; từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái; từ phát triển từng ngành riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị liên ngành; từ chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước sang huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội; từ quảng bá theo sự kiện sang xây dựng chuỗi giá trị gắn với sản phẩm, thương hiệu và thị trường bền vững; từ số hóa để lưu trữ sang hình thành dữ liệu, tri thức số và tài sản trí tuệ; từ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước sang chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị văn hóa toàn cầu. Cần quán triệt tinh thần "biến di sản thành tài sản chiến lược", thể hiện ở giá trị về tri thức, ký ức, bản sắc, niềm tin, sức mạnh nội sinh và năng lực sáng tạo của cộng đồng và toàn xã hội. Mỗi sản phẩm văn hóa cần đồng thời "chuyên chở", trao truyền giá trị chân - thiện - mỹ gắn với giá trị kinh tế và khẳng định bản sắc Việt Nam.
Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, quá trình tiếp biến văn hóa phải gắn với quá trình thương mại và xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Sự giao lưu, tiếp nhận và lan tỏa giá trị văn hóa phải được tiến hành một cách chủ động, tự tin, thận trọng, có bản lĩnh và có chọn lọc. Quá trình hội nhập văn hóa không phải là phép cộng cơ học, càng không phải sự tiếp nhận một chiều, mà là quá trình tiếp thu chọn lọc và dân tộc hóa giá trị tiến bộ của thế giới trên nền tảng hệ giá trị quốc gia; chuyển tải giá trị đặc sắc của dân tộc bằng ngôn ngữ sáng tạo, có khả năng đối thoại và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chú trọng xây dựng năng lực văn hóa hai chiều: vừa chủ động đưa câu chuyện, hình ảnh, sản phẩm và giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, vừa tiếp thu chọn lọc tinh hoa và thành tựu tiên tiến của nhân loại để nâng cao năng lực sáng tạo trong nước, nhân lên sức mạnh nội sinh, mở rộng không gian phát triển và làm cho văn hóa Việt Nam vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa mang tầm vóc thời đại. Như vậy, kinh tế văn hóa cần được kiến tạo để trở thành một động lực tăng trưởng mới, bền vững và được đặt trong tổng thể trụ cột chiến lược phát triển đất nước, cùng với khoa học, công nghệ tạo ra phương thức và năng lực sản xuất mới; giáo dục, đào tạo tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao; pháp luật tạo hành lang pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển hội nhập quốc tế mở rộng không gian, thị trường và khả năng lan tỏa giá trị quốc gia... Kết quả phát triển kinh tế văn hóa phải được thể hiện bằng đóng góp thực chất cho nền kinh tế và xã hội: nâng cao quy mô và chất lượng tăng trưởng; thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo; tăng số lượng doanh nghiệp, tăng mô hình kinh doanh mới, gia tăng việc làm có năng suất, thu nhập cao; hình thành thêm sản phẩm sáng tạo, thương hiệu có giá trị nổi bật, bảo vệ bản quyền, dữ liệu; mở rộng thị trường, nâng cao giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa; qua đó, đóng góp đắc lực, hiệu quả hơn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số" và hướng tới hai mục tiêu chiến lược 100 năm.
Nâng tầm văn hóa để kiến tạo phát triển đất nước
Đối với Việt Nam, để chuyển hóa tiềm năng và giá trị văn hóa trở thành năng lực sản xuất, năng lực sáng tạo, năng lực cạnh tranh và "căn cước phát triển" của quốc gia" (20), trên tinh thần Văn kiện Đại hội XIV và các văn kiện Trung ương, cần tập trung vào ba định hướng then chốt:
1- Phát triển kinh tế văn hóa để mở rộng không gian phát triển sáng tạo mới;
2- Phát triển công nghiệp văn hóa để thu hút, huy động nguồn lực và nâng tầm thụ hưởng của nhân dân;
3- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện để tạo lập nền tảng, phát huy vai trò chủ thể và bồi đắp hệ giá trị quốc gia.

Đồng thời, trên cơ sở đổi mới về thể chế, hạ tầng, khoa học, công nghệ, dữ liệu, nguồn lực, doanh nghiệp, thị trường, mạng lưới hợp tác quốc tế được tổ chức hiện đại, đồng bộ, mở và liên thông, với phương châm "tư duy đột phá - nguồn lực đa dạng - hành động quyết liệt - kết quả thực chất", các cấp, các ngành, các địa phương cần huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhân dân và doanh nghiệp, tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, phát triển kinh tế văn hóa Việt Nam thành một cấu phần hữu cơ của mô hình phát triển quốc gia. Kinh tế văn hóa không phải thành phần phụ của nền kinh tế, mà phải được nhìn nhận như một bộ phận của cấu trúc tăng trưởng mới, nơi giá trị văn hóa được lượng hóa thành nguồn lực phát triển. Trong đó, mỗi dự án phát triển kinh tế - xã hội cần đánh giá đầy đủ tác động văn hóa; mỗi chính sách văn hóa phải đồng thời "bồi đắp" con người, mở rộng cơ hội sáng tạo và thụ hưởng, khơi dậy và giải phóng sức sáng tạo, tạo ra giá trị gia tăng mới cho sự phát triển. Phải đổi mới tư duy, phát triển văn hóa không phải là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và toàn xã hội, để huy động sức mạnh tổng hợp quốc gia; trong đó, Đảng tập trung lãnh đạo thông qua hoạch định đường lối phát triển; Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương hành động kiến tạo, phục vụ; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường vận động, giám sát và phản biện; đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nguồn nhân lực làm văn hóa là lực lượng sáng tạo nòng cốt, xung kích và được thụ hưởng xứng đáng với trí tuệ, công sức đã cống hiến; doanh nghiệp tổ chức sản xuất chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, kết nối thị trường; cơ sở giáo dục bồi đắp năng lực và thị hiếu thẩm mỹ; báo chí, truyền thông và nền tảng số lan tỏa giá trị tích cực; mỗi người dân, gia đình và cộng đồng vừa gìn giữ, sáng tạo, thực hành văn hóa, vừa giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển.
Thứ hai, phát triển công nghiệp văn hóa đặc trưng Việt Nam và công nghiệp giải trí dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, có sức cạnh tranh cao, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế "hai con số", gắn kết chặt chẽ với hội nhập quốc tế, góp phần nâng tầm sức mạnh mềm và vị thế văn hóa Việt Nam. Xác định rõ đây là ngành kinh tế sáng tạo có giá trị gia tăng cao, có khả năng kết nối văn hóa với du lịch, khoa học, công nghệ, thương mại và dịch vụ để hình thành chuỗi giá trị liên kết, góp phần mở rộng quy mô nền kinh tế. Trong phát triển kinh tế văn hóa, sự thống nhất trong đa dạng của cộng đồng 54 dân tộc cũng chính là lợi thế cạnh tranh đặc biệt của Việt Nam. Mỗi dân tộc là một chủ thể sáng tạo; mỗi vùng, miền là một không gian văn hóa đặc sắc; mỗi di sản là sự kết tinh của lịch sử, truyền thống và bản sắc dân tộc. Cần phát huy và chuyển hóa các giá trị của kho tàng văn hóa vật thể, phi vật thể thành sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm đặc sắc, có hàm lượng sáng tạo cao, tạo ra giá trị kinh tế và khả năng chinh phục thị trường quốc tế. Cần chủ động xây dựng và lan tỏa câu chuyện quốc gia thông qua văn hóa, qua đó đưa thương hiệu văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu trên cơ sở học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm thành công của nhiều quốc gia. Việc tổ chức và phát triển văn hóa thành chuỗi giá trị hiện đại không chỉ tạo nguồn thu lớn, mà còn quảng bá hình ảnh đất nước, củng cố niềm tin, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và gia tăng sức mạnh quốc gia. Các cấp, các ngành, các địa phương triển khai thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; lựa chọn đúng lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế, sản phẩm chủ lực, thị trường mục tiêu và địa bàn có khả năng hình thành cụm công nghiệp văn hóa, chuỗi giá trị văn hóa; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng chiến lược quảng bá hình ảnh quốc gia đồng bộ, chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng hội nhập, ngoại giao văn hóa. Khuyến khích hợp tác, đồng sản xuất và tiếp thu tinh hoa nhân loại để rút ngắn khoảng cách phát triển, nhưng phải kiên định phương châm "Hòa nhập nhưng không hòa tan", lấy bản sắc và sức sáng tạo Việt Nam làm nền tảng định vị; đưa hình ảnh tươi đẹp của đất nước, con người và nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc đến với thế giới bằng năng lực sáng tạo, sản phẩm văn hóa chất lượng cao và giá trị nhân văn giàu sức thuyết phục. Trong đó, ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa có thế mạnh đặc trưng, lĩnh vực có khả năng đóng góp tăng trưởng kinh tế nhanh và hiệu quả. Đồng thời, cần tập trung phát triển các nhóm lĩnh vực văn hóa, như âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thời trang, xuất bản, báo chí; thúc đẩy phát triển thể thao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, giàu hàm lượng tri thức sáng tạo và công nghệ cao, gắn với bảo hộ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, trong đó ngành công nghiệp sản xuất trò chơi điện tử, hoạt hình, sản phẩm nội dung số chất lượng cao có thể được xem là hướng đi trọng điểm, giàu tiềm năng và có nhiều dư địa phát triển trong giai đoạn tới. Đây là lĩnh vực dễ tích hợp chất liệu văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc với công nghệ hiện đại để làm nên sản phẩm sáng tạo, có giá trị giáo dục cao, phù hợp thị hiếu của đông đảo công chúng, nhất là giới trẻ, góp phần quảng bá, lan tỏa hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế.
Thứ ba, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát triển nguồn nhân lực làm văn hóa là yếu tố quyết định, tạo đột phá phát triển kinh tế văn hóa. Con người chính là chủ thể sáng tạo và nguồn lực chiến lược quyết định sức sống của văn hóa. Xây dựng hệ giá trị con người cũng chính là bồi đắp bản sắc và năng lực phát triển đất nước. Tập trung xây dựng, phát triển hệ giá trị con người Việt Nam hội tụ đầy đủ phẩm chất quý báu đã được hun đúc, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử, như giàu lòng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, cần cù, sáng tạo cũng như những phẩm chất thời đại mới với năng lực thẩm mỹ, kỹ năng toàn diện, khát vọng cống hiến, biết thụ hưởng văn hóa và bản lĩnh hội nhập; qua đó, tạo thế mạnh riêng và lợi thế cạnh tranh của dân tộc. Giá trị văn hóa phải được thực hành, thấm đẫm trong mọi hoạt động của gia đình, nhà trường, công sở, doanh nghiệp, cộng đồng và trên không gian mạng. Văn hóa kỷ cương, liêm chính, trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân trong hệ thống chính trị phải ngày càng được củng cố, phát huy và lan tỏa sâu rộng.
Để tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị, cần có cơ chế, chính sách khuyến khích tinh thần sáng tạo, hình thành năng lực, môi trường và chuỗi giá trị để biến ý tưởng, tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm; trong đó, thực thể sáng tạo phải được trang bị kiến thức, năng lực nghiên cứu, thiết kế, công nghệ, quản trị, bản quyền và tiếp cận thị trường; được tiếp cận, khai thác dữ liệu, di sản số, không gian sáng tạo, hạ tầng, vốn và cơ chế thử nghiệm. Đồng thời, phải hình thành cơ chế liên kết hiệu quả giữa đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, nhà sản xuất, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu; hình thành chuỗi liên thông từ sáng tạo, thử nghiệm đến sản xuất, phân phối, thương mại hóa sản phẩm văn hóa và ý tưởng khởi nghiệp. Sản phẩm mới phải thể hiện sự đổi mới về nội dung, hình thức biểu đạt, công nghệ, trải nghiệm hoặc mô hình kinh doanh; vừa khai thác bản sắc, giá trị di sản và câu chuyện văn hóa Việt Nam, vừa phản ánh xu thế đương đại và đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng phong phú, đa dạng, chất lượng cao.
Trong xã hội hiện đại, nhân dân vừa là chủ thể tạo ra giá trị, vừa là đối tượng thụ hưởng, chia sẻ lợi ích từ văn hóa, được thụ hưởng môi trường nhân văn, phong phú, hạnh phúc hơn. Việc thụ hưởng văn hóa không phải là tiếp nhận thụ động, mà là quá trình người dân được tiếp cận, lựa chọn, trải nghiệm, đánh giá, chi trả và tham gia quá trình hoàn thiện sản phẩm. Do vậy, thị trường văn hóa không thể hình thành chỉ từ phía cung, mà còn cần một cộng đồng thụ hưởng có nhu cầu thực, khả năng tiếp cận phù hợp.
Để vận hành hiệu quả mối quan hệ giữa kiến tạo và thụ hưởng, phải xây dựng được đội ngũ nhân lực làm văn hóa có trách nhiệm, có tài năng, am hiểu sâu sắc, thấm nhuần văn hóa dân tộc, nắm chắc nhu cầu và thị hiếu của công chúng trong nước, quốc tế, làm chủ công nghệ, truyền thông, bản quyền và quản trị thị trường. Trong đó, cần chú trọng tạo lập môi trường thuận lợi để phát hiện, nuôi dưỡng tài năng, nhất là tài năng trẻ, nhân lực chất lượng cao và đội ngũ tinh hoa trong thử nghiệm, hợp tác, làm nghề; trên cơ sở đó hình thành vòng tuần hoàn kinh tế văn hóa: con người sáng tạo sản phẩm; công chúng thụ hưởng và phản hồi; thị trường sàng lọc, ghi nhận và phân bổ nguồn lực; nguồn lực được đầu tư lại cho con người và sáng tạo.
Thứ tư, đổi mới cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực, phát triển doanh nghiệp, thị trường và chuỗi giá trị. Tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, bảo đảm sự công bằng, minh bạch, khuyến khích sáng tạo, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn; xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, liêm chính, đạo đức nghề nghiệp và môi trường cạnh tranh lành mạnh; trong đó khẩn trương hoàn thiện đồng bộ pháp luật về sở hữu trí tuệ, dữ liệu văn hóa, hợp tác công - tư, thương mại số, giao dịch xuyên biên giới; triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để mở đường cho mô hình, sản phẩm kinh tế văn hóa mới. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, bảo đảm khả năng thực thi và kiểm tra, giám sát thường xuyên. Trong đó, Trung ương tập trung hoàn thiện thể chế, chiến lược, tiêu chuẩn, dữ liệu và hạ tầng văn hóa nền tảng, xử lý vấn đề liên vùng, liên ngành và hội nhập quốc tế. Cấp tỉnh cụ thể hóa chiến lược, phân bổ nguồn lực, phát triển hệ sinh thái sáng tạo và thị trường. Cấp cơ sở đưa chính sách vào đời sống, bảo tồn hệ thống di sản, vận hành thiết chế văn hóa, phát huy sáng tạo và bảo đảm quyền thụ hưởng của nhân dân. Chú trọng đầu tư phát triển một số doanh nghiệp văn hóa chủ lực có đủ năng lực cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, có khả năng dẫn dắt thị trường, làm chủ công nghệ, thương hiệu, mạng lưới phân phối, bảo vệ bản quyền; khuyến khích và tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp văn hóa ngoài khu vực nhà nước. Trong hệ sinh thái phát triển kinh tế văn hóa, doanh nghiệp đóng vai trò nòng cốt trong tổ chức sản xuất, thương mại hóa sản phẩm văn hóa, phát triển thị trường đầu ra và thu hút nguồn lực đầu vào; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu tập trung phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao; quỹ đầu tư sáng tạo, tổ chức xã hội và cộng đồng cùng tham gia sáng tạo, sản xuất và lan tỏa giá trị; phát triển thị trường văn minh, chuyên nghiệp, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người sáng tạo, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Thứ năm, hiện đại hóa và phát triển đồng bộ hạ tầng, không gian văn hóa, lấy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dữ liệu làm động lực bứt phá. Tập trung hiện đại hóa thiết chế văn hóa từ Trung ương đến cơ sở; đầu tư nâng cấp, đổi mới quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo tàng, thư viện, nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm văn hóa, không gian văn hóa cộng đồng; đẩy mạnh bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể... Ưu tiên đầu tư cho các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước khắc phục căn bản khoảng cách trong tiếp cận và thụ hưởng văn hóa. Đẩy mạnh số hóa di sản và toàn bộ chuỗi giá trị văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, lưu trữ đến phân phối, quảng bá và tiêu dùng. Xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", có khả năng kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển hệ thống bảo tàng số, thư viện số, kho học liệu mở và nền tảng phân phối nội dung mang thương hiệu Việt Nam. Khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ và hiệu quả quản lý, mở ra cơ hội phát triển sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm và mô hình kinh doanh mới; đồng thời, tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền văn hóa và lợi ích quốc gia.
Thứ sáu, tập trung tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, bảo đảm nhân dân được thụ hưởng xứng đáng thành quả của sự phát triển văn hóa. Việc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm không thể bền vững nếu chỉ dựa vào tiềm lực kinh tế, mà cần có sự tham gia bởi một nền tảng văn hóa đủ sâu, một sức mạnh tinh thần đủ lớn và một hệ giá trị đủ năng lực định hướng, dẫn dắt phát triển. Phải xây dựng giá trị văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, để văn hóa thực sự "soi đường", vừa giữ gốc, tạo lực, mở đường phát triển, vừa làm giàu đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống và mở rộng cơ hội sáng tạo cho mỗi người dân. Do đó, các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung cụ thể hóa các mục tiêu phát triển văn hóa thành chương trình hành động và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, thiết thực, lựa chọn đúng khâu đột phá, sản phẩm chủ lực, thị trường mục tiêu, dự án ưu tiên, không dàn trải, hình thức, phong trào; phân công nhiệm vụ theo tinh thần "6 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả); đổi mới hệ thống chỉ tiêu và phương thức đánh giá với sản phẩm, kết quả, hiệu quả cụ thể, nhất là chỉ tiêu về tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, năng suất, tài sản trí tuệ, thương hiệu, doanh thu, năng lực xuất khẩu cũng như khả năng tiếp cận, khả năng chi trả, tần suất tham gia, mức độ hài lòng, niềm tin xã hội, sự cải thiện chất lượng sống của nhân dân; trong đó, mỗi chỉ tiêu phải có đường cơ sở, mục tiêu, dữ liệu đo lường, kiểm chứng được và cơ quan chịu trách nhiệm.
Đối với nhân dân, thành quả của phát triển văn hóa phải được chuyển hóa thành giá trị hiện hữu, lợi ích thiết thực, cụ thể, công bằng như cơ hội việc làm, tăng thu nhập, khởi nghiệp, sáng tạo và khai thác hợp pháp giá trị văn hóa cộng đồng; được tiếp cận thiết chế văn hóa, nghệ thuật, di sản và nội dung số thuận lợi, an toàn, với chi phí hợp lý và có chất lượng; được tham gia sáng tạo, thực hành, bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa; được thụ hưởng văn hóa gắn với nâng cao năng lực thẩm mỹ, kỹ năng số, sức sáng tạo, niềm tin xã hội; sự gắn kết cộng đồng và chất lượng môi trường sống; sự thu hẹp khoảng cách phát triển và tiếp cận giữa thành thị với nông thôn, giữa vùng thuận lợi với vùng khó khăn, giữa các nhóm thu nhập, đối tượng yếu thế; đồng thời, tăng cường gắn kết bản sắc dân tộc với giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển kinh tế văn hóa không đơn thuần là mở rộng quy mô kinh tế hay gia tăng khả năng đóng góp vào GDP của quốc gia, mà mục tiêu cao hơn là kiến tạo mô hình phát triển mới, trong đó tăng trưởng được nuôi dưỡng bằng sức sáng tạo của con người, được tiếp sức từ bản sắc, giá trị văn hóa dân tộc, khát vọng đổi mới, vươn lên. Phát triển kinh tế văn hóa chính là nâng tầm phát triển con người, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của nhân dân. Khi người dân thực sự là trung tâm, là chủ thể sáng tạo và là đối tượng thụ hưởng, văn hóa chính là sức mạnh nội sinh bền vững của phát triển. Để văn hóa tiếp tục "soi đường cho quốc dân đi", đồng hành cùng dân tộc, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa chính là kiến tạo tương lai phát triển đất nước nhanh, bền vững, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
