Đồng bằng sông Cửu Long chủ động ứng phó nguy cơ thiếu nước do El Niño

An ninh nguồn nước - Ngày đăng : 15:00, 19/10/2026

Trước nguy cơ dòng chảy về lưu vực sông Cửu Long suy giảm, xâm nhập mặn xuất hiện sớm và lấn sâu trong mùa khô 2026–2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương khẩn trương triển khai giải pháp tích trữ nước ngọt, bảo đảm cấp nước sinh hoạt, điều chỉnh sản xuất và nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi.
An ninh nguồn nước

Đồng bằng sông Cửu Long chủ động ứng phó nguy cơ thiếu nước do El Niño

Khánh An • 19/10/2026 15:00

Trước nguy cơ dòng chảy về lưu vực sông Cửu Long suy giảm, xâm nhập mặn xuất hiện sớm và lấn sâu trong mùa khô 2026–2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương khẩn trương triển khai giải pháp tích trữ nước ngọt, bảo đảm cấp nước sinh hoạt, điều chỉnh sản xuất và nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi.

Nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn gia tăng

Ngày 16/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Công văn số 11942/BNNMT-TNN, đề nghị UBND các tỉnh, thành phố Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang và Cà Mau chủ động triển khai các giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của El Niño, bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội trong mùa khô 2026–2027.

Bộ yêu cầu các địa phương triển khai giải pháp ngay từ năm 2026, tận dụng thời điểm thuận lợi để tích trữ nước ngọt, điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với diễn biến nguồn nước và xâm nhập mặn, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành các công trình thủy lợi. Việc ứng phó cần được thực hiện từ sớm, không chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới triển khai.

han-man-1.jpg
Ảnh minh họa

Theo Báo cáo số 10411/BC-BNNMT ngày 12/9/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do El Niño đòi hỏi phải được đánh giá và có phương án ứng phó kịp thời, nhằm bảo đảm nước cho sinh hoạt, sản xuất, góp phần giữ vững an ninh lương thực và an ninh năng lượng. Trên cơ sở đó, ngày 24/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 9694/VPCP-NN, thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng về việc chủ động ứng phó với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước.

Số liệu cập nhật đến ngày 15/10/2026 cho thấy, các hồ chứa ở thượng nguồn lưu vực sông Mê Công đã tích được khoảng 52,2 tỷ m³ nước, đạt 79,7% tổng dung tích hữu ích thiết kế. Tuy nhiên, nguồn nước từ nay đến cuối mùa lũ được dự báo có xu hướng giảm dần. Dòng chảy về lưu vực sông Cửu Long trong mùa khô 2026–2027 có khả năng thuộc nhóm năm ít nước. Xâm nhập mặn có thể xuất hiện từ tháng 12/2026, với ranh mặn dự báo lấn sâu hơn trung bình nhiều năm khoảng 10–20 km tại các cửa sông.

Lưu vực sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước quốc gia, chiếm 56,2% tổng lượng nước mặt và có nhu cầu sử dụng nước khoảng 57,6 tỷ m³/năm, tương đương 54% tổng nhu cầu cả nước. Tuy nhiên, khu vực này phụ thuộc gần 95% vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công, đồng thời thường xuyên chịu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn.

Thực tế từ các đợt hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng trong các năm 2015–2016 và 2019–2020 cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của khu vực trước những biến động nguồn nước. Trong khi đó, khả năng điều tiết nguồn nước bằng các hồ chứa dung tích lớn còn hạn chế.

Đáng chú ý, khoảng 97,9% tổng nhu cầu nước trên lưu vực được sử dụng cho nông nghiệp, nhưng hiệu quả sử dụng nước còn thấp, với giá trị nước cấu thành trong các hoạt động sản xuất chỉ đạt khoảng 0,66 USD/m³. Đây là những yếu tố đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương thức quản lý, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và nâng cao khả năng ứng phó với các tình huống bất lợi.

Bảo đảm nước sinh hoạt, chuẩn bị nguồn cấp dự phòng


Để hạn chế nguy cơ thiếu nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương rà soát, cập nhật phương án cấp nước an toàn theo từng kịch bản nguồn nước đối với các công trình cấp nước tập trung. Cơ quan chuyên môn cần theo dõi lượng nước dự trữ, công suất cấp nước thực tế của từng nhà máy và khu vực, đồng thời xác định số hộ dân có nguy cơ bị ảnh hưởng để chủ động phương án điều hành.

Các địa phương cần đánh giá khả năng hỗ trợ cấp nước giữa các nhà máy và khu vực lân cận, giảm tỷ lệ thất thoát nước sạch, chuẩn bị phương án tích trữ và cấp nước dự phòng cho đô thị, vùng ven biển, vùng cù lao và bán đảo Cà Mau. Chất lượng nước trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh thủy lợi phục vụ sinh hoạt cũng cần được theo dõi chặt chẽ.

Đối với các nhà máy khai thác nước mặt, yêu cầu đặt ra là xây dựng phương án ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn; xác định lượng nước có thể dự trữ, thời gian duy trì cấp nước theo từng mức công suất, nguồn nước thay thế và phương tiện vận chuyển khi cần thiết. Các điểm cấp nước tập trung cần được xác định trước để sẵn sàng phục vụ người dân.

Việc theo dõi độ mặn, mực nước và chất lượng nước tại các cửa lấy nước cần được tăng cường, qua đó chủ động lấy nước ngọt, bổ sung vào hồ điều tiết hoặc bể chứa trước khi độ mặn tăng cao. Các nhà máy đồng thời phải phối hợp với đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi để lựa chọn thời điểm lấy nước phù hợp.

Với các nhà máy khai thác nước dưới đất, cần kiểm tra công suất thực tế của từng giếng, mực nước động, chất lượng nước, tình trạng máy bơm và thiết bị xử lý. Việc vận hành luân phiên các giếng phải được thực hiện nhằm tránh tập trung khai thác kéo dài tại một vị trí. Những khu vực bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn cần được ưu tiên bảo đảm nước sinh hoạt.

Đối với các công trình có nguy cơ phải dừng lấy nước hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu, Bộ yêu cầu sớm xây dựng phương án huy động nguồn thay thế, ưu tiên cấp nước cho cơ sở y tế, trường học và các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu.

Cùng với đó, các địa phương cần rà soát những hồ thủy lợi, hồ chứa có khả năng bổ sung nguồn nước sinh hoạt, như hồ ÔtukSa, Ô Tà Sóc, Soài So, hệ thống hồ Ông Thoại, hồ Vị Thủy, Kênh Lấp, U Minh, Rạch Giá, Láng Thé, Lạc Địa và các hồ chứa phù hợp khác, để chuẩn bị phương án khai thác khi xảy ra hạn hán, thiếu nước.

Khả năng khai thác các giếng khoan đã được bàn giao từ những đề án, dự án điều tra, đánh giá, tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất cũng cần được khẩn trương rà soát. Các giếng dự phòng trong kế hoạch cấp nước an toàn của doanh nghiệp cấp nước, khu công nghiệp và khu kinh tế phải được kiểm tra, bảo dưỡng, sẵn sàng đưa vào sử dụng.

Bộ cũng đề nghị xem xét kết hợp hoặc luân phiên khai thác nước mặt và nước dưới đất; đánh giá khả năng nâng công suất các công trình cấp nước tập trung ở đô thị, nông thôn để bổ sung nguồn cho những khu vực thiếu hụt nghiêm trọng, phù hợp với quy định và điều kiện thực tế.

Các địa phương cần đôn đốc hoàn thành hệ thống chuyển nước liên vùng, tiếp nhận nguồn nước thô từ công trình Trạm bơm nước thô Nhà máy nước Đồng Tâm và hoàn thành công trình hồ trữ nước Dương Đông 2 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Đồng thời, tăng cường hướng dẫn người dân thu gom, tích trữ và sử dụng nước mưa phục vụ sinh hoạt.

Điều tiết thủy lợi linh hoạt, điều chỉnh sản xuất phù hợp


Đối với hệ thống thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các địa phương và đơn vị quản lý, vận hành xây dựng, cập nhật phương án điều tiết nước ứng phó El Niño trong mùa khô 2026–2027, bảo đảm nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt.

Các phương án cần được xây dựng riêng cho khu vực cuối hệ thống, vùng ven biển và những nơi có nguy cơ thiếu nguồn bổ cập nước ngọt, đặc biệt tại hệ thống Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre và Nam Bến Tre.

Cơ quan chức năng cần phối hợp với địa phương rà soát, đề xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ phù hợp tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước và xâm nhập mặn cao, như Bắc Cà Mau, Long Phú – Tiếp Nhật, Gò Công và vùng mặn – ngọt thuộc hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít.

Việc vận hành liên hệ thống cũng cần được tăng cường tại Đồng Tháp Mười, khu vực kết nối giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng Tây sông Hậu, hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé, Quản Lộ Phụng Hiệp và Ô Môn – Xà No. Các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ trong điều tiết, phân phối nguồn nước; linh hoạt điều chỉnh phương thức vận hành theo diễn biến dòng chảy và xâm nhập mặn, đồng thời chủ động lấy nước khi độ mặn còn trong giới hạn cho phép để tích trữ tối đa.

Bên cạnh giải pháp vận hành, Bộ nhấn mạnh yêu cầu sớm xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành hệ thống thủy lợi thông minh. Mục tiêu là đáp ứng nhu cầu nước thực tế, nâng cao hiệu quả khai thác, hạn chế thất thoát và lãng phí nước ngọt, đồng thời tăng khả năng tích trữ trong các hệ thống hiện có, giảm nhu cầu đầu tư công trình mới trong tương lai.

Mô hình quản lý hệ thống thủy lợi Kênh Đông – Củ Chi của Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác dịch vụ thủy lợi Thành phố Hồ Chí Minh được nêu như một kinh nghiệm cần phát huy trong ứng phó El Niño.

Trong quá trình vận hành, các đơn vị cần chia sẻ dữ liệu, cập nhật tình hình nguồn nước và thông báo thường xuyên, rõ ràng cho người dân về lịch lấy nước, điều tiết nước. Việc cung cấp thông tin kịp thời giúp người dân, cơ sở sản xuất chủ động kế hoạch sử dụng nước, hạn chế thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn.

Đối với các vùng trồng cây ăn quả tập trung và cây nông nghiệp có giá trị kinh tế cao tại Đồng Tháp, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, Bộ yêu cầu tổ chức tích trữ nước ngọt trong hệ thống kênh, hồ, ao và ô bao để phục vụ mùa khô. Đặc biệt, cần chú trọng bảo vệ những loại cây nhạy cảm với độ mặn như sầu riêng và hoa kiểng tại vùng hạ nguồn thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp.

Các địa phương đồng thời phải rà soát kế hoạch sản xuất nông nghiệp, điều chỉnh lịch xuống giống vụ Đông Xuân và Hè Thu để tránh thời kỳ xâm nhập mặn tăng cao, thiếu hụt nước ngọt. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi và diện tích nuôi trồng thủy sản cần được bố trí phù hợp với khả năng cung cấp nước. Tại những khu vực không bảo đảm nguồn nước, cần khẩn trương rà soát, cắt giảm diện tích gieo trồng nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại.

Song song với các giải pháp bảo đảm nguồn cấp và điều tiết nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tăng cường kiểm soát nguồn thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt vào khu vực hạ lưu sông Tiền, sông Hậu.

Công tác kiểm soát cần tập trung tại các điểm lấy nước của những nhà máy cấp nước lớn, như Trạm bơm nước thô Nhà máy nước Đồng Tâm, Nhà máy nước Cần Thơ, Nhà máy nước Cần Thơ 1 và Nhà máy nước sông Hậu. Chất lượng nước tại các hồ chứa, hệ thống kênh thủy lợi phục vụ cấp nước sinh hoạt cũng cần được bảo vệ, giám sát chặt chẽ.

Các địa phương phải sớm triển khai giải pháp quản lý nhu cầu, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nước. Trong đó, cần rà soát định mức, kế hoạch sử dụng nước của các ngành và đơn vị sử dụng nước lớn; đẩy mạnh tưới tiết kiệm, tưới luân phiên, giảm thất thoát trên hệ thống kênh dẫn, tăng cường tuần hoàn và tái sử dụng nước trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ.

Việc tiết giảm nhu cầu sử dụng nước cần được thực hiện trên cơ sở dự báo nguồn nước, thay vì chờ đến khi thiếu nước mới triển khai. Các địa phương cần xác định trước từng cấp độ tiết giảm và thứ tự ưu tiên phân bổ nước, trước hết bảo đảm nước sinh hoạt, các nhu cầu thiết yếu, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường và an toàn hệ thống.

Để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước, Bộ đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành và chính quyền cấp xã, phường, đặc khu tuyên truyền, rà soát, đôn đốc các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký và cấp phép theo quy định, trên cơ sở Văn bản số 3676/BNNMT-TNN ngày 15/4/2026 và các giải pháp tại Báo cáo số 10411/BC-BNNMT.

Các địa phương cũng cần tăng cường phối hợp, cung cấp và chia sẻ dữ liệu tài nguyên nước với Cục Quản lý tài nguyên nước để khẩn trương xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long; đồng thời xây dựng, tổ chức thực hiện phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước khi xảy ra hạn hán, thiếu nước.

Với nguy cơ mùa khô 2026–2027 có thể diễn biến bất lợi, việc triển khai đồng bộ các giải pháp ngay từ năm 2026 có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng bảo đảm an ninh nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long. Từ tích trữ nước ngọt, bảo đảm cấp nước sinh hoạt đến điều chỉnh sản xuất, kiểm soát nguồn thải và sử dụng nước tiết kiệm, các địa phương cần chủ động chuẩn bị phương án ứng phó, giảm thiểu tác động của El Niño đối với đời sống người dân và hoạt động sản xuất trên toàn lưu vực.

Khánh An