Truyền thông xanh trên mạng xã hội và bài toán tránh tình trạng “dã tràng xe cát”
Bảo vệ môi trường - Ngày đăng : 14:12, 29/10/2026
Truyền thông xanh trên mạng xã hội và bài toán tránh tình trạng “dã tràng xe cát”
Mạng xã hội không chỉ là không gian kết nối, chia sẻ mà còn trở thành nơi những người trẻ lan tỏa tinh thần sống xanh. Qua những hình ảnh, thước phim ghi lại hành trình dọn rác, khơi thông dòng chảy, các “chiến sĩ xanh” đang đưa câu chuyện môi trường đến gần cộng đồng hơn, biến sự chú ý trên màn hình thành những hành động thiết thực ngoài đời sống.
Theo báo cáo Digital 2026: Vietnam của DataReportal, Việt Nam có khoảng 79 triệu danh tính người dùng mạng xã hội vào tháng 10/2025, tương đương 77,6% dân số. Cùng thời điểm, số người sử dụng Internet đạt khoảng 85,6 triệu, với tỷ lệ thâm nhập Internet là 84,2%. Những con số này cho thấy mạng xã hội đã trở thành một không gian truyền thông có độ phủ rộng trong đời sống người Việt.

Trong dòng chảy nội dung liên tục ấy, các vấn đề môi trường có cơ hội tiếp cận công chúng bằng những hình thức gần gũi, sinh động hơn. Đây cũng là hướng đi góp phần cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi người dân trong xây dựng môi trường sống xanh, sạch, bền vững.

Sự thay đổi không chỉ nằm ở cách truyền tải thông điệp, mà còn ở cách công chúng tiếp nhận vấn đề. Một hình ảnh trực quan có thể khiến người xem chú ý; một câu chuyện chân thực có thể khơi gợi sự đồng cảm; và một lời kêu gọi đúng thời điểm có thể trở thành động lực để người xem tham gia hoạt động cộng đồng.
Dẫu vậy, lượt xem, lượt chia sẻ hay những bình luận hưởng ứng chưa đủ để khẳng định một chiến dịch đã tạo ra thay đổi thực chất. Giá trị của truyền thông môi trường còn nằm ở việc thông điệp có được chuyển hóa thành nhận thức, thói quen và hành động bền vững hay không.
Làn sóng "Truyền thông xanh": Khi rác thải trở thành xu hướng của nhóm Hà Nội Xanh

Cuối năm 2022, Nguyễn Tiến Huy, sinh năm 1995, thành lập nhóm Hà Nội Xanh với mong muốn góp phần làm cho môi trường sống trở nên xanh, sạch, đẹp. Những ngày đầu, Hà Nội Xanh chỉ có 3 thành viên. Công việc chủ yếu là trực tiếp thu gom rác, xử lý những điểm ô nhiễm trong khả năng của nhóm. Nhưng để những hoạt động ấy không chỉ dừng lại ở một nhóm nhỏ, các thành viên bắt đầu quay video và đăng tải lên mạng xã hội, với mong muốn lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường, đồng thời khuyến khích nhiều người cùng tham gia.
Từ đây, hoạt động dọn rác có thêm một vai trò mới: trở thành câu chuyện truyền thông xanh.

Thay vì chỉ nói rằng một dòng sông đang bị ô nhiễm, video cho người xem thấy rác thải hiện diện như thế nào và con người có thể làm gì. Những hình ảnh lao động trực tiếp, khối lượng rác được thu gom và sự thay đổi của các địa điểm sau mỗi buổi dọn vệ sinh giúp công chúng hình dung rõ hơn về thực trạng ô nhiễm.
Sau hơn hai tháng hoạt động, nhóm tăng từ 3 thành viên lên gần 200 người, và đến hiện tại con số ấy đã tăng lên khoảng 1.000 tình nguyện viên. Sau gần 4 năm hoạt động, nhóm tổ chức hơn 280 buổi ra quân, thu hút khoảng 20.000 lượt tình nguyện viên, thu gom hơn 1.000 tấn rác, xử lý gần 100 điểm đen và làm sạch khoảng 30 km sông, kênh mương.

Phó Chủ nhiệm CLB Hà Nội Xanh, anh Nguyễn Doãn Nam Linh chia sẻ: “Hà Nội Xanh chủ yếu truyền thông trên ba nền tảng mạng xã hội là Facebook, TikTok và YouTube để cập nhật hoạt động, chia sẻ nội dung về môi trường và thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Hiện nay, fanpage của CLB có hơn 122.000 người theo dõi, tài khoản TikTok có hơn 248.000 người theo dõi. Một số video ngắn đạt gần 20 triệu lượt xem. Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường, thu hút thêm sự tham gia của cộng đồng và đưa những hành động xanh đến gần hơn với mọi người”.
Theo TS. Đỗ Thị Thu Thủy, Trưởng khoa Viết văn, Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, với các sản phẩm truyền thông môi trường như Hà Nội Xanh, thước đo quan trọng nhất không chỉ nằm ở chất lượng video hay năng lực của người sáng tạo, mà ở sự thay đổi của công chúng, từ nhận thức, thái độ đến hành động thực tế.

Chính câu chuyện hàng nghìn tình nguyện viên trong nước và quốc tế từ xem video đến trực tiếp lội bùn, vớt rác tại các dòng sông, kênh mương ô nhiễm ở Hà Nội là minh chứng cho khả năng chuyển hóa sức lan tỏa trên mạng xã hội thành hành động ngoài đời thực. Từ đó, xây dựng cầu nối vô hình giữa những người có chung mối quan tâm tìm thấy nhau, chia sẻ động lực và tham gia hoạt động thực tế.
Truyền thông xanh và bài toán tránh tình trạng “dã tràng xe cát”
Một địa điểm sạch hơn sau chiến dịch là kết quả có thể quan sát, nhưng chưa đồng nghĩa với việc ô nhiễm đã được xử lý tận gốc. Giá trị lâu dài của truyền thông xanh còn nằm ở khả năng thúc đẩy cộng đồng thay đổi hành vi và cùng duy trì môi trường sống sạch hơn.

Theo TS. Đỗ Thị Thu Thủy đã chia sẻ, thước đo cốt lõi của truyền thông môi trường là sự thay đổi của công chúng từ nhận thức đến hành vi. Tuy nhiên bà cũng lập luận thêm rằng: “Ranh giới giữa lan tỏa giá trị môi trường và lợi dụng môi trường để thu hút tương tác nằm ở mục đích. Nếu môi trường là mục tiêu cốt lõi, việc quay phim, chụp ảnh và đăng tải có thể giúp lan tỏa hành động tích cực, thu hút thêm nguồn lực xã hội. Ngược lại, nếu môi trường chỉ là phương tiện để đạt lượt xem, lượt thích, người theo dõi hoặc tài trợ, hoạt động dễ mất đi ý nghĩa ban đầu. Bà cũng nhấn mạnh yêu cầu minh bạch thông tin, nhất quán về thông điệp và cảnh giác với việc dàn dựng nội dung nhằm tăng tương tác.”
Phải chăng, tính chân thực là yếu tố rất quan trọng khi các tình nguyện viên mặc lên mình chiếc áo xanh, hành động vì sông xanh, và thực hiện truyền thông xanh...
Chuyên gia truyền thông số Nguyễn Huy Thân (Giám đốc Công ty Truyền thông và Công nghệ số Huy Thân Entertainment), cũng đề cao tính chân thực khi chia sẻ về “tác động hai mặt của mạng xã hội đối với nhận thức, tư duy và hành vi của giới trẻ hiện nay trong các hoạt động bảo vệ môi trường”. Chuyên gia cho rằng tính liên tục và tính chân thực là hai tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của các chiến dịch bảo vệ môi trường. Nếu chỉ tổ chức trong thời gian ngắn rồi dừng lại, chiến dịch khó tạo ra thay đổi bền vững, thậm chí khiến cộng đồng giảm niềm tin và sự hào hứng tham gia. Bên cạnh đó, nội dung truyền thông cần phản ánh trung thực những hoạt động thực tế, tránh dàn dựng để thu hút tương tác mà làm sai lệch ý nghĩa của chiến dịch.
Trong nghiên cứu về hoạt động xã hội trên môi trường số, hiện tượng slacktivism thường được dùng để chỉ hình thức ủng hộ ít tốn công sức, chẳng hạn bấm thích hoặc chia sẻ, nhưng chưa chắc dẫn đến hành động thực tế. Với truyền thông môi trường, thách thức đặt ra là làm thế nào để chuyển sự quan tâm trực tuyến thành thay đổi hành vi ngoài đời sống, thay vì để chiến dịch nhanh chóng mất sức hút khi hiệu ứng đám đông qua đi. Điều này đòi hỏi các chiến dịch phải tạo được sự kết nối giữa hoạt động trực tuyến và những thay đổi cụ thể trong đời sống.
Theo TS. Tống Ngọc Thanh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nước và Môi trường Việt Nam (nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia), để tránh tình trạng “dã tràng xe cát” cần thay đổi cách tổ chức, một chiến dịch làm sạch không nên kết thúc khi những bao rác đã được đưa lên bờ. Ngay từ đầu phải có phương án cho cả giai đoạn trước, trong và sau chiến dịch.

Ông xác định nguồn phát sinh rác là yếu tố quan trọng để hạn chế tình trạng tái ô nhiễm. Rác có thể xuất phát từ hoạt động sinh hoạt của người dân tại chỗ, nhưng cũng có thể theo hệ thống cống thoát nước hoặc từ khu vực thượng lưu trôi về. Vì vậy, nếu chỉ tập trung thu gom mà chưa xử lý nguyên nhân, tình trạng ô nhiễm có thể tiếp diễn.
Để đánh giá hiệu quả lâu dài, ông đề xuất theo dõi định kỳ các điểm sau làm sạch, chẳng hạn sau một tháng, ba tháng và sáu tháng. Việc theo dõi không chỉ dừng ở lượng rác thu gom mà còn cần ghi nhận tình trạng tái xả rác, công tác bàn giao cho đơn vị vận chuyển và phản ánh của người dân. Các thông tin này có thể được cập nhật trên bản đồ hoặc kênh tiếp nhận chung của địa phương, phục vụ công tác giám sát và duy trì kết quả làm sạch.
Ở góc độ Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Tiến sĩ Tống Ngọc Thanh cho rằng các tổ chức hội, chuyên gia và cơ quan chuyên môn có thể hỗ trợ kết nối, tư vấn phương pháp theo dõi và góp ý giải pháp phù hợp với từng địa bàn. Khi hành động tình nguyện được gắn với dịch vụ công, với trách nhiệm của cộng đồng và với kế hoạch phục hồi nguồn nước, những kết quả ban đầu sẽ có cơ hội được duy trì lâu dài.

Mạng xã hội không thể thay thế các giải pháp quản lý chất thải hay xử lý ô nhiễm, nhưng có thể mở rộng không gian để những vấn đề môi trường được nhìn thấy, thảo luận và thúc đẩy hành động. Giá trị của truyền thông xanh vì thế không dừng ở việc đưa một điểm ô nhiễm cụ thể lên xu hướng, mà còn nằm ở khả năng duy trì sự quan tâm tới vấn đề môi trường nói chung khi màn hình đóng lại. Khi sức lan tỏa trên mạng được kết nối với hành động thực tế, truyền thông xanh mới có cơ hội vượt khỏi giới hạn của một trào lưu để tạo nên giá trị bền vững.
.png)