Đưa quy hoạch trở thành trụ cột bảo đảm an ninh nguồn nước

An ninh nguồn nước - Ngày đăng : 15:00, 02/11/2026

Trước áp lực gia tăng nhu cầu sử dụng nước, biến đổi khí hậu và sự phân bố nguồn nước không đồng đều, công tác quy hoạch đang được đổi mới theo hướng gắn quản lý tài nguyên nước với phát triển hạ tầng thủy lợi. Không chỉ dừng lại ở việc xác định tiềm năng, hiện trạng nguồn nước, quy hoạch cần trở thành công cụ điều hòa, phân phối nước hiệu quả, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, địa phương và các đối tượng sử dụng.
An ninh nguồn nước

Đưa quy hoạch trở thành trụ cột bảo đảm an ninh nguồn nước

Minh An • 02/11/2026 15:00

Trước áp lực gia tăng nhu cầu sử dụng nước, biến đổi khí hậu và sự phân bố nguồn nước không đồng đều, công tác quy hoạch đang được đổi mới theo hướng gắn quản lý tài nguyên nước với phát triển hạ tầng thủy lợi. Không chỉ dừng lại ở việc xác định tiềm năng, hiện trạng nguồn nước, quy hoạch cần trở thành công cụ điều hòa, phân phối nước hiệu quả, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, địa phương và các đối tượng sử dụng.

Gắn quy hoạch tài nguyên nước với hạ tầng thủy lợi

Luật Tài nguyên nước năm 2023 đánh dấu bước tiếp tục hoàn thiện tư duy quản lý tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, thống nhất trên cơ sở lưu vực sông. So với Luật Tài nguyên nước năm 2012, những quy định mới không chỉ kế thừa nguyên tắc quản lý theo lưu vực mà còn mở rộng tầm nhìn chiến lược, chú trọng điều hòa, phân phối, phục hồi và phát triển nguồn nước, hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

Theo Điều 11 của Luật Tài nguyên nước năm 2023, Chiến lược tài nguyên nước quốc gia được xây dựng cho giai đoạn 10 năm, tầm nhìn 50 năm. Việc kéo dài tầm nhìn chiến lược cho thấy yêu cầu quản lý tài nguyên nước cần được đặt trong mối quan hệ với những biến động dài hạn về khí hậu, phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng dân số và nhu cầu sử dụng nước.

an-ninh-nguon-nuoc.jpg
Ảnh minh họa

Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nguồn nước tại nhiều khu vực phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian. Tình trạng thiếu nước vào mùa khô, áp lực cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, cùng những tác động ngày càng rõ nét của hạn hán, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan đòi hỏi công tác quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, đồng thời đủ linh hoạt để thích ứng với những thay đổi thực tế.

Một bước điều chỉnh đáng chú ý được xác lập tại Luật số 146/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025, sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, trong đó có Luật Tài nguyên nước năm 2023. Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Theo quy định mới, hệ thống quy hoạch tài nguyên nước được tổ chức theo hướng tăng cường tính tích hợp, đồng bộ giữa quản lý nguồn nước, phát triển hạ tầng thủy lợi và phòng, chống thiên tai. Hệ thống này gồm quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi và phòng, chống thiên tai là quy hoạch ngành; cùng quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước và hạ tầng thủy lợi lưu vực sông liên tỉnh là quy hoạch chi tiết ngành, cụ thể hóa quy hoạch cấp trên.

Điểm đáng chú ý là nguồn nước và hạ tầng phục vụ khai thác, điều tiết, phân phối nước được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ hơn. Nếu quy hoạch chỉ tập trung đánh giá trữ lượng, khả năng khai thác và nhu cầu sử dụng nước mà chưa gắn với năng lực tích trữ, vận chuyển, điều tiết của hệ thống công trình thì hiệu quả phân bổ nguồn nước trên thực tế sẽ bị hạn chế.

Vì vậy, việc kết nối quy hoạch tài nguyên nước với hạ tầng thủy lợi tạo cơ sở để tính toán đồng bộ khả năng cấp nước, năng lực vận hành hồ chứa, hệ thống dẫn nước và các phương án cấp nước dự phòng. Đối với công tác phòng, chống lũ, quy hoạch cũng cần xem xét mối quan hệ giữa điều tiết hồ chứa, khả năng tiêu thoát nước, duy trì dòng chảy và yêu cầu bảo đảm an toàn cho khu vực hạ du.

Cách tiếp cận này hướng tới sử dụng nguồn nước đa mục tiêu, hài hòa lợi ích giữa các địa phương, khu vực thượng lưu và hạ lưu, giữa nhu cầu phát triển kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.

Theo quy định mới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch ngành, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong việc lập, phê duyệt quy hoạch chi tiết lưu vực sông liên tỉnh. Việc lập quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước và hạ tầng thủy lợi lưu vực sông liên tỉnh theo quy định mới được thực hiện từ ngày 1/1/2027.

Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện hệ thống quy hoạch về mặt pháp lý mà còn phải bảo đảm sự liên thông giữa các cấp quy hoạch, giữa định hướng phát triển và khả năng tổ chức thực hiện tại từng lưu vực sông.

Hoàn thiện quy hoạch trên cơ sở đặc điểm từng lưu vực sông


Thời gian qua, công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước được triển khai theo hướng tăng cường quản lý tổng hợp lưu vực sông, gắn bảo vệ, khai thác và sử dụng nước với điều hòa, phân phối nguồn nước.

Ở cấp quốc gia, Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2022. Kế hoạch thực hiện quy hoạch được ban hành vào tháng 2/2024, tạo cơ sở triển khai các nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên phạm vi cả nước.

Song song với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng Chiến lược tài nguyên nước quốc gia đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2075. Dự thảo đã được gửi lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan, tập trung vào định hướng quản trị nguồn nước dài hạn, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ở cấp lưu vực, tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch tiếp tục được đẩy nhanh. Tính đến cuối tháng 10/2026, đã có 10 trong tổng số 13 quy hoạch tổng hợp lưu vực sông liên tỉnh được phê duyệt, gồm các lưu vực Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã, Hương, Sê San, Srêpốk, Đồng Nai, Cửu Long, Ba và Vu Gia - Thu Bồn.

Riêng trong tháng 9/2026, hai quy hoạch lưu vực sông Ba và Vu Gia - Thu Bồn cùng vùng phụ cận được phê duyệt, với tầm nhìn đến năm 2050. Ba quy hoạch còn lại gồm sông Cả, Trà Khúc và Kôn - Hà Thanh tiếp tục được hoàn thiện sau quá trình tổ chức thẩm định trong tháng 8 và tháng 10/2026.

Việc xây dựng quy hoạch theo từng lưu vực sông có ý nghĩa quan trọng bởi mỗi lưu vực có đặc điểm riêng về nguồn nước, địa hình, khí hậu, nhu cầu khai thác và khả năng điều tiết. Một phương án phân bổ nước phù hợp với khu vực này chưa chắc có thể áp dụng hiệu quả tại khu vực khác.

Thực tiễn lập quy hoạch tại các lưu vực sông Ba và Vu Gia - Thu Bồn cho thấy xu hướng phân chia không gian quản lý thành các tiểu vùng để đánh giá cụ thể hơn khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước.

Đối với lưu vực sông Ba, quy hoạch được chia thành 8 tiểu vùng, làm cơ sở điều hòa nguồn nước giữa Gia Lai và Đắk Lắk, phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, phát điện và bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, quy hoạch lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng phụ cận được chia thành 4 tiểu vùng, chú trọng phối hợp vận hành các hồ chứa ở thượng lưu, bảo đảm cấp nước cho hạ du và duy trì dòng chảy.

Cách tiếp cận theo tiểu vùng giúp nhận diện rõ hơn những khu vực có nguy cơ thiếu nước, những nơi có khả năng bổ sung nguồn nước và các yêu cầu phối hợp giữa các công trình điều tiết. Qua đó, phương án phân bổ nước có thể được xây dựng sát hơn với điều kiện thực tế, thay vì chỉ dựa trên các chỉ tiêu tổng hợp ở quy mô toàn lưu vực.

Cùng với công tác lập quy hoạch, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước tiếp tục được hoàn thiện. Ngày 17/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch lưu vực sông liên tỉnh, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và công bố các kịch bản nguồn nước được đẩy mạnh, tạo cơ sở để bộ, ngành và địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng nước, đồng thời phối hợp vận hành công trình phù hợp với diễn biến nguồn nước.

Đây là khâu quan trọng để kết nối quy hoạch dài hạn với hoạt động điều hành thường xuyên. Bởi nguồn nước luôn biến động theo mùa, theo năm và chịu tác động của nhiều yếu tố, nên các phương án phân bổ cần được rà soát, cập nhật trên cơ sở thông tin dự báo và khả năng đáp ứng thực tế.

Từ quy hoạch đến hiệu quả điều hòa, phân phối nguồn nước


Mặc dù tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch lưu vực sông đã có những chuyển biến tích cực, thách thức lớn hiện nay vẫn nằm ở khâu tổ chức thực hiện.

Quy hoạch chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi các định hướng về phân bổ nguồn nước được chuyển hóa thành kế hoạch cụ thể, gắn với công trình, nguồn lực đầu tư, trách nhiệm phối hợp và cơ chế giám sát. Nếu thiếu sự kết nối giữa quy hoạch với kế hoạch vận hành, đầu tư hạ tầng và điều hành nguồn nước hằng năm, những mục tiêu đặt ra có thể khó đạt được trong thực tế.

Một trong những khó khăn đáng lưu ý là sự chênh lệch về nguồn nước giữa các mùa. Trong khi một số thời điểm xuất hiện tình trạng dư thừa nước, nguy cơ lũ lụt thì vào mùa khô, nhiều khu vực lại đối mặt với thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Năng lực tích trữ, điều tiết tại một số nơi còn hạn chế, khiến việc phân phối nguồn nước giữa các thời kỳ và giữa các nhóm đối tượng sử dụng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Bên cạnh đó, dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước chưa đồng bộ cũng ảnh hưởng đến chất lượng dự báo và khả năng điều hành. Việc thiếu thông tin đầy đủ, cập nhật về nguồn nước, nhu cầu sử dụng, năng lực công trình và diễn biến khai thác có thể làm giảm độ chính xác của các phương án phân bổ, nhất là trong những tình huống hạn hán, thiếu nước kéo dài.

Để khắc phục những hạn chế này, trước hết cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các quy hoạch lưu vực sông còn lại, đồng thời chuẩn bị đầy đủ các điều kiện triển khai hệ thống quy hoạch mới theo Luật số 146/2025/QH15 từ ngày 1/1/2027.

Cùng với đó, cần tăng cường hướng dẫn các địa phương cụ thể hóa quy hoạch thành kế hoạch thực hiện, xác định rõ các công trình ưu tiên, nhu cầu vốn đầu tư, tiến độ triển khai và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. Việc lựa chọn dự án cần dựa trên mức độ cấp thiết, khả năng cải thiện an ninh nguồn nước và hiệu quả sử dụng nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải hoặc thiếu sự kết nối giữa các công trình.

Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước, xây dựng cơ sở dữ liệu và nâng cao năng lực dự báo cũng cần được xem là nhiệm vụ nền tảng. Dữ liệu đầy đủ, thống nhất và được cập nhật thường xuyên sẽ hỗ trợ đánh giá chính xác hơn khả năng đáp ứng nguồn nước, nhận diện sớm nguy cơ thiếu nước và xây dựng phương án điều hành phù hợp cho từng lưu vực, từng tiểu vùng.

Đặc biệt, quy hoạch cần được kết nối chặt chẽ với các kịch bản nguồn nước hằng năm và phương án điều hòa, phân phối nước trong điều kiện hạn hán, thiếu nước. Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý có thể chủ động xác định khu vực có nguy cơ thiếu hụt, xây dựng phương án cấp nước dự phòng và phối hợp vận hành công trình nhằm hạn chế những tác động bất lợi đối với đời sống dân sinh và hoạt động sản xuất.

Trong các tình huống thiếu nước, việc phân bổ cần tuân thủ các nguyên tắc, thứ tự ưu tiên theo quy định pháp luật, trước hết bảo đảm nhu cầu nước sinh hoạt thiết yếu; đồng thời xem xét nhu cầu của các ngành kinh tế, yêu cầu duy trì dòng chảy và bảo vệ hệ sinh thái. Việc phân bổ phải dựa trên khả năng nguồn nước thực tế, tránh tình trạng khai thác vượt quá khả năng đáp ứng hoặc để xảy ra xung đột giữa các đối tượng sử dụng nước.

Một yêu cầu khác là nâng cao hiệu quả khai thác, vận hành hệ thống công trình hiện có, kết hợp đầu tư bổ sung hạ tầng tại những khu vực thực sự cần thiết. Việc phối hợp vận hành hồ chứa, hệ thống dẫn nước và các công trình điều tiết cần được thực hiện trên cơ sở thông tin dự báo, bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu cấp nước, phát điện, phòng, chống lũ và duy trì dòng chảy môi trường.

Song song với điều tiết và phân phối, công tác phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần được quan tâm đúng mức. An ninh nguồn nước không chỉ phụ thuộc vào lượng nước có thể khai thác mà còn gắn với chất lượng nước, khả năng phục hồi của hệ sinh thái và tính bền vững của quá trình sử dụng.

Về lâu dài, hiệu quả quản lý tài nguyên nước cần được đánh giá không chỉ bằng số lượng quy hoạch được lập, phê duyệt mà còn bằng khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn: mức độ chủ động cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất, khả năng giảm thiểu rủi ro thiếu nước, hiệu quả phối hợp vận hành công trình và mức độ bảo vệ các hệ sinh thái phụ thuộc vào nước.

Đưa quy hoạch trở thành công cụ điều hòa, phân phối nguồn nước hiệu quả vì thế đòi hỏi sự chuyển biến đồng bộ từ tư duy quản lý đến cơ chế thực hiện. Khi quy hoạch được gắn với hạ tầng, dữ liệu, dự báo và trách nhiệm của từng chủ thể, nguồn nước mới có thể được phân bổ hợp lý hơn, sử dụng tiết kiệm hơn và bảo vệ bền vững hơn, tạo nền tảng vững chắc cho bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.

Minh An