Hội nghị WNICBR lần thứ 13: Tìm giải pháp phát triển đô thị xanh gắn với bảo tồn hệ sinh thái biển
Phát triển xanh - Ngày đăng : 10:30, 07/11/2026
Hội nghị WNICBR lần thứ 13: Tìm giải pháp phát triển đô thị xanh gắn với bảo tồn hệ sinh thái biển
Hội nghị lần thứ 13 Mạng lưới các Khu dự trữ sinh quyển thế giới ven biển và hải đảo (WNICBR) tại TP.HCM tập trung tìm kiếm giải pháp hài hòa giữa phát triển đô thị, tăng trưởng kinh tế với bảo tồn hệ sinh thái biển, ứng phó biến đổi khí hậu. Đây là định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy mô hình đô thị xanh, phát triển bền vững tại các khu vực ven biển và hải đảo.
Ngày 6/11, tại TP.HCM, Hội nghị lần thứ 13 Mạng lưới các Khu dự trữ sinh quyển thế giới ven biển và hải đảo (WNICBR) chính thức khai mạc với chủ đề Cân bằng phát triển đô thị với phát triển bền vững môi trường tại các Khu dự trữ sinh quyển ven biển và hải đảo.
Hội nghị diễn ra trong hai ngày 6-7/11, quy tụ đại diện các khu dự trữ sinh quyển, tổ chức quốc tế và cơ quan nghiên cứu nhằm trao đổi kinh nghiệm, thúc đẩy hợp tác, tìm kiếm giải pháp kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, đô thị với bảo tồn thiên nhiên và ứng phó biến đổi khí hậu.

Cân bằng phát triển đô thị với bảo tồn hệ sinh thái ven biển biến đổi khí hậu
Trong bối cảnh nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học và tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng, yêu cầu đặt ra đối với các đô thị ven biển không chỉ là mở rộng không gian phát triển mà còn phải bảo vệ những hệ sinh thái tự nhiên có vai trò điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ biển và duy trì sinh kế cộng đồng.
Tại hội nghị, lãnh đạo TP.HCM nhấn mạnh bảo tồn thiên nhiên không phải là yếu tố đối lập với tăng trưởng kinh tế, mà cần được xem là nền tảng cho sự thịnh vượng lâu dài. Quan điểm này đặt ra yêu cầu đổi mới cách thức tổ chức không gian đô thị, trong đó các hoạt động xây dựng, sản xuất, dịch vụ và du lịch phải tính đến khả năng chịu tải của hệ sinh thái.
Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP.HCM hiện có diện tích trên 6.700 km², dân số hơn 14 triệu người. Quy mô mới mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, đô thị và kinh tế biển, song cũng đặt ra áp lực lớn hơn đối với công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và gìn giữ các hệ sinh thái tự nhiên.
Một trong những trọng tâm được thành phố đề cập là phát huy giá trị Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ. Được UNESCO công nhận năm 2000, đây là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt đối với bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu, hạn chế tác động của sóng biển và bảo vệ sinh kế người dân ven biển.
TP.HCM định hướng phát triển Cần Giờ thành không gian đô thị biển xanh, thông minh, thân thiện với môi trường, gắn kết bảo tồn hệ sinh thái với du lịch sinh thái và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng. Định hướng này cho thấy việc phát triển đô thị ven biển cần được đặt trong mối quan hệ tổng thể với cảnh quan tự nhiên, tài nguyên sinh thái và lợi ích lâu dài của người dân.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, thành phố đề xuất ba hướng hợp tác trọng tâm. Trước hết là thúc đẩy mô hình phát triển hài hòa giữa đô thị và thiên nhiên, bảo đảm các hoạt động kinh tế, xây dựng và du lịch không vượt quá sức chịu tải của hệ sinh thái. Tiếp đó là tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và huy động tài chính xanh phục vụ bảo tồn, quan trắc, quản lý tài nguyên, đồng thời khai thác tiềm năng carbon xanh và carbon xanh dương. Định hướng thứ ba là đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm, gắn bảo tồn thiên nhiên với kinh tế xanh, du lịch sinh thái và tạo dựng sinh kế lâu dài.
Tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy kinh tế xanh và sinh kế bền vững
Ở góc độ hợp tác quốc tế, UNESCO đánh giá Cần Giờ là địa điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động của mạng lưới. Quá trình phục hồi rừng ngập mặn tại đây được bắt đầu từ cuối những năm 1970, sau chiến tranh, với sự tham gia của các tình nguyện viên và nguồn cây giống đưa từ Cà Mau.
Đến nay, Việt Nam có 12 khu dự trữ sinh quyển thế giới, đứng thứ hai Đông Nam Á về số lượng, trong đó có 7 khu ven biển và hải đảo. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và triển khai các giải pháp bảo tồn hệ sinh thái gắn với phát triển kinh tế - xã hội.
Được thành lập năm 2012, WNICBR kết nối các khu dự trữ sinh quyển tại các vùng đảo và ven biển trên thế giới, tập trung giải quyết những vấn đề chung về đại dương, quản lý vùng ven biển, phát triển đô thị và biến đổi khí hậu. Thông qua mạng lưới, các thành viên có điều kiện thúc đẩy nghiên cứu chung, trao đổi dữ liệu khoa học, tri thức bản địa và chia sẻ những mô hình quản lý, phục hồi hệ sinh thái hiệu quả.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý của Việt Nam là mở rộng diện tích các khu bảo tồn biển và ven biển, hướng tới khoảng 6% diện tích vùng biển quốc gia vào năm 2030. UNESCO kỳ vọng mạng lưới sẽ góp phần hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu này thông qua chia sẻ kinh nghiệm phục hồi hệ sinh thái biển, quản lý tài nguyên và tăng cường kết nối giữa các khu dự trữ sinh quyển.
Tại Việt Nam, UNESCO đã triển khai các dự án liên quan đến rác thải biển và giáo dục đại dương ở Cù Lao Chàm, Cát Bà và Cần Giờ. Những hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, đồng thời thúc đẩy cách tiếp cận bảo tồn dựa trên sự tham gia của người dân và các bên liên quan.
Trong khuôn khổ hội nghị, các đại biểu cũng trao đổi về kinh tế xanh, sinh kế bền vững, kinh tế tuần hoàn, quản lý tài nguyên, quản trị khu dự trữ sinh quyển, chính sách phát triển và thị trường carbon. Đây là những nội dung có ý nghĩa thiết thực trong việc chuyển hóa các mục tiêu bảo tồn thành giải pháp phát triển cụ thể, tạo thêm nguồn lực cho cộng đồng ven biển.
Hội nghị dự kiến thông qua Tuyên bố chung, xác định các định hướng hợp tác trong thời gian tới. Bên cạnh đó, triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm quan hệ hợp tác UNESCO - Việt Nam và trưng bày sản phẩm nông nghiệp từ các khu dự trữ sinh quyển cũng được tổ chức nhằm giới thiệu những giá trị thiên nhiên, văn hóa và sinh kế gắn với bảo tồn.
Việc tăng cường liên kết giữa các khu dự trữ sinh quyển được kỳ vọng tạo thêm động lực để các địa phương ven biển đổi mới mô hình phát triển, khai thác hợp lý lợi thế tự nhiên và nâng cao khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu. Qua đó, bảo tồn hệ sinh thái không chỉ là nhiệm vụ môi trường mà còn trở thành nền tảng cho xây dựng đô thị xanh, kinh tế xanh và phát triển bền vững.
.jpg)