Đưa lúa gạo vào ngành hàng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí metan

Tin tức - Sự kiện - Ngày đăng : 17:00, 17/08/2023

Trả lời chất vấn về những vấn đề liên quan đến an ninh lương thực, cuộc sống của người trồng lúa và đất lúa, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhấn mạnh, phải có tư duy hạt lúa trong nền kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai đề án 1 triệu hecta lúa Đồng bằng sông Cửu Long chất lượng cao, phát thải thấp. Lần đầu tiên chúng ta đưa lúa gạo vào ngành hàng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí metan.
17-lmh.jpg
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, một số đại biểu đã chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan về những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu nông sản, những vấn đề liên quan đến đất lúa và người nông dân làm ra lúa gạo. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cho biết việc đảm bảo nguồn thu nhập cho người nông dân là điều được Bộ hết sức quan tâm, trong đó, việc cải thiện thu nhập không phải chỉ là vấn đề giá cả, mà cần tính toán đến các chi phí…

Tư duy hạt lúa trong nền kinh tế tuần hoàn

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cho biết, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước 3 “biến” lớn: biến đổi khí hậu, biến động thị trường và biến chuyển xu thế tiêu dùng. Trong điều kiện thế giới thay đổi hàng ngày, hàng giờ, những xung đột, những chính sách của các nước thay đổi liên tục, tính dự báo khó có thể cầu toàn, mà cần có sự linh hoạt ngắn hạn.

Trong hoàn cảnh như vậy, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan mong muốn rằng, kỳ vọng vào việc dự báo cần có giới hạn nhất định. Những dự báo tầm dài cần nỗ lực đảm bảo tính chính xác, tuy nhiên, những dự báo ngắn hạn có sự thay đổi liên tục.

Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, theo niên giám thống kê, khảo sát, nông nghiệp là ngành có thu nhập thấp nhất trong các ngành kinh tế. Trong nông nghiệp, người trồng lúa là người có thu nhập thấp nhất. Ở bối cảnh hiện nay, giá gạo tăng hàng ngày, đây cũng là thời cơ cải thiện thu nhập lớn đối với những người nông dân.

“Việc cải thiện thu nhập không phải chỉ là vấn đề giá cả, mà cần tính toán đến các chi phí. Theo tính toán, thời gian qua, việc sản xuất lúa gạo đã giảm được 20 đến 25% chi phí đầu vào, do ứng dụng quy trình canh tác, “ba tăng, ba giảm”, tiết kiệm đất, tiết kiệm nước, tiết kiệm phân, tiết kiệm giống, tiết kiệm thuốc. Chính những chi phí giảm xuống này là thành quả giúp gia tăng thu nhập cho người dân”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói.

Bộ trưởng cho rằng, hiện nay chúng ta đang lo ngại giá cao hơn nữa, có thể làm rối loạn ngành, gây thiếu bền vững. Đó cũng là một vấn đề. Nếu người nông dân nuôi trồng gì chỉ hưởng thu nhập từ sản phẩm đó, thì chưa đúng tinh thần Nghị quyết 19, chuyển từ tăng trưởng đơn giá trị sang tăng trưởng tích hợp, đa giá trị, tạo ra nhiều ngành nghề khác, không gian trồng lúa, thời gian trồng lúa có thể lồng ghép, tạo ra nhiều không gian, thời gian cho các ngành nghề khác. Nếu chúng ta tận dụng tốt quỹ không gian, thời gian đó, chuyển đổi nghề nghiệp, tạo những nghề nghiệp ở nông thôn, thì người nông dân không chỉ hưởng từ thành quả cây lúa, mà có nhiều nguồn thu nhập khác.

Bộ trưởng cũng cho rằng, cần liên kết lại trong hợp tác xã, để có giá ưu đãi do mua nhiều, giúp tăng lợi nhuận. Cần nhìn nhiều chiều hơn về cấu trúc ngành hàng lúa gạo, để có hướng khuyến khích bà con vào hợp tác xã, mua chung, bán chung, hưởng dịch vụ chung, để có thu nhập từ nhiều phân khúc khác nhau, không phải chỉ từ nông sản nuôi trồng, tránh manh mún, nhỏ lẻ, tự phát.

Riêng về Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng cho biết, có đến khoảng 300 ngày trong năm thực hiện xuống giống, do đặc thù xuống theo con nước, nước rút tới đâu xuống giống tới đó, nên không có mùa vụ rõ rệt như ở miền bắc, mà thực hiện xuống giống liên tục. Do vậy, vấn đề gối vụ, tính toán vụ hè thu, thu đông đối với Đồng bằng sông Cửu Long chỉ mang giá trị thống kê.

Tới giờ này, Bộ đã cân đối sản lượng thu hoạch theo từng mùa vụ, qua xây dựng hai mươi năm nay, hệ thống thủy lợi ở vùng này đã phát huy tác dụng, chúng ta đã có bản đồ số hóa để cùng các địa phương rải vụ hoặc tập trung vụ nếu cần thiết, với các điều kiện cho phép. Bộ trưởng khẳng định, trong điều kiện hiện nay, nếu không có thiên tai, với tình hình biến đổi khí hậu ổn định như mấy năm qua, chúng ta hoàn toàn có thể đảm bảo tiêu dùng trong nước cũng như sản lượng xuất khẩu.

Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho biết, 80% diện tích lúa Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 90% sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam không có liên kết, manh mún, nhỏ lẻ. Nhưng người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng rất nhanh, biến đổi khí hậu 100 năm nay bà con đã thích ứng được bằng cách trồng lúa, nuôi tôm; trồng lúa, nuôi cá, tôm; trồng lúa, nuôi vịt; trồng lúa xen giữa rau, màu, 2 vụ lúa 1 vụ màu.

Qua khảo sát thực tế, bà con nông dân cho biết trồng lúa là để nuôi tôm, không có lúa thì không có tôm, không có lúa thì không có cá, cá ăn từ những hạt lúa rơi, lúa sống nhờ những phế phẩm của tôm, của cá, cho nên tích hợp cả một nền kinh tế tuần hoàn và tạo ra giá trị từ lúa cho tới tôm. Khi tôm xuống giá, người dân lại bán lúa, đó là sự “co giãn” của người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói.

Bộ trưởng nhấn mạnh, phải có tư duy hạt lúa trong nền kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai đề án 1 triệu hecta lúa Đồng bằng sông Cửu Long chất lượng cao, phát thải thấp. Lần đầu tiên chúng ta đưa lúa gạo vào ngành hàng thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí metan. Người trồng lúa có thể lấy rơm, rạ làm nấm hoặc làm rất nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ và trên thực tế bà con nông dân đã làm được nhưng quy mô vần còn nhỏ, lẻ. Do vậy, cần phát triển trở thành nền kinh tế nông thôn, khi đó người trồng lúa sẽ tạo ra nhiều giá trị trên mảnh đất của mình, đời sống người dân sẽ được cải thiện hơn.

Tình trạng sụt lún ở ĐBSCL: Cần có sự nghiên cứu tổng thể 

Trả lời chất vấn về tình trạng sạt lở, sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan cho biết, đây là thách thức lớn trong biến đổi khí hậu, nhận được nhiều sự quan tâm, Chính phủ cũng đã tổ chức hội nghị về vấn đề này tại Cần Thơ. Bộ trưởng cho rằng, sụt lún là hệ lụy của địa chất đồng bằng sông Cửu Long khi bị tác động bởi dòng chảy, có hiện tượng mềm đất, khi có chất tải lên khu vực đồng bằng thì dễ gây hiện tượng lún, sụt.

Bộ trưởng cũng cho biết, hiện tượng này có liên quan tới các đập ở thượng nguồn, gây cản trở nước, phù sa. Vấn đề này còn liên quan tới hiện trạng các dòng sông bị ô nhiễm do người dân đồng bằng sông Cửu Long sống chen chúc bên bờ sông, dẫn đến phải khoan nước phục vụ sinh hoạt cũng như nuôi trồng thủy sản, chính việc khoan nước cũng là nguyên nhân gây lún sụt.

Bàn về giải pháp cho vấn đề này, Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đã phối hợp cùng Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ để nghiên cứu một cách tổng thể về hiện tượng sụt lún ở bờ sông đồng bằng sông Cửu Long.

Đối với vấn đề đất trồng lúa, Bộ trưởng cho rằng việc sử dụng đất trồng lúa linh hoạt đã được quy định trong văn bản của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, do đó, để linh hoạt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải giữ lại lớp đất mặt, hoặc khai thác lớp đất mặt ở một tầng cho phép. Bộ đã đưa ra những tiêu chí, quy định về cách thức khai thác, độ cao khai thác để khi cần có thể trở lại thành đất lúa.

Bộ trưởng cũng nêu rõ, các địa phương cần phải vào cuộc tích cực, chấp hành nghiêm ngặt các quy định, để linh hoạt trở lại đất lúa khi có thách thức về an ninh lương thực, đồng thời, tạo điều kiện phân cấp, ủy quyền cho các địa phương để vừa quản lý chặt được đất trồng lúa, vừa tạo điều kiện cho kinh tế địa phương phát triển.

Đối với việc liên kết chuỗi, đưa thành tựu khoa học công nghệ đi từ hệ thống viện, trường, các cơ sở khoa học công nghệ tới thực tiễn sản xuất của người nông dân, Bộ trưởng cho biết đây là vấn đề Bộ đã có trao đổi nhiều lần cùng Bộ Khoa học Công nghệ, hiện nay đang có khoảng trống lớn giữa các sản phẩm, đề tài nghiên cứu khoa học với người nông dân.

Bộ trưởng cho biết, các sản phẩm nghiên cứu khoa học trong thời gian qua, phần nhiều chỉ dừng lại ở mô hình, cần phải hoàn thiện về tính thị trường hóa, thương mại hóa, đảm bảo phù hợp để áp dụng cho các doanh nghiệp, cho bà con nông dân. Bộ đã có chỉ đạo, tất cả những đề tài nghiên cứu khoa học mang tính chất ứng dụng, những tiến bộ kỹ thuật, kể cả của những người nghiên cứu độc lập, hay những người nông dân, nếu đã ứng dụng tốt thì sẽ đánh giá và đưa lên cổng thông tin để quảng bá, nâng cao khả năng tiếp cận, ứng dụng cho các hợp tác xã, bà con nông dân.

Đưa ra nhận định về việc xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản những tháng cuối năm, Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho rằng các khó khăn vẫn hiện hữu, nhu cầu thị trường phục hồi chậm, một số biến động thị trường gần đây đặt ra thêm những thách thức nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội, như: Ấn Độ và một số quốc gia dừng xuất khẩu gạo; Thái Lan khuyến nghị giảm diện tích trồng lúa để tránh hiện tượng El Nino; rủi ro biến đổi khí hậu nhanh hơn dự kiến ảnh hưởng lên canh tác nông nghiệp; sáng kiến ngũ cốc biển đen không được gia hạn…

Để khắc phục khó khăn, tận dụng cơ hội trong bảo đảm an ninh, an toàn nguồn cung thực phẩm trong nước và gia tăng xuất khẩu trong những tháng cuối năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tập trung triển khai một số giải pháp trọng tâm như: Cập nhật, phân tích đánh giá thông tin, diễn biến thị trường một cách toàn diện, cẩn trọng để kịp thời phổ biến, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt khó, tận dụng cơ hội thị trường. Phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương gia tăng, đổi mới tổ chức truyền thông quảng bá chất lượng đặc thù vượt trội của nông sản Việt tại thị trường trong và ngoài nước. Chỉ đạo sản xuất linh hoạt, đảm bảo an ninh, an toàn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và đảm bảo nguồn cung phù hợp với nhu cầu xuất khẩu.

Về dài hạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ưu tiên chỉ đạo hoàn thiện chính sách pháp luật phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản chủ lực. Tổ chức sản xuất nông nghiệp bền vững theo mục tiêu, định hướng tại Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững và các giải pháp cụ thể tại các Đề án đang triển khai: “Thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025”; “Đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản gắn với thị trường tiêu thụ”; “Thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản đến năm 2030”…

Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy nhanh việc xây dựng trình Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Đề án “Phát triển hệ thống logistic nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2050”.

Nông lâm thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu vào 200/224 nước và vùng lãnh thổ

17-lhd.jpg
Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên trả lời chất vấn tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tham gia trả lời chất vấn liên quan đến lĩnh vực phụ trách, Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên khẳng định, những năm qua, giá trị hàng hóa và giá trị xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam liên tục tăng trưởng, đóng góp không nhỏ vào tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa, góp phần quan trọng trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân.

Hiện nông lâm thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu vào 200/224 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, trong đó một số mặt hàng như gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, tôm, cá tra, đồ gỗ đã chiếm một thị phần khá lớn trên thế giới. Tuy nhiên nền kinh tế nông nghiệp nước ta vẫn quy mô nhỏ lẻ, phân tán nên hoạt động nuôi trồng diễn ra tự phát, manh mún và theo phong trào, dẫn đến có lúc không kiểm soát được nguồn cung cho xuất khẩu.

Tổ chức sản xuất còn manh mún khiến chất lượng nông, thủy sản của nước ta không đồng đều, khó kiểm soát vấn đề an toàn và khó áp dụng các chuẩn mực của thế giới về truy xuất nguồn gốc. Vẫn còn thiếu sự liên kết theo chuỗi từ khâu sản xuất, thu gom, chế biến, tiêu thụ. Thiếu sự liên kết, phân công lao động và tổ chức sản xuất nông nghiệp theo lợi thế vùng và địa phương, dẫn đến tính chuyên môn hóa thấp, dễ xảy ra ùn ứ cục bộ về nguồn cung và thị trường. Điệp khúc “được mùa mất giá” vẫn diễn ra.

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng nhận định, xuất khẩu nông sản chủ yếu vẫn là sản phẩm thô, chưa có sản phẩm nông sản mũi nhọn có giá trị gia tăng cao và thương hiệu mạnh. Phát triển thương mại, nông, lâm, thủy sản chủ yếu tập trung vào thị trường xuất khẩu mà chưa quan tâm đúng mức thị trường trong nước, với 100 triệu người tiêu dùng và khả năng tiêu thụ các loại hàng hóa ở các phân khúc khác nhau rất lớn.

Để khắc phục được tình trạng này, thời gian tới, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tham mưu Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của ngành, khẩn trương quy hoạch thành các vùng trồng, vùng nuôi, áp dụng khoa học, công nghệ trong các khâu của quá trình sản xuất. Tăng cường tổ chức sản xuất, xuất khẩu theo chuỗi liên kết, tổ chức hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn tập trung gắn sản xuất với những tín hiệu của thị trường, liên kết nông dân bằng các mô hình hợp tác xã kiểu mới, các khâu sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối, tiêu thụ được đặt trong một chuỗi giá trị với doanh nghiệp.

Tiếp tục đàm phán, mở cửa thị trường, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, kể cả những thị trường truyền thống và những thị trường mới còn nhiều tiềm năng. Xây dựng nội dung đàm phán về mở cửa thị trường, kiểm dịch động, thực vật và yêu cầu kỹ thuật khác liên quan cho hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam và các tiêu chuẩn hàng của Việt Nam xuất đi các thị trường khác.

Đấu tranh hiệu quả với nhưng hàng rào kỹ thuật, thương mại bất hợp lý đối với nông sản Việt Nam để giữ vững thị trường. Theo dõi sát, phát hiện kịp thời hiện tượng gia tăng nhập khẩu đột biến để cùng trao đổi với các bộ, ngành có liên quan, có biện pháp phù hợp, góp phần bảo vệ chính đáng sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bộ cũng tiến hành tổng hợp hỗ trợ thông tin thị trường, đăng tải, công bố bản tin thị trường nông, lâm, thủy sản định kỳ hàng tuần trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Công Thương và các hội nghị giao ban định kỳ với Thương vụ Việt Nam hàng tháng để định hướng thị trường cho các doanh nghiệp và các địa phương. Tăng cường cơ chế cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp để chủ động phòng tránh các vụ kiện phòng vệ thương mại ở nước ngoài.

Cùng với đó, đẩy mạnh hoạt động thu hút hợp tác đầu tư trong lĩnh vực logistics, tăng cường khuyến khích hợp tác giữa các doanh nghiệp logistics để giảm chi phí của hàng hóa. Cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ của các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất.

Bộ Công thương sẽ tiếp tục chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, vận chuyển qua đường biên giới, tránh buôn lậu và gian lận thương mại trong sản phẩm nông sản. Đối với thị trường trong nước tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động kết nối giữa nhà cung ứng với nhà phân phối. Chủ động làm việc với hệ thống phân phối lớn, việc hỗ trợ, tạo điều kiện xây dựng các mô hình nông sản theo chuỗi để cung cấp trong hệ thống bán lẻ của mình. Hỗ trợ các địa phương xây dựng Đề án đẩy mạnh chuỗi cung ứng nông sản, hoạt động kết nối cùng hàng hóa cả trong nước và thị trường quốc tế…

Lam Trinh