Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai trong bối cảnh thời tiết cực đoan

Biến đổi khí hậu - Ngày đăng : 11:00, 01/01/2026

Mùa bão năm 2025 xuất hiện nhiều diễn biến dị thường, cực đoan, trong đó có hiện tượng chưa từng có trong lịch sử khí tượng. Cùng với đó, lũ lụt nghiêm trọng xảy ra trên diện rộng, với đỉnh lũ vượt mốc lịch sử tại nhiều lưu vực sông từ Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên đến ĐBSCL. Lần đầu tiên ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử xuất hiện trong cùng một năm tại 20 con sông. Đặc biệt, lũ lịch sử trên lưu vực sông Ba (Phú Yên, nay thuộc khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk) vượt đỉnh lũ năm 1993.
Biến đổi khí hậu

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai trong bối cảnh thời tiết cực đoan

Phong Anh 01/01/2026 11:00

Mùa bão năm 2025 xuất hiện nhiều diễn biến dị thường, cực đoan, trong đó có hiện tượng chưa từng có trong lịch sử khí tượng. Cùng với đó, lũ lụt nghiêm trọng xảy ra trên diện rộng, với đỉnh lũ vượt mốc lịch sử tại nhiều lưu vực sông từ Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên đến ĐBSCL. Lần đầu tiên ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử xuất hiện trong cùng một năm tại 20 con sông. Đặc biệt, lũ lịch sử trên lưu vực sông Ba (Phú Yên, nay thuộc khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk) vượt đỉnh lũ năm 1993.

Dưới đây là những chia sẻ của ông Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, Cục Khí tượng Thủy văn Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Tạp chí Môi trường và Cuộc sống.

Diễn biến bão, lũ bất thường năm 2025 cho thấy quy luật thiên tai truyền thống đang thay đổi, phản ánh xu hướng thời tiết ngày càng cực đoan do biến đổi khí hậu. Ông có đánh giá gì về mức thiệt hại do thiên tai trong năm 2025?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Tính đến ngày 15/12/2025, đã có 21 cơn bão/ATNĐ (15 bão, 06 ATNĐ) hoạt động trên Biển Đông và trở thành năm có số lượng bão/ATNĐ hoạt động nhiều nhất trên Biển Đông kề từ khi có số liệu quan trắc (từ năm 1961), năm nhiều nhất trước đó là 2017 với 20 cơn bão/ATNĐ (16 bão, 04 ATNĐ). Ngoài kỷ lục về số lượng bão/ATNĐ, mùa bão năm 2025 còn ghi nhận một số tính chất đặc biệt, bất thường và cực đoan như: 1) Cơn bão số 1 (WUTIP) là cơn bão đầu tiên của mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương và xuất hiện trên Biển Đông trong tháng 6 sau hơn 40 năm; 2) Cơn bão số 9 (RAGASA) với cường độ mạnh cấp 17, giật trên cấp 17 đã trở thành cơn bão mạnh nhất từng hoạt động trên khu vực Biển Đông;) 3) ATNĐ cuối tháng 11, bắt nguồn từ cơn bão Senyar di chuyển từ khu vực Ấn Độ Dương sang khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (Trong quá khứ đã từng có áp thấp nhiệt đới hoặc bão đi từ Tây Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, nhưng chiều ngược lại thì chưa từng ghi nhận trong lịch sử khí tượng).

hien-2a.png
ông Nguyễn Xuân Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, Cục Khí tượng Thủy văn Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Trong năm 2025, tình hình lũ lụt nghiêm trọng đã xảy ra trên diện rộng, với mực nước đỉnh lũ trên các sông vượt mốc lịch sử ở cả Bắc Bộ, Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ, hạ lưu sông Cửu Long. Chưa năm nào ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử cùng xuất hiện trong 1 năm tại 20 con sông như sông Cầu (Thái Nguyên, Bắc Ninh), sông Thuơng (Bắc Ninh), sông Chung (Lạng Sơn), sông Bằng Giang (Cao Bằng), sông Lô (Tuyên Quang), sông Ngòi Hút, Ngòi Thia (Lào Cai), thượng lưu sông Mã và sông Bưởi, sông Yên (Thanh Hóa), thượng lưu sông Cả (Nghệ An), sông Bồ (Tp Huế), sông Vu Gia-Thu Bồn (Đà Nẵng), sông Kỳ Lộ, sông Ba (Đắk Lắk), sông Dinh Ninh Hòa (Khánh Hòa), sông Lũy (Lâm Đồng), hạ lưu sông Tiền (Vĩnh Long, Đồng Tháp), hạ lưu sông Hậu (An Giang, Cần Thơ). Đặc biệt nghiêm trọng là trận lũ lụt lịch sử tại Phú Yên (nay là khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk) vào năm 2025 là một phần của đợt thiên tai lớn tại miền Trung và Tây Nguyên, được đánh giá là vượt qua đỉnh lũ lịch sử năm 1993 trên lưu vực sông Ba.

Sự kiện hoạt động bão bất thường, lũ lớn nghiêm trọng, diện rộng bất thường trong năm 2025 tại Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho thấy quy luật lũ truyền thống đang thay đổi, phản ánh xu hướng thời tiết ngày càng cực đoan, khó lường do tác động của biến đổi khí hậu.

Tại Việt Nam, năm 2025 được ghi nhận là một năm có diễn biến thiên tai KTTV cực kỳ bất thường và dị thường, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng trên cả nước. Theo Báo cáo 451/BC-CTK của Cục Thống kê, số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết từ đầu năm đến ngày 05/12/2025, thiên tai trên cả nước đã làm 420 người chết, mất tích; 730 người bị thương; 4.193 nhà bị sập, đổ, trôi; 347.883 nhà bị hư hỏng, tốc mái; 541.204 ha lúa, hoa màu bị ngập úng, thiệt hại; 73.300 con gia súc, 5,1 triệu con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 171.763 lồng bè thủy sản bị thiệt hại; 1.032km đê, kè, kênh mương bị thiệt hại; 115km bờ sông, bờ biển bị sạt lở; 1.258 km đường giao thông bị thiệt hại với tổng khối lượng đất đá bị sạt lở là 14,5 triệu m3... Tổng thiệt hại ước tính trên 99.469 tỷ đồng. (Trên đây là nội dung thống kê thiệt hại do thiên tai từ đầu năm 2025 theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính).

Trong bối cảnh thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, theo ông, xu thế diễn biến thời tiết cực đoan (nắng nóng kéo dài, dông lốc, mưa đá) trong những năm tới được dự báo như thế nào?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Trong những năm tới, thời tiết cực đoan ở Việt Nam được dự báo gia tăng rõ rệt, đặc biệt là nắng nóng kéo dài và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Theo kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2020

•Nắng nóng có xu thế tăng mạnh cả về tần suất và cường độ. Đến giữa thế kỷ, số ngày nắng nóng tăng khoảng 15–30 ngày (RCP4.5) và 40–70 ngày (RCP8.5); về cuối thế kỷ có thể tăng tới 40–60 ngày (RCP4.5) và 75–90 ngày (RCP8.5). Nắng nóng gay gắt cũng gia tăng đáng kể.

•Rét đậm, rét hại có xu thế giảm mạnh, đặc biệt ở Bắc Bộ và vùng núi cao, phản ánh xu hướng ấm lên rõ rệt.

•Bão và áp thấp nhiệt đới: Tần suất có thể giảm hoặc ít biến đổi, nhưng cường độ bão mạnh và rất mạnh có xu thế tăng, kèm theo lượng mưa lớn hơn. Hoạt động bão có xu hướng dịch chuyển về cuối mùa, làm gia tăng nguy cơ mưa lớn.

Đối với dông lốc, mưa đá và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm cục bộ, mặc dù còn biến động lớn theo không gian và thời gian, nhưng xu thế chung cho thấy nguy cơ gia tăng về cường độ và tính cực đoan, gắn với sự gia tăng đối lưu mạnh trong điều kiện khí hậu ấm lên. Tóm lại, nắng nóng kéo dài và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm có xu thế gia tăng, đòi hỏi tăng cường theo dõi, cảnh báo sớm và các biện pháp thích ứng phù hợp.

Những hình thái thiên tai mới hoặc bất thường nào đang có nguy cơ gia tăng, thưa ông?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Cùng với sự biến đổi khí hậu, trong tương lưi số lượng bão mạnh đến rất mạnh có xu hướng gia tăng, thời điểm bắt đầu của gió mùa mùa hè có xu hướng bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn, mưa gió mùa tăng, số ngày rét đậm, rét hại giảm; số ngày nắng nóng (có nhiệt độ cao trên 35 độ) tăng, lớn nhất là ở khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ nắng nóng cực đoan, kéo dài, xuất hiện với cường độ và tần suất ngày càng cao, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước, cháy rừng và ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp; hạn hán trở nê khắc nghiệt hơn do nhiệt độ giảm và lượng mưa giảm trong mùa khô.

Đáng chú ý, một số hiện tượng nguy hiểm như lốc, sét, mưa đá lớn, gió giật mạnh xuất hiện với tính chất bất thường về không gian và thời gian; nguy cơ cháy rừng ngoài mùa cũng gia tăng do điều kiện khô hạn và nhiệt độ cao kéo dài.

khi-1.jpg
Các bản tin nhanh, tin bão liên tục được Trung tâm ban hành để chính quyền và người dân địa phương biết và chủ động ứng phó

Ngoài ra, mưa lớn cục bộ với cường suất rất cao trong thời gian ngắn đang xuất hiện nhiều hơn, gây ngập úng đô thị, lũ ống, lũ quét ở khu vực miền núi, ngay cả ngoài thời kỳ mưa bão truyền thống. Các xoáy thuận nhiệt đới tuy không gia tăng rõ rệt về số lượng nhưng có xu hướng mạnh hơn, mang theo lượng mưa lớn hơn, phạm vi ảnh hưởng rộng và kéo dài hơn.

Trước những xu thế trên, công tác theo dõi, dự báo, cảnh báo sớm và nâng cao năng lực ứng phó cần tiếp tục được tăng cường, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để người dân, chính quyền các cấp chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

Thưa ông, các vùng, khu vực trọng điểm rủi ro thiên tai (khu vực miền núi phía Bắc và miền Trung) cần đặc biệt lưu ý trong giai đoạn tới?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Theo các cập nhật từ Kịch bản Biến đổi khí hậu mới nhất và báo cáo Đánh giá khí hậu quốc gia, trong giai đoạn tới, khu vực miền núi phía Bắc và miền Trung nước ta được xác định là các vùng trọng điểm rủi ro thiên tai, cần đặc biệt lưu ý trong công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Đối với miền núi phía Bắc, Báo cáo Đánh giá khí hậu quốc gia (2018) chỉ rõ xu thế gia tăng các hiện tượng mưa lớn cục bộ, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, lũ ống và sạt lở đất, đặc biệt tại: các lưu vực sông suối nhỏ, khu vực địa hình dốc lớn, những nơi có suy giảm độ che phủ rừng. Kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật năm 2020 tiếp tục khẳng định xu thế này trong tương lai, với nhận định rằng tần suất và cường độ các hiện tượng mưa cực đoan có khả năng gia tăng, kéo theo rủi ro ngày càng lớn đối với khu dân cư miền núi, hạ tầng giao thông và các công trình thủy lợi quy mô nhỏ. Thực tế nhiều năm cho thấy: Mưa lớn thường xảy ra trên phạm vi hẹp, cường suất rất lớn, gây lũ quét và sạt lở đất đột ngột tại các tỉnh như Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Nhiều sự kiện lũ quét, sạt lở đất gây thiệt hại nghiêm trọng đã được ghi nhận, đặc biệt trong các năm mưa lớn bất thường như 2024 và 2025.

Đối với khu vực miền Trung, cả cập nhật từ Kịch bản Biến đổi khí hậu mới nhất và báo cáo Đánh giá khí hậu quốc gia đều nhấn mạnh đây là vùng chịu tác động mạnh của mưa lớn, bão và áp thấp nhiệt đới. Địa hình dốc mạnh từ tây sang đông, hệ thống sông ngắn, dốc, các hiện tượng này làm gia tăng nguy cơ lũ lớn, lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi, đồng thời gây ngập lụt nhanh, ngập sâu tại các đồng bằng ven biển hẹp. Đặc biệt, tại khu vực miền Trung, rủi ro thiên tai có tính tổ hợp, khi mưa lớn, bão, nước dâng và lũ có thể xảy ra liên tiếp hoặc đồng thời, làm gia tăng mức độ thiệt hại và khó khăn cho công tác ứng phó. Đặc biệt, năm 2025 đã ghi nhận: Số lượng bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông đạt mức cao kỷ lục (21 cơn bão/ATNĐ). Mưa cực đoan kỷ lục tại Việt Nam, trong đó trạm Bạch Mã ghi nhận lượng mưa 24 giờ rất lớn, đang được WMO xác nhận là một trong những sự kiện mưa 24 giờ lớn nhất từng được ghi nhận trên thế giới. Những dẫn chứng này cho thấy miền Trung tiếp tục là vùng trọng điểm rủi ro rất cao trong giai đoạn tới, đặc biệt đối với mưa lớn, lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất

Ông có thể cho biết kịch bản nước biển dâng có thể tác động đến các khu vực ven biển Việt Nam ra sao trong giai đoạn 2030–2050?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cập nhật năm 2020, trong giai đoạn 2030–2050, mực nước biển trung bình tại khu vực ven biển Việt Nam được dự tính tiếp tục dâng lên với mức tăng khoảng 13–17 cm vào năm 2030 và 22–28 cm vào năm 2050 so với thời kỳ cơ sở 1986–2005, tùy theo các kịch bản phát thải trung bình và cao.

Mặc dù mức nước biển dâng trong giai đoạn này chưa đạt giá trị cực đại, song đã đủ lớn để gây ra những tác động rõ rệt và ngày càng thường xuyên đối với các khu vực ven biển. Nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ ngập lụt tại các vùng trũng thấp ven biển, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các dải đồng bằng ven biển miền Trung, trong đó ngập có thể xảy ra không chỉ khi có bão mà cả trong điều kiện triều cường và mưa lớn. Đồng thời, nước biển dâng làm gia tăng xâm nhập mặn vào các cửa sông và tầng nước mặt, khiến ranh giới mặn lấn sâu hơn vào đất liền, kéo dài thời gian nhiễm mặn trong mùa khô, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, nguồn nước sinh hoạt và hệ sinh thái nước ngọt, đặc biệt tại các tỉnh ven biển ĐBSCL.

Bên cạnh đó, sự gia tăng mực nước biển kết hợp với thay đổi chế độ sóng và dòng chảy ven bờ làm tăng nguy cơ xói lở bờ biển, suy thoái các hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, bãi triều và đầm phá, qua đó làm suy giảm chức năng phòng hộ tự nhiên của bờ biển.

Nước biển dâng cũng làm gia tăng rủi ro đối với hệ thống hạ tầng ven biển, bao gồm đê biển, khu dân cư, khu công nghiệp và các công trình giao thông, nhất là trong trường hợp nước biển dâng kết hợp với nước dâng do bão và triều cường. Nhìn chung, theo kịch bản năm 2020, giai đoạn 2030–2050 được xác định là giai đoạn các tác động của nước biển dâng bắt đầu thể hiện rõ rệt, đòi hỏi các địa phương ven biển cần sớm lồng ghép yếu tố nước biển dâng vào quy hoạch phát triển, quản lý không gian ven biển và xây dựng các giải pháp thích ứng phù hợp.

Năng lực hiện nay của hệ thống quan trắc – dự báo – cảnh báo sớm đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn chưa, thưa ông?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Hiện nay, hệ thống quan trắc – dự báo – cảnh báo sớm thiên tai của Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, cơ bản đáp ứng yêu cầu theo dõi, dự báo và cung cấp thông tin kịp thời đối với các hình thái thiên tai chủ yếu như bão, mưa lớn, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, nắng nóng và rét đậm, rét hại. Công tác dự báo ngày càng được nâng cao về chất lượng, thời hạn và độ tin cậy, góp phần quan trọng trong công tác chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai và giảm nhẹ thiệt hại.

Tuy nhiên, trước bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng các hiện tượng thiên tai cực đoan, dị thường và khó dự báo, hệ thống hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định. Mạng lưới quan trắc ở một số khu vực, đặc biệt là vùng núi, ven biển và hải đảo, còn chưa đồng bộ; khả năng dự báo chi tiết các hiện tượng mưa cực đoan cục bộ, lũ quét, sạt lở đất, dông lốc còn nhiều thách thức. Công tác cảnh báo sớm theo hướng tác động (impact-based forecasting) và truyền tin đến người dân ở cấp cơ sở cần tiếp tục được hoàn thiện.

khi-2.jpg
Cứ 10 phút, các nhân viên khí tượng lại phải cập nhật ảnh mây vệ tinh, ảnh rada và một loạt mạng rada quét… để xem diễn biến thời tiết, nhất là khi có bão

Trong thời gian tới, cần tiếp tục đầu tư hiện đại hóa hệ thống quan trắc, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn; đồng thời nâng cao năng lực phân tích, dự báo của đội ngũ chuyên môn và hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn trong điều kiện thiên tai ngày càng phức tạp.

Ông có thể cho biết những khó khăn, thách thức của ngành khí tượng thủy văn trong công tác dự báo, cảnh báo thiên tai?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Thách thức đầu tiên và căn bản nhất nằm ở sự thiếu hụt dữ liệu quan trắc đầu vào. Mặc dù đã có sự đầu tư, bổ sung mạng lưới quan trắc, công nghệ viễn thám và radar cũng đã được áp dụng, nhưng mạng lưới quan trắc hiện tại vẫn còn tiếp tục cải thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các mô hình dự báo hiện đại. Mạng lưới trạm quan trắc trên đất liền còn thưa, chưa đáp ứng được theo quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn, phân bố không đồng đều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng núi, nơi thường xuyên xảy ra lũ quét và sạt lở. Mặt khác, quan trắc trên biển, nơi hình thành bão và ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ bão rất hạn chế, mạng lưới trạm hải văn chưa đủ dầy, mặc dù đã có 020radar HF để quan trắc dòng chảy biển nhưng chưa đủ dầy, chưa có radar chuyên dụng quan trắc sóng và thiếu hẳn các nội dung quan trắc bằng phao trôi, phao nổi, trạm biển. Hệ thống 10 radar thời tiết đang được vận hành vẫn chưa thể bao quát toàn bộ vùng biển, đất liền Việt Nam và phụ cận, điều này làm giảm khả năng quan trắc, cảnh báo kịp thời các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, và mưa lớn cục bộ cũng như cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.

Thách thức thứ hai là hạn chế về hạ tầng tính toán, các mô hình số trị độ phân giải cao và các mô hình trí tuệ nhân tạo phức hợp đòi hỏi cần có các siêu máy tính mạnh và cụm máy tính hiệu năng cao để xử lý các bài toàn lớn với lượng dữ liệu khổng lồ. Tuy nhiên, năng lực máy chủ và máy tính của Cục Khí tượng Thủy văn hiện nay vẫn còn ở mức hạn chế so với các Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc tế hàng đầu. Sự thiếu hụt về năng lực tính toán này cản trở việc chạy các mô hình với độ phân giải cao, chi tiết cần thiết để mô phỏng chính xác các hiện tượng cực đoan cục bộ, cũng như kéo dài thời gian dự báo

Thách thức cuối cùng cũng là quan trọng nhất là nguồn nhân lực chuyên môn cao, vốn là điều kiện tiên quyết để vận hành các công nghệ dự báo phức tạp, việc triển khai và vận hành các mô hình dự báo số trị khí tượng, thủy văn, hải văn phức tạp không chỉ cần máy tính lớn mà còn đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia có kiến thức sâu về khí tượng, thủy văn, hải dương học. Sự thiếu hụt bắt nguồn từ những hạn chế trong công tác đào tạo và tính chất đặc thù của công việc, nguồn tuyển sinh đầu vào của ngành khí tượng thủy văn thường không dồi dào do ngành này chưa đủ sức hấp dẫn đối với sinh viên. Bên cạnh công việc dự báo có áp lực cao, phải trực liên tục 24/7, nhất là trong mùa thiên tai, khiến việc việc giữ chân nhân sự trở nên khó khăn, nhất là trong một lĩnh vực công ích, mức lương và chế độ đãi ngộ cho cán bộ chuyên môn cao thường không cạnh tranh được so với các ngành khác.

Định hướng nâng cao chất lượng dự báo và cảnh báo sớm của ngành trong thời gian tới là gì, thưa ông?

PGĐ Nguyễn Xuân Hiển: Trong thời gian tới, ngành khí tượng thủy văn xác định việc nâng cao chất lượng dự báo và cảnh báo sớm là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bối cảnh thiên tai diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường.

Thứ nhất là quan trắc và thu thập dữ liệu, trong thời gian gần đây, Nhà nước đã có sự quan tâm nên hạ tầng quan trắc khí tượng thủy văn đã được bổ sung, nâng cấp mạng lưới quan trắc, chuyển đổi dần từ quan trắc thủ công sang quan trắc tự động và thời gian thực. Điều này đảm bảo dữ liệu đầu vào luôn được cập nhật liên tục, chính xác với tần suất cao. Bên cạnh đó, hệ thống radar thời tiết cũng được nâng cấp, bổ sung với 10 radar thời thiết, cùng với đó là công nghệ viễn thám (vệ tinh) cũng được ứng dụng để theo dõi chi tiết quá trình phát triển của mây dông, cho phép các dự báo viên nhận diện cường độ mưa cục bộ với độ phân giải cao, đặc biệt quan trọng trong việc dự báo dông, lốc và cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất.

khi.jpg
Trung tâm điều hành tác nghiệp khí tượng thủy văn

Thứ hai là tiếp tục áp dụng và cải tiến các mô hình dự báo số trị, công nghệ hỗ trợ dự báo, cảnh báo chúng tôi tiếp tục phát triển và làm chủ các mô hình số trị quy mô khu vực có khả năng đồng hóa số liệu để mô phỏng khí hậu và dự báo thời tiết, các yếu tố hải văn như sóng, dòng chảy, nước dâng. Các công nghệ mã nguồn mở, tự động cũng từng bước được đưa vào sử dụng bên cạnh các mô hình thương mại, truyền thống để dự báo, cảnh báo thủy văn, lũ và ngập lụt. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tập trung, phát triển nền tảng công nghệ số tích hợp dữ liệu lớn và áp dụng công nghệ cảnh báo của Hoa Kỳ do Tổ chức Khí tượng thế giới chuyển giao để thực hiện phương pháp tiên tiến, hiện đại để cảnh báo lũ quét, sạt lở đất o cho Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Hiện tại, nền tảng này được tích hợp trên hệ thống thông tin cảnh báo lũ quét, sạt lở đất thời gian thực tại địa chỉ https://luquetsatlo.nchmf.gov.vn/ với mức độ chi tiết đến cấp xã.

Thứ ba, cùng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), chúng tôi đang từng bước ứng dụng AI cho các bài toán dự báo, cảnh báo. Một đơn vị trực thuộc Cục là Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia đã phối hợp với Viện Nghiên cứu & Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo để ứng dụng và phát triển mô hình CIFOMI, ứng dụng mô hình nền tảng (foundation model) kết hợp kỹ thuật tinh chỉnh gợi ý (prompt tuning) trong dự báo bão, áp thấp nhiệt đới từ giữa năm 2024. Kết quả ban đầu rất khả quan, sai số dự báo cường độ bão trong 24 giờ giảm từ 10–20% so với các mô hình và phương pháp khác, thời gian chạy mô hình cũng cải thiện đáng kể, nhờ đó dự báo viên có thêm thời gian để tập trung phân tích, đánh giá và ra quyết định.

Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được xác định là yếu tố then chốt, thông qua đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng kỹ năng dự báo hiện đại, tăng cường trao đổi, hợp tác quốc tế để tiếp cận tri thức, công nghệ mới.

Cuối cùng, ngành tiếp tục tăng cường phối hợp liên ngành và truyền thông rủi ro, bảo đảm thông tin dự báo, cảnh báo được truyền tải kịp thời, thống nhất, đến đúng đối tượng; đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.

Xin cảm ơn ông về những chia sẻ này.

Phong Anh