Nhọc nhằn nghề cào dắt biển ngày cận Tết
Tin trong nước - Ngày đăng : 10:02, 07/02/2026
Nhọc nhằn nghề cào dắt biển ngày cận Tết
Trong làn nước lạnh buốt trước bình minh, những người cào dắt ven biển lặng lẽ trằn mình bán sức khỏe cho sóng mặn. Với họ, Tết không phải mâm cao cỗ đầy, mà là cặp bánh chưng, cây giò nhỏ và cả những nghĩa cử tử tế, âm thầm được kéo lên từ biển.
Ở bãi biển Lê Quý Đôn, phường Phước Thắng (TP Hồ Chí Minh – Vũng Tàu cũ), khi phố xá còn chìm trong giấc ngủ, đã có những phận người bắt đầu một ngày mưu sinh. Họ xuống biển từ lúc sương còn giăng mờ mặt nước, kéo theo sau lưng là tấm lưới nặng trĩu cát, là những hy vọng nhỏ nhoi cho cái Tết đang đến gần.

Ra biển gà gáy canh ba
Ba giờ sáng, cả khu trọ ở đường Đô Lương (phường 11, Vũng Tàu cũ) còn im lìm, ông Cao Minh Hiển đã lọ mọ thức dậy. Người đàn ông ngoài tuổi “thất tuần” khoác vội chiếc áo cũ, dắt xe máy ra khỏi phòng trọ chật hẹp rồi nổ máy chạy thẳng ra bãi tắm Lê Quý Đôn – một bãi biển “xép”, hoang sơ, ít người qua lại nhưng lại nhiều dắt.
Gương mặt ông Hiển khắc khổ, hằn sâu những vết thời gian. Nước da sạm đen vì nắng gió biển. Thế nhưng, trong đôi mắt đã mờ theo năm tháng ấy vẫn ánh lên một niềm vui lặng lẽ – niềm vui của người còn sức để lao động, còn bám biển mà mưu sinh.

“Tôi sống với nghề cào dắt này hơn 40 năm rồi”, ông Hiển chậm rãi kể, giọng trầm đều như sóng. “Từ Rạch Giá, Cà Mau, ra Phú Quý… cuối cùng chọn Vũng Tàu làm quê hương thứ hai. Về đây hơn 10 năm nay, vợ con cũng theo ra sống”.
Nghề cào dắt mà ông gọi bằng cái tên dân dã “cạo sắt” theo tiếng miền Tây quê ông là một nghề nặng nhọc và nhiều hiểm nguy. Đêm ngâm mình trong nước lạnh cắt da, ngày đội nắng dầm mưa, thân người liên tục va đập với sóng biển mặn chát. Cảm lạnh, chuột rút, đột quỵ, tai nạn… luôn rình rập.

“Cả gia đình tôi sống nhờ nghề này. Không khá giả gì, nhưng cũng đủ cho mấy đứa nhỏ đi học. Giờ vẫn còn ở trọ”, ông nói, giọng bình thản như thể đã quen với thiếu thốn.
Ông tên Hiển, nhưng vợ con, bạn nghề quen gọi ông là “Sáu Đẹt” vì dáng người ốm nhom. “Hồi trẻ tôi khỏe lắm, làm không biết mệt. Từ ngày theo nghề cào dắt đêm, ngâm biển lạnh hoài, sức khỏe yếu dần”, ông cười hiền.
Để kiếm được chừng 500.000 đồng, có ngày ông phải làm liên tục 12–14 tiếng. Càng cận Tết, ông càng gắng sức. “Ráng làm để mua cho con cái áo mới, vài ký giò, mấy cặp bánh chưng là đủ. Nghèo như mình, tiền đâu mà ăn sang”.
Hai tháng tiền trọ chưa đóng, chủ nhà đã giục. Ông Hiển cười buồn: “Tôi hẹn Tết trả luôn một lần. Muốn vậy thì phải ráng làm”.
Không chỉ cào ven bờ, nhiều hôm ông còn chèo thuyền ra cách bờ vài ba cây số, nơi có những cồn cát nổi giữa biển. Ở đó, dắt nhiều hơn nhưng hiểm nguy cũng nhiều hơn. Giữa biển khơi, bữa ăn chỉ là cơm nắm với ruốc.
“Nghề này bất chấp mưa gió. Không làm là tắt bữa. Chỉ khi bão lớn quá mới nghỉ. Cực rồi cũng quen. Có hôm không ra biển lại thấy nhớ nghề”, ông nói.
Biển mặn không chỉ ăn mòn da thịt mà còn ăn mòn cả những vật dụng nhỏ bé nhất của đời sống. Bởi vậy, mỗi lần xuống biển, ông Hiển lại cẩn thận gói điện thoại, giấu dưới mũ trên đầu – như giấu đi sợi dây kết nối mong manh với gia đình phía sau bờ cát.
Từ túi quần, ông móc ra chiếc điện thoại cũ, được bọc kỹ bằng nhiều lớp ni-lông, buộc chặt bằng dây thun. “Gói vậy mà vẫn ướt. Mỗi năm tôi mua ba, bốn cái điện thoại rẻ tiền, chỉ để gọi về cho vợ con”, ông Hiển phân trần.
Người phụ nữ duy nhất trên bãi cào
Giữa hơn chục người cào dắt ở bãi Lê Quý Đôn, chỉ có một phụ nữ: chị Trần Thị Thắm. Chị là người Vũng Tàu, sống ở đường Đô Lương, gắn bó với nghề cào dắt đã hơn 20 năm. Biết nghề cực, thu nhập chẳng cao, nhưng chị vẫn bám biển.
“Tôi là dân miền biển, lớn lên từ biển. Biển nuôi sống tôi, nuôi các con tôi, nên tôi không nỡ bỏ”, chị nói.
Với những người “tay làm hàm nhai”, học hành không đến nơi đến chốn, cào dắt vừa là kế sinh nhai, vừa là một phần đời.

“Nghề này không sung túc nhưng đủ sống. Mỗi ngày ra biển, ngoài cào dắt kiếm tiền, tôi còn có một niềm vui khác: sẵn sàng cứu giúp người gặp nạn”, chị Thắm chia sẻ.
Hai mươi năm cào dắt, đôi chân chị to và thô ráp hơn nhiều người phụ nữ khác. Những ngón chân bè ra, chai sần vì bậm sâu trong cát biển. Lưng chị còng xuống, quen với động tác kéo dây cáp đi lùi.
Dắt – thứ mà chị, ông Hiển và những người bạn nghề cào được – lại là thức ăn xa xỉ của tôm hùm.
“Tôm hùm trong nhà hàng, khách sạn nó nghiện dắt lắm. Một con có thể ăn nửa ký dắt mỗi ngày. Vì vậy giá tôm hùm không bao giờ rẻ. Người ta nói vui, tụi tôi làm nghề bán thức ăn cho giới thượng lưu mà sống đời cơ hàn”, chị cười.
Chị Thắm cho hay, mỗi ký dắt bán được khoảng 4.000 đồng. Ngày trúng có thể được vài tạ; ngày xui chỉ vài chục ký. Cuộc sống bấp bênh như chính con sóng ngoài khơi. Dắt cào được có mối đến mua ngay trong ngày, chở ra Nha Trang bán cho các vựa nuôi tôm. Một ký mua 4.000 đồng, bán lại 6.000–8.000 đồng. Vòng quay sinh kế là thế.
Cứu nạn bờ biển
Trong đời cào dắt của chị Thắm, có một kỷ niệm mà chị không bao giờ quên – một buổi chiều cận Tết năm 2024.
Khoảng gần 6 giờ tối, chị đang cắm cúi cào thì nghe tiếng kêu cứu thất thanh: “Cứu con với! Cứu con với!”. Sóng bạc đầu cuộn lên. Trong khoảnh khắc hoảng loạn, chị chỉ kịp thấy một bàn tay trẻ nhỏ chới với trên mặt nước.
Không kịp nghĩ nhiều, chị vứt cào, lao ra biển. Đứa trẻ bị sóng cuốn, trượt chân ngay gần bờ. Quen sóng nước, chị bơi ra, vật lộn giữa gió lớn mới kéo được cháu vào bờ. Đứa bé sặc nước, mặt tái nhợt. Chị đặt cháu nằm trên cát, thổi ngạt. Khi tỉnh lại, đứa trẻ thều thào gọi: “Mẹ ơi…”.
“Con tắm biển một mình sao lại bơi xa vậy?”, chị hỏi. Đứa bé hoảng hốt: “Còn em con đâu rồi?”.

Chị tá hỏa nhìn ra biển. May mắn, từ con đường dẫn vào bãi tắm, một đứa trẻ khác chạy hớt hải, phía sau là người mẹ vừa chạy vừa khóc: “Nam ơi, con đâu rồi, con có sao không? Cứu con tôi với…”. Người mẹ sà xuống ôm chầm lấy con trai, nghẹn ngào.
Nghe chị Thắm kể lại đầu đuôi câu chuyện, người mẹ cảm ơn rối rít, ngỏ ý biếu chị ít tiền ăn Tết. Chị dứt khoát lắc đầu: “Tình cảm tôi xin nhận, tiền thì thôi. Thấy người đuối nước mà không cứu thì vô tâm lắm. Nhiều khi vừa cào dắt, mắt tôi vừa trông ra biển. Lỡ có ai bị sóng cuốn thì còn biết đường mà cứu. Không cứu thì lương tâm để đâu?”, chị cười.
Trong ánh hoàng hôn cuối chiều, hàm răng trắng của chị nổi bật trên khuôn mặt sạm đen vì nắng gió.
“Lót lòng” trước khi xuống biển
Cận Tết Bính Ngọ, gió mùa đông bắc tràn về làm biển trở lạnh nhanh hơn. Bãi biển Lê Quý Đôn vắng người tắm, chỉ còn sương sớm giăng mờ mặt nước, che khuất cả đường chân trời. Trong khoảng tranh sáng, tranh tối mờ mịt ấy, ông Hiển, chị Thắm và những người cào dắt khác đã có mặt từ rất sớm. Họ lặng lẽ bắt đầu một ngày mưu sinh, như bao ngày cuối năm tất bật khác.
Trước khi xuống biển, họ “lót lòng” bằng hộp xôi nguội, chiếc bánh ướt mua vội ven đường. Ngồi xổm trên bờ cát lạnh, đôi bàn tay chai sần run nhẹ vì gió sớm, ánh mắt ai cũng hướng ra mặt biển. Không ai nói nhiều, nhưng trong cái lặng im ấy là chung một ước mong rất thật: hôm nay cào được nhiều dắt hơn hôm qua.

Ăn xong, họ đứng dậy, phủi cát bám trên ống quần, quấn tấm lưới vác lên vai rồi từng người một bước xuống nước. Làn nước lạnh buốt dâng dần qua mắt cá, qua đầu gối, qua thắt lưng. Phía sau là bờ cát còn in những dấu chân chưa kịp xóa. Phía trước là sóng, là gió, là một ngày lao động bắt đầu.
Cận Tết, ai cũng phải cố gắng hơn. Ông Hiển kéo lưới chậm rãi nhưng chắc tay, chị Thắm bám sóng thuần thục, những người bạn nghề khác lặng lẽ theo nhịp. Mệt mỏi hằn lên gương mặt, nhưng khi mẻ lưới nặng dắt, tiếng cười lại bật lên, át cả tiếng sóng. Trong ánh mắt sạm nắng ấy phảng phất niềm vui – niềm vui rất nhỏ, nhưng đủ ấm lòng.
