Cần quy hoạch hệ thống cây xanh Hà Nội với tầm nhìn dài hạn, hướng tới đô thị sinh thái bền vững
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 09:30, 08/03/2026
Cần quy hoạch hệ thống cây xanh Hà Nội với tầm nhìn dài hạn, hướng tới đô thị sinh thái bền vững
Những năm qua, Hà Nội đã quan tâm phát triển cây xanh đô thị nhưng cách làm còn thiếu tính hệ thống và tầm nhìn lâu dài. Yêu cầu đặt ra là phải tích hợp quy hoạch, quản lý cây xanh trong tổng thể quy hoạch vùng Thủ đô, từ cấp thành phố đến cơ sở, theo hướng khoa học và bền vững.
Tại lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2026 tổ chức trong khuôn viên dự án Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam ở Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước: phát triển kinh tế phải song hành với bảo vệ môi trường. Việc trồng cây cần chuyển từ phong trào sang hành động thực chất, tránh hình thức, lãng phí. Tinh thần “trồng cây nào, sống tốt cây đó” đòi hỏi mỗi cây được trồng phải được chăm sóc, bảo vệ để sinh trưởng lâu dài; đồng thời hoạt động trồng cây phải gắn với quy hoạch, với mục tiêu xây dựng hạ tầng đô thị xanh, thông minh, hiện đại và nâng cao diện tích cây xanh bình quân đầu người.
Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Nhìn lại quá trình triển khai Tết trồng cây trong nhiều thập niên, có thể thấy độ che phủ cây xanh của Thủ đô còn khoảng cách khá xa so với nhiều đô thị trong khu vực. Tại Tokyo (Nhật Bản), độ tàn che rừng đạt khoảng 75%; Hàn Quốc đạt 65%; Malaysia trên 60%, với hệ thống cây xanh được tổ chức theo nhiều lớp không gian. Trong khi đó, tại Việt Nam, tỷ lệ che phủ rừng mới đạt khoảng 42% (chưa phải độ tàn che), còn diện tích cây xanh bình quân đầu người tại Hà Nội chỉ khoảng 1,93 m², thấp hơn đáng kể so với mức 5–10 m² ở nhiều quốc gia.

Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Malaysia cho thấy quy hoạch cây xanh được xây dựng bài bản, có cấu trúc nhiều vòng: vành đai rừng bảo vệ nguồn nước và sinh thái ở khu vực ngoài đô thị; hệ thống cây xanh công viên trên đồi, tại các khu xử lý chất thải đã cải tạo; tiếp đến là cây xanh dọc sông, quốc lộ; cuối cùng là công viên, quảng trường và cây xanh đường phố trong nội đô.
So với cách làm này, công tác quản lý cây xanh tại Hà Nội vẫn bộc lộ hạn chế. Từng xảy ra tình trạng chặt hạ cây lớn đã được trồng, chăm sóc hàng chục năm để phục vụ các dự án giao thông; việc đào đường, cải tạo hè phố làm ảnh hưởng hệ rễ khiến cây đổ khi mưa bão. Một số trường hợp lựa chọn loài cây chưa phù hợp điều kiện sinh thái, như việc trồng phong đỏ trên đường Nguyễn Chí Thanh trước đây. Bên cạnh đó, kỹ thuật trồng, chăm sóc và tỉa cành ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu, chưa phát huy tốt chức năng tạo bóng mát và cảnh quan.
Công tác quy hoạch đô thị thời gian qua cũng chưa thể hiện đầy đủ vai trò của hệ thống cây xanh trong cân bằng sinh thái vùng Thủ đô, đặc biệt ở khu vực lõi. Nhiều đồ án quy hoạch chưa làm rõ định hướng phát triển, quản lý cây xanh trong dài hạn; trong khi đó, vẫn còn hiện tượng chuyển đổi đất rừng phòng hộ, đặc dụng cho mục đích xây dựng. Dù một số khu đô thị mới đã quan tâm đến tiêu chuẩn cây xanh theo quy chuẩn môi trường, song nhìn chung quy mô và mức độ thực hiện còn khiêm tốn.
Gợi mở định hướng dài hạn
Để xây dựng hệ thống cây xanh Thủ đô bền vững, cần tiếp cận theo hướng tổ chức lại không gian đô thị gắn với hạ tầng xanh, bảo đảm cân bằng hệ sinh thái và đặt người dân ở vị trí trung tâm.
Thứ nhất, với vùng ngoài đô thị, cần quy hoạch, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đạt độ tàn che trên 75%, thậm chí 85% tại các khu nghiên cứu và bảo tồn như rừng Núi Luốt (Đại học Lâm nghiệp), Vườn quốc gia Ba Vì, rừng phòng hộ Sóc Sơn, Vườn quốc gia Tam Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Chùa Hương, Tam Chúc – Bích Động. Đồng thời mở rộng trồng rừng tại các khu đồi núi phía Bắc và các địa phương lân cận như Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên. Việc lựa chọn loài cây cần đa dạng, không chỉ tập trung vào thông, keo, và phải tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật.
Thứ hai, tại vùng kết nối giữa ngoại thành và nội đô, nên dành khoảng 35% diện tích tự nhiên cho cây xanh và công viên mới; yêu cầu các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp bố trí tối thiểu 40% diện tích cho cây xanh và thực hiện quản lý chặt chẽ. Nếu không có cơ chế giám sát cụ thể, mục tiêu xây dựng hệ thống cây xanh đồng bộ sẽ khó đạt được.
Thứ ba, cần quy hoạch đồng bộ cây xanh dọc các hệ thống sông như sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy, sông Cà Lồ; quanh hồ nước, suối; dọc các tuyến cao tốc, quốc lộ và đường giao thông nông thôn. Ưu tiên cây bản địa, xác định rõ trách nhiệm quản lý, kinh phí duy trì, cơ chế thưởng – phạt minh bạch.
Đối với khu vực nội đô, nhiệm vụ phức tạp hơn do mật độ xây dựng cao và quỹ đất hạn chế. Trước hết cần chỉnh trang, bảo vệ hệ thống cây xanh trong các công viên, hồ nước; nghiêm cấm chặt hạ tùy tiện; hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc, tỉa cành. Đặc biệt, hệ thống cây xanh quanh Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hồ Trúc Bạch và các sông nội đô như Tô Lịch, Kim Ngưu cần được cải tạo đồng bộ, tránh tiếp tục thu hẹp mặt nước – yếu tố điều hòa vi khí hậu quan trọng của thành phố.
Song song với đó là rà soát cây xanh trên các trục đường chính, phố nhỏ; loại bỏ cây chết, xử lý cây nguy hiểm; trồng bổ sung hợp lý. Việc quản lý cây xanh trong khuôn viên công sở, biệt thự, nhà ở cũng cần quy định chặt chẽ, hạn chế chặt phá và khuyến khích bảo tồn.
Tổng thể, quy hoạch và quản lý hệ thống cây xanh Hà Nội phải được đặt trong quy hoạch vùng Thủ đô, triển khai đồng bộ từ cấp thành phố đến cấp xã, bảo đảm tính khoa học, lâu dài và phù hợp điều kiện sinh thái Việt Nam. Chỉ khi đó, mục tiêu xây dựng Thủ đô xanh – thông minh – hiện đại mới có thể trở thành hiện thực.
