Rừng khỏe mạnh – nền tảng cho sự thịnh vượng của nhân loại
Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 10:00, 20/03/2026
Rừng khỏe mạnh – nền tảng cho sự thịnh vượng của nhân loại
Không chỉ được ví như “lá phổi xanh” của Trái đất, rừng ngày càng khẳng định vai trò là trụ cột quan trọng thúc đẩy nền kinh tế sinh học bền vững.
Ngày Quốc tế Rừng 2026 với chủ đề “Rừng và Kinh tế” gửi đi thông điệp mạnh mẽ về một mô hình phát triển mới, nơi tăng trưởng kinh tế phải song hành với sự khỏe mạnh của hệ sinh thái.
Ngày 21/3 hàng năm đã trở thành thời điểm để cả thế giới tôn vinh và nâng cao nhận thức về giá trị vô giá của mọi loại rừng. Qua mỗi năm, các chiến dịch trồng cây, những nỗ lực bảo tồn xuyên biên giới được đẩy mạnh, nhắc nhở nhân loại rằng mỗi mầm xanh được gieo xuống là một khoản đầu tư cho tương lai.

Năm 2026, chủ đề “Rừng và Kinh tế” (Forests and Economies) được lựa chọn bởi Đối tác hợp tác về Rừng (CPF), tập trung vào vai trò không thể thay thế của rừng trong việc vận hành bộ máy kinh tế toàn cầu.
Hệ sinh thái nghìn tỷ đô la
Nếu coi thiên nhiên là một thực thể kinh tế, rừng chính là “cổ đông” lớn nhất. Các số liệu thống kê mới nhất cho thấy, khoảng 44 nghìn tỷ USD giá trị kinh tế – tương đương hơn một nửa GDP toàn cầu – đang phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào thiên nhiên, trong đó có rừng.
Rừng không chỉ tạo ra thu nhập từ khai thác gỗ và thương mại lâm sản bền vững, mà còn là "xương sống" cho nông nghiệp hộ gia đình và cộng đồng. Rừng bảo vệ các lưu vực sông, đảm bảo nguồn nước sạch cho tưới tiêu, điều hòa khí hậu và ổn định thổ nhưỡng, từ đó trực tiếp nâng cao năng suất nông nghiệp.
Đặc biệt, lâm sản ngoài gỗ (NWFP) như thực phẩm, dược liệu, nhựa cây và cây cảnh đang mang lại giá trị ít nhất 9,41 tỷ USD mỗi năm. Đáng chú ý, có tới 5,8 tỷ người trên thế giới đang sử dụng các sản phẩm này để duy trì sinh kế và đảm bảo phúc lợi sức khỏe. Đối với nhiều cộng đồng nông thôn, rừng khỏe mạnh đồng nghĩa với việc đảm bảo an ninh lương thực và thu nhập ổn định.
Tạo hàng triệu việc làm xanh trên toàn thế giới
Trong nỗ lực chuyển dịch sang nền kinh tế sinh học bền vững, các sản phẩm từ rừng đang nổi lên như những "giải pháp dựa vào thiên nhiên" hoàn hảo. Gỗ và tre đang dần thay thế các vật liệu phát thải carbon cao như thép, bê tông và nhựa. Đây không chỉ là bước tiến về môi trường mà còn mở ra những cơ hội kinh tế mới, tạo ra hàng triệu việc làm xanh trên toàn thế giới.
Hiện nay, mỗi năm thế giới sản xuất khoảng 4 tỷ mét khối gỗ. Dự báo con số này sẽ còn tăng mạnh khi dân số phát triển và nhu cầu thay thế vật liệu thâm dụng carbon bằng vật liệu tái tạo ngày càng tăng. Đến năm 2050, nhân loại có thể cần thêm tới 1 tỷ mét khối gỗ công nghiệp mỗi năm để phục vụ xây dựng và sản xuất.
Bên cạnh đó, năng lượng từ gỗ vẫn giữ vai trò thiết yếu. Hơn 2 tỷ người đang phụ thuộc vào củi và than củi để nấu ăn và sưởi ấm. Ở quy mô công nghiệp, các loại nhiên liệu hiện đại như viên nén gỗ đang được ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống nhiệt và điện lưới, góp phần giảm bớt sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.
Bảo tồn là khoản đầu tư thông minh nhất
Nghiên cứu chỉ ra rằng, chi phí để khắc phục các thảm họa liên quan đến khí hậu như lũ lụt, xói mòn đất và hạn hán do mất rừng gây ra thường vượt xa lợi ích kinh tế ngắn hạn từ việc khai thác tận diệt. Đầu tư vào bảo tồn và phục hồi rừng không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất nước sạch, lưu trữ carbon và điều hòa nhiệt độ, mà còn là lá chắn bảo vệ nền kinh tế trước những thiệt hại hàng tỷ đô la từ thiên tai.

Ngày Quốc tế Rừng 2026 là lời nhắc nhở rằng: Rừng là nguồn vốn tự nhiên quý giá nhất mà chúng ta có. Để đảm bảo sự thịnh vượng cho hôm nay và các thế hệ mai sau, thế giới cần một cách tiếp cận mới – nơi kinh tế không còn là đối trọng của bảo tồn, mà là kết quả tất yếu của một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng diện tích rừng trên cả nước tính đến năm 2024 được thống kê, công bố là 14.874.302 ha (gồm diện tích rừng chưa đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ), trong đó có 10.133.952 ha rừng tự nhiên, 4.740.350 ha rừng trồng.
Diện tích rừng đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ trên cả nước có 13.927.309 ha; trong số này có 10.133.952 ha rừng tự nhiên; 3.793.357 ha rừng trồng.
Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%.
Tính theo vùng, thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy tại vùng trung du và miền núi phía Bắc có 5.464.246 ha. Trong đó có 3.748.383 ha rừng tự nhiên, 1.715.862 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 54,04%.
Vùng đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích rừng là 436.891 ha. Trong đó có 176.933 ha rừng tự nhiên, 259.959 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng 21,26%.
Tại vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, có 5.649.651 ha rừng. Trong đó có 3.778.853 ha rừng tự nhiên, 1.870.798 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng 54,23%.
Vùng Tây Nguyên có 2.604.851 ha rừng. Trong đó có 2.092.446 ha rừng tự nhiên, 512.404 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng 46,34.
Tại vùng Đông Nam Bộ có 476.405 ha rừng. Trong đó có 258.234 ha rừng tự nhiên, 218.171 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng là 19,60%.
Vùng có diện tích rừng nhỏ nhất cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long với 242.258 ha. Trong đó có 79.103 ha rừng tự nhiên, 163.155 ha rừng trồng. Tỷ lệ che phủ rừng tại vùng này rất khiêm tốn, chỉ đạt 5,40%.
