Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 4: Từ “chất thải là gánh nặng” đến “chất thải là tài nguyên” - Bước ngoặt lớn trong thay đổi tư duy
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 14:00, 11/05/2026
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 4: Từ “chất thải là gánh nặng” đến “chất thải là tài nguyên” - Bước ngoặt lớn trong thay đổi tư duy
Trong bối cảnh áp lực môi trường ngày càng gia tăng và tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt, việc thay đổi tư duy từ “xử lý chất thải” sang “tận dụng chất thải như một nguồn tài nguyên” đang trở thành xu thế tất yếu.

Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 đã thể hiện rõ bước chuyển này khi đặt nền tảng pháp lý cho việc quản lý một số loại chất thải đạt tiêu chuẩn như sản phẩm hoặc nguyên liệu, mở ra cơ hội thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tái cấu trúc ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam.
Kinh tế tuần hoàn – xu thế không thể đảo ngược
Việt Nam đang đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ gia tăng chất thải và suy giảm tài nguyên. Theo thống kê, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đã lên tới hàng chục triệu tấn mỗi năm, riêng năm 2019 đạt khoảng 23,3 triệu tấn . Đáng chú ý, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia phát sinh rác thải nhựa lớn trên thế giới, với khoảng 1,8 – 1,83 triệu tấn mỗi năm .
Trong khi đó, mô hình phát triển tuyến tính “khai thác – sản xuất – tiêu dùng – thải bỏ” đang bộc lộ những hạn chế rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh tài nguyên không tái tạo ngày càng suy giảm và các cam kết quốc tế về giảm phát thải ngày càng chặt chẽ. Việc chôn lấp, đốt bỏ chất thải vẫn chiếm tỷ trọng lớn, không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn tạo áp lực lớn lên môi trường, trong khi tỷ lệ tái chế còn thấp, chủ yếu mang tính tự phát.
Trong bối cảnh đó, kinh tế tuần hoàn nổi lên như một xu thế tất yếu. Đây là mô hình phát triển dựa trên nguyên tắc kéo dài vòng đời vật liệu, tái sử dụng và tái chế chất thải, đồng thời giảm thiểu tối đa khai thác tài nguyên nguyên sinh. Các nguyên tắc này đã được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt tại Điều 138 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, nhấn mạnh việc ưu tiên tái chế, thu hồi năng lượng và giảm khai thác tài nguyên không tái tạo.
Không chỉ là lựa chọn, kinh tế tuần hoàn đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các nền kinh tế muốn phát triển bền vững. Nhiều quốc gia như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chuyển mạnh sang mô hình này, coi chất thải là “nguồn tài nguyên thứ cấp” trong chuỗi sản xuất. Tại Việt Nam, chủ trương này cũng đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết lớn, như Nghị quyết số 55-NQ/TW về phát triển năng lượng, trong đó nhấn mạnh việc tận dụng chất thải để sản xuất năng lượng và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Ngay trong Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) sửa đổi 2026, nguyên tắc này được thể hiện rõ khi nhấn mạnh yêu cầu “giảm thiểu phát sinh chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải”.

Chỉ rõ tính tất yếu của việc sửa Luật BVMT 2020, Thứ trưởng Bộ NN-MT Lê Công Thành cho biết, chúng ta đang đứng trước một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt. Những xu hướng toàn cầu như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và các tiêu chuẩn khắt khe về thị trường carbon đang tái định hình lại luật chơi thương mại quốc tế. Đây vừa là cơ hội vươn lên, vừa là thách thức rất lớn đối với Việt Nam.
Đặc biệt, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đặt ra mục tiêu phát triển mạnh mẽ với khát vọng tăng trưởng hai con số, nhưng đi kèm với đó là yêu cầu kiên quyết: Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường phải là trung tâm.
“Chúng ta phải cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế cho doanh nghiệp, nhưng tuyệt đối không được buông lỏng quản lý môi trường. Tinh thần phân cấp, phân quyền “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” đang được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Chính vì những đòi hỏi cấp bách đó, việc sửa đổi Luật BVMT 2020 là một yêu cầu tất yếu”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Theo Thứ trưởng Lê Công Thành, Dự thảo Luật mới tiếp tục kế thừa và phát huy hiệu lực, hiệu quả của các chính sách có tính đột phá của Luật BVMT năm 2020 như: Áp dụng tiêu chí môi trường trong phân loại dự án đầu tư để kiểm soát, quản lý linh hoạt theo mức độ rủi ro về môi trường; quản lý chất thải theo hướng tăng cường tái chế, tái sử dụng, thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; bảo vệ các thành phần môi trường thông qua việc lập và thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt, môi trường không khí.
Khoản 4 Điều 4: Nguyên tắc bảo vệ môi trường (Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026) ghi rõ:
“Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn, giảm thiểu phát sinh chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải để khai thác giá trị tài nguyên của chất thải, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra trên địa bàn”.
Đáng chú ý, tại Điều 5 của Dự thảo cũng xác định rõ định hướng: “Lồng ghép, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, trung hòa các-bon” trong xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội”. (Khoản 11 Điều 4 Dự thảo Luật BVMT sửa đổi, 2026, Điều 722026).
Điểm đột phá: Quản lý chất thải như tài nguyên
Điểm mới mang tính “bước ngoặt” của Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026 là việc thay đổi cách tiếp cận đối với chất thải. Từ khái niệm “đối tượng xử lý” đến “nguồn tài nguyên”, Dự thảo Luật cho phép một số loại chất thải, nếu đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, có thể được quản lý như sản phẩm hoặc nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý môi trường tại Việt Nam.

Lần đầu tiên, Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026, quy định rõ: “Chất thải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu… được quản lý như sản phẩm, hàng hóa” (Điểm d, Khoản 1, Điều 72 đã sửa đổi, bổ sung)
Trước đây, theo cách tiếp cận truyền thống, chất thải được coi là đối tượng cần xử lý, kiểm soát và loại bỏ nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu mang tính “hậu kiểm”, tập trung vào xử lý hậu quả hơn là khai thác giá trị.
Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026, đã thay đổi căn bản cách nhìn này. Khi chất thải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, nó không còn bị coi là “rác” mà trở thành một loại hàng hóa đặc biệt – có thể lưu thông, trao đổi và tham gia vào chuỗi sản xuất như một dạng tài nguyên thứ cấp.
Thực tế, nhiều loại chất thải hiện nay hoàn toàn có thể tái sử dụng hiệu quả như:
Chất thải làm nhiên liệu: Rác thải sinh hoạt sau phân loại có thể sản xuất nhiên liệu RDF hoặc được sử dụng đồng xử lý trong các nhà máy xi măng.
Vật liệu tái chế: Nhựa, kim loại, giấy, thủy tinh có thể được tái chế thành nguyên liệu sản xuất. Tro xỉ từ nhà máy nhiệt điện có thể dùng làm vật liệu xây dựng.
Thu hồi năng lượng: Công nghệ đốt rác phát điện, khí sinh học (biogas) từ chất thải hữu cơ đang ngày càng phổ biến.

Việc hợp pháp hóa các hoạt động này trong khuôn khổ pháp luật không chỉ giúp tối ưu hóa tài nguyên mà còn giảm đáng kể lượng chất thải phải xử lý cuối cùng.
Đây cũng là sự kế thừa và phát triển từ Luật Bảo vệ môi trường 2020, trong đó đã khuyến khích phát triển công nghệ tái chế, xử lý chất thải và sử dụng công nghệ thân thiện môi trường. Tuy nhiên, Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026, đi xa hơn khi tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho việc “chuyển hóa” chất thải thành tài nguyên.
Việc Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026 cho phép một số loại chất thải được quản lý như sản phẩm hoặc nguyên liệu đối với phát triển kinh tế tuần hoàn, theo PGS. TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp đây là bước chuyển lớn trong tư duy quản lý môi trường tại Việt Nam.
“Luật bảo vệ môi trường năm 2020 (luật số 72/2020/QH14), lần đầu tiên có riêng Điều 142. Kinh tế tuần hoàn được nêu trong luật và được hướng dẫn tại nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2022 quy định chi tiết một số điều của luật bảo vệ môi trường, đây có thể được coi là bước ngoặt về chuyển đổi tư duy quản lý qua đó chuyển đổi mô hình sản xuất của cả xã hội. Tuy nhiên từ góc độ cá nhân tôi nhận thấy việc chuyển đổi mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn còn khá chậm, một trong những nguyên nhân đó là nhận thức của cơ quan quản lý và việc thay đổi các quy định pháp luật theo định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn còn chưa đồng bộ.
Trước đây các bộ/ngành quản lý lĩnh vực theo mô hình chuỗi từ nguyên nhiên liệu đầu vào cho đến sản phẩm đầu ra, các chất thải được phân loại, thu gom và xử lý. Chính vì vậy việc tân dụng nguyên liệu, nhiên liệu từ chất thải đã không thể triển khai, dẫn đến lãng phí về năng lượng và gia tăng chi phí cho nhà sản xuất, thậm chí mất thêm chi phí cho hoạt động xử lý chất thải. Ví dụ nhà máy da giày/dệt may phải sử dụng củi trấu để lấy nhiệt lò hơi, củi trấu sau khi sử dụng hoá thành than có thể làm phân bón cho cây trồng nhưng theo cách quản lý như trên thì lại là “chất thải công nghiệp”, được các đơn vị có chức năng thu gom, xử lý như chất thải rắn công nghiệp và tất nhiên nguồn dinh dưỡng đó phải bị “xử lý” chứ không được tận dụng. Hay như nước thải công nghiệp của một số nhà máy đạt mức A của quy chuẩn nhưng không được sử dụng để tưới cây hoặc chuyển giao cho đơn vị môi trường đô thị (tưới rửa đường…) hoặc nước thải chăn nuôi hoàn toàn có thể là nguồn nước tưới dinh dưỡng nhưng lại không được chuyển giao cho các cơ sở trồng trọt….
Vì vậy việc cho phép một số loại chất thải được quản lý như sản phẩm hoặc nguyên liệu có ý nghĩa quan trọng với phát triển kinh tế tuần hoàn, giúp giảm khai thác tài nguyên, nâng cao giá trị về môi trường cho sản phẩm, giảm thiểu chất thải và chi phí xử lý, thúc đẩy thị trường tái chế, tái sử dụng, giảm chi phí sản xuất, tạo cơ sở phát triển bền vững".

Tuy nhiên vẫn còn có những thách thức trong thời gian tới về việc cần xây dựng rõ các tiêu chuẩn, quy định về chất thải là nguyên liệu nhằm tránh tạo kẽ hở cho doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm xử lý chất thải.
Như TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam từng nhận định: “Nếu không thay đổi cách tiếp cận, chúng ta sẽ mãi đuổi theo rác thải thay vì biến nó thành cơ hội phát triển bền vững.”
Điều 72: Yêu cầu về quản lý chất thải
Khoản 1a quy định như sau: Các loại chất thải sau đây được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho hoạt động sản xuất và không phải quản lý theo quy định về quản lý chất thải:
a) Thuộc danh mục chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn sinh hoạt có khả năng tái sử dụng, tái chế sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành;
b) Đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
Việc thừa nhận chất thải là tài nguyên không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn mở ra cơ hội lớn cho phát triển kinh tế.
Cú hích cho ngành công nghiệp môi trường
Trước hết, quy định mới sẽ tạo động lực thu hút đầu tư vào lĩnh vực tái chế, xử lý chất thải và công nghệ môi trường. Khi chất thải có giá trị kinh tế rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có động lực tham gia vào chuỗi thu gom – phân loại – tái chế – phân phối và tiêu thụ sản phẩm tái chế.
Thứ hai, ngành công nghiệp môi trường có cơ hội chuyển mình từ “dịch vụ xử lý rác” sang “ngành công nghiệp tài nguyên thứ cấp”. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy tăng trưởng xanh và chuyển đổi mô hình phát triển.
Các chỉ số môi trường thời gian qua cho thấy những cải thiện nhất định, như tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt hơn 97% vào năm 2024. Tuy nhiên, chất lượng xử lý và khả năng tái chế vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.
Việc hình thành thị trường chất thải như một loại hàng hóa sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ như: Công nghệ tái chế hiện đại; công nghệ xử lý chất thải phát điện; công nghệ sản xuất vật liệu từ chất thải…sẽ giúp khắc phục tình trạng này, đồng thời tạo thêm việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Đáng chú ý, Dự thảo cũng yêu cầu tăng cường nghiên cứu, chuyển giao công nghệ xử lý, tái chế chất thải và công nghệ thân thiện môi trường
Thị trường tái chế: Từ manh mún đến chuyên nghiệp
Một trong những tác động rõ nét nhất của quy định mới là sự thay đổi cấu trúc thị trường tái chế.
Hiện nay, hoạt động tái chế tại Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, phân tán, chủ yếu do các làng nghề hoặc khu vực phi chính thức đảm nhận. Điều này dẫn đến nhiều hệ lụy như ô nhiễm thứ cấp, hiệu quả thấp và khó kiểm soát.
Trong khi đó, khi chất thải được công nhận là nguyên liệu hợp pháp, thị trường sẽ dần được chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn môi trường. Doanh nghiệp lớn sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào lĩnh vực này, từ đó hình thành các chuỗi giá trị tái chế quy mô công nghiệp.
Trong 5–10 năm tới, thị trường tái chế tại Việt Nam có thể chứng kiến những thay đổi đáng kể: Giá trị của chất thải gia tăng, trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng; hình thành thị trường giao dịch vật liệu tái chế; liên kết với các cơ chế tài chính xanh như tín chỉ carbon; tăng cường hội nhập với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đây sẽ là nền tảng để Việt Nam tiến tới xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phù hợp với các cam kết quốc tế về giảm phát thải và phát triển bền vững.

Đề cập đến những quy định liên quan đến lĩnh vực tái chế sẽ mang lại cơ hội gì cho doanh nghiệp trong 5–10 năm tới, GS.TS. Nhà giáo nhân dân Đặng Thị Kim Chi - chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật và bảo vệ môi trường tại Việt Nam, nguyên Phó Viện trưởng Viện KHCN Môi trường (ĐH Bách khoa Hà Nội) nêu quan điểm: “Luật hiện nay đã quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của các doanh nghiệp trong hoạt động tái chế, đặc biệt là trách nhiệm tái chế các sản phẩm sau khi thải bỏ. Mục tiêu lớn của luật là hướng tới một nền kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh, tức là phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường trong đó, hoạt động tái chế đóng vai trò rất quan trọng. Khi doanh nghiệp có trách nhiệm tái chế và tái sử dụng chất thải, thì lượng chất thải ra môi trường sẽ giảm đi đáng kể. Đồng thời, chất thải của ngành này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho ngành khác. Đây chính là nền tảng của kinh tế tuần hoàn.
Bên cạnh đó, trong tương lai, các doanh nghiệp sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các tiêu chuẩn môi trường như nhãn sinh thái, các chứng nhận sản phẩm thân thiện môi trường, cũng như các bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững.
Trên thế giới đã có nhiều bộ tiêu chuẩn liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp mà các doanh nghiệp cần đáp ứng. Vì vậy, việc thúc đẩy tái chế không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn tạo ra cơ hội phát triển mới cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần đưa Việt Nam tiến tới nền kinh tế xanh, phát triển bền vững trong 5–10 năm tới.
“Chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải được tái sử dụng, tái chế, xử lý, thu hồi năng lượng tại cơ sở hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng, giấy phép môi trường phù hợp để tái chế, xử lý, đồng xử lý chất thải, thu hồi năng lượng hoặc sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho hoạt động sản xuất theo quy định của Luật này. (Điểm b Khoản 1 Điều 72 Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026)
Không để “tài nguyên mới” trở thành nguồn ô nhiễm mới
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, việc chuyển đổi tư duy cũng đặt ra không ít thách thức. Nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, việc cho phép sử dụng chất thải làm nguyên liệu có thể dẫn đến nguy cơ “hợp thức hóa chất thải”, gây ô nhiễm thứ cấp và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Do đó, để chính sách phát huy hiệu quả, cần đồng thời thiết lập các điều kiện nghiêm ngặt: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho sản phẩm tái chế; kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc, thành phần chất thải; áp dụng cơ chế truy xuất nguồn gốc và tăng cường thanh tra, giám sát và chế tài xử lý vi phạm.

Bài học từ các quốc gia phát triển cho thấy, chỉ khi hệ thống tiêu chuẩn được thiết lập đầy đủ và thực thi nghiêm túc, chất thải mới thực sự trở thành tài nguyên an toàn và bền vững.
Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026, Điều 72a bổ sung mới hoàn toàn những tiêu chí về quản lý an toàn; đáp ứng quy định chất lượng và ưu tiên sử dụng trong mua sắm công.
Theo TS. Trần Văn Minh – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nội dung sửa đổi trong Dự thảo Luật BVMT 2026 không chỉ là vấn đề môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Việc phân loại dự án theo 3 nhóm là bước tiến quan trọng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí và tăng tính minh bạch. Dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 đang cho thấy nỗ lực lớn của cơ quan quản lý trong việc cân bằng giữa hai mục tiêu: tạo thuận lợi cho đầu tư và đảm bảo kiểm soát ô nhiễm, thể hiện sự tiến bộ, phù hợp trong bối cảnh mới.
Điều 72a. Quản lý sản phẩm tái chế từ hoạt động xử lý, tái chế chất thải:
1. Sản phẩm tái chế là sản phẩm được sản xuất từ chất thải sau khi đã được xử lý, thu hồi, tái chế theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
2. Việc quản lý sản phẩm tái chế được thực hiện theo cách tiếp cận quản lý an toàn đối với sức khỏe con người và môi trường, phù hợp với mục đích, điều kiện sử dụng.
3. Sản phẩm tái chế khi lưu thông trên thị trường thì phải đáp ứng các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa đối với sản phẩm thu hồi, tái chế từ chất thải.
5. Tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm tái chế khi đưa vào sử dụng hoặc lưu thông trên thị trường có trách nhiệm bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và yêu cầu về bảo vệ môi trường.
6. Nhà nước có chính sách ưu tiên sử dụng sản phẩm tái chế đáp ứng yêu cầu theo quy định bao gồm:
a) Hoạt động mua sắm công;
b) Các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước;
c) Các chương trình, dự án phát triển hạ tầng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp, môi trường, phù hợp với mục tiêu, tính chất và yêu cầu kỹ thuật của dự án.
7. Sản phẩm tái chế được xử lý, tái chế chưa đáp ứng yêu cầu quy định phải được quản lý theo quy định về quản lý chất thải.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

TS. Trịnh Xuân Đức – Viện trưởng, Viện Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường (SIIEE) cho rằng Dự thảo sửa đổi Điều 72 và bổ sung Điều 72a là một trong những điểm tiến bộ nhất. Theo đó, chất thải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu có thể được quản lý như sản phẩm, hàng hóa; một số chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn sinh hoạt có khả năng tái sử dụng, tái chế được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mà không phải quản lý theo quy định về quản lý chất thải.
Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “chất thải là gánh nặng” sang “chất thải là tài nguyên thứ cấp”. Quy định này sẽ thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế, nhiên liệu thay thế, đồng xử lý chất thải, thu hồi năng lượng và công nghiệp môi trường.
“Việc bổ sung Điều 72a về quản lý sản phẩm tái chế từ hoạt động xử lý, tái chế chất thải cũng rất cần thiết. Dự thảo xác định sản phẩm tái chế khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm tái chế trong mua sắm công, dự án sử dụng vốn nhà nước, hạ tầng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp và môi trường. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển thị trường đầu ra cho sản phẩm tái chế”, TS. Trịnh Xuân Đức chia sẻ.
Việc chuyển đổi từ tư duy “chất thải là gánh nặng” sang “chất thải là tài nguyên” không chỉ là thay đổi về chính sách, mà còn là bước ngoặt trong cách tiếp cận phát triển của Việt Nam.
Dự thảo Luật BVMT sửa đổi 2026, với những điểm mới mang tính đột phá, đang mở ra cơ hội lớn để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, phát triển ngành công nghiệp môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần một hệ thống thể chế đồng bộ, tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ và sự tham gia tích cực của cả Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Chỉ khi đó, chất thải mới thực sự được “tái sinh” thành tài nguyên, góp phần xây dựng một nền kinh tế xanh, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao trong tương lai.
Người thực hiện: Thu Trinh
