Tài nguyên nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Tiềm năng, thách thức và định hướng khai thác sử dụng bền vững

Tài nguyên nước - Ngày đăng : 09:27, 23/05/2026

Với nhiều lưu vực sông lớn, đặc biệt là hệ thống rừng đầu nguồn, khu vực miền Trung - Tây Nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, an ninh nguồn nước và an ninh quốc phòng của Việt Nam.
Tài nguyên nước

Tài nguyên nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên: Tiềm năng, thách thức và định hướng khai thác sử dụng bền vững

GS.TS Phạm Quý Nhân, TS Tống Ngọc Thanh {Ngày xuất bản}

Với nhiều lưu vực sông lớn, đặc biệt là hệ thống rừng đầu nguồn, khu vực miền Trung - Tây Nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, an ninh nguồn nước và an ninh quốc phòng của Việt Nam.

chatgpt-image-12_08_48-18-thg-5-2026.png

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, an ninh nguồn nước và an ninh quốc phòng của Việt Nam. Vùng bao gồm nhiều lưu vực sông (LVS) như LVS Vu Gia – Thu Bồn, LVS Trà Khúc, LVS Kôn – Hà Thanh, LVS Ba, LVS Sê San, LVS Srêpốk và LVS Đồng Nai [1-8]. Tây Nguyên là vùng sinh thủy quan trọng với hệ thống rừng đầu nguồn và các tầng chứa nước bazan có tiềm năng lớn, trong khi Nam Trung Bộ là khu vực khô hạn nhất cả nước với các lưu vực ven biển ngắn, dốc và thiếu nước mùa khô. Bên cạnh đó, đây là nới có tiềm năng lớn về nước khoáng và nước nóng nhờ đặc điểm địa chất kiến tạo phức tạp và hoạt động đứt gãy mạnh, tạo điều kiện hình thành nhiều nguồn nước khoáng thiên nhiên có giá trị.

Mặc dù khu vực có tiềm năng tài nguyên nước khá lớn, song nguồn nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Khoảng 60–80% dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài 6–8 tháng, thường gây hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng [1]. Nhiều nơi đang đối mặt với tình trạng suy giảm nước dưới đất do khai thác quá mức phục vụ tưới cây công nghiệp, đặc biệt tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng [1,6,7,8]. Bên cạnh đó là các vấn đề ngày càng gia tăng như lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước do đô thị hóa, công nghiệp và nông nghiệp thâm canh.

Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, tài nguyên nước có vai trò then chốt trong cấp nước sạch, phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu nước mùa khô, suy giảm nguồn nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước và thiên tai liên quan đến nước đang trở thành thách thức lớn đối với phát triển bền vững của khu vực. Ở khu vực nông thôn tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn chỉ chiếm khoảng 22–27% thấp nhất so với cả nước (51%). Tình trạng khan hiếm nguồn nước, hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn và hạ tầng cấp nước chưa đồng bộ đang đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn.Vì vậy, việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ rừng đầu nguồn, tăng cường tích trữ nước, sử dụng nước tiết kiệm và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay [1].

gs-nhan-h1.png

Tiềm năng tài nguyên nước miền Trung - Tây Nguyên

Khu vực Miền Trung - Tây Nguyên có tiềm năng tài nguyên nước khá lớn nhờ hệ thống LVS rộng, lượng mưa tương đối cao ở vùng núi và vai trò sinh thủy quan trọng của Tây Nguyên. Đây là khu vực cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy điện, cấp nước sinh hoạt và phát triển kinh tế – xã hội của miền Trung và Nam Bộ.

Hệ thống sông ngòi trong khu vực bao gồm nhiều lưu vực như LVS Vu Gia – Thu Bồn, LVS Trà Khúc, LVS Kôn – Hà Thanh, LVS Ba, LVS Sê San, LVS Srêpốk, LVS Cái Ninh Hoà, LVS Cái Nha Trang, nhóm các LVS Đông Nam Bộ và LVS Đồng Nai [2-8]. Một số lưu vực có tổng lượng dòng chảy trung bình năm khá lớn như Đồng Nai khoảng 39,98 tỷ m³/năm [2], Vu Gia – Thu Bồn khoảng 19,35 tỷ m³/năm [3], Srêpốk khoảng 18,40 tỷ m³/năm [8] và Sê San khoảng 12,84 tỷ m³/năm [7]. Đây là nguồn nước quan trọng cho thủy điện, tưới tiêu và cấp nước đô thị.

nhan-2.jpg
Phân mùa và tổng lượng mưa mùa trên các LVS

Khu vực có lượng mưa khá lớn tại vùng núi và sườn đón gió. Một số lưu vực có lượng mưa trung bình năm thuộc nhóm cao của cả nước như Vu Gia – Thu Bồn khoảng 2.700 mm/năm, Trà Khúc khoảng 2.642 mm/năm và Kôn – Hà Thanh khoảng 2.111 mm/năm. Tây Nguyên đóng vai trò vùng sinh thủy quan trọng nhờ diện tích rừng đầu nguồn lớn, góp phần duy trì dòng chảy cho các sông ở miền Trung và Đông Nam Bộ.

Tài nguyên nước dưới đất của khu vực cũng có tiềm năng đáng kể, đặc biệt trong các tầng chứa nước bazan Tây Nguyên. Các lưu vực có trữ lượng khai thác nước dưới đất lớn gồm Đồng Nai khoảng 3,024 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 1,370 tỷ m³/năm và sông Ba khoảng 747 triệu m³/năm. Nguồn nước dưới đất hiện đóng vai trò quan trọng cho cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp tại nhiều tỉnh Tây Nguyên.

nhan-4.jpg
Trữ lượng nước dưới đất nhạt có thể khai thác tại các LVS

Ngoài tiềm năng nước mặt và nước dưới đất, khu vực còn có hệ thống hồ chứa và thủy điện lớn nhất cả nước, đặc biệt trên các lưu vực Sê San, Srêpốk và Đồng Nai. Nhiều công trình lớn như thủy điện Ialy, Sê San 4, Buôn Tua Srah, hồ Đơn Dương và hồ Đại Ninh đóng vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, phát điện, chống hạn và cấp nước hạ du.

Bên cạnh những tiềm năng lớn, tài nguyên nước của khu vực cũng mang tính dễ tổn thương cao do phân bố không đều theo mùa và không gian. Khoảng 60–80% dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài 6–8 tháng, đặc biệt tại Nam Trung Bộ [1]. Vì vậy, việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên nước cần gắn với bảo vệ rừng đầu nguồn, tăng cường tích trữ nước, vận hành liên hồ chứa và bổ cập nước dưới đất nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Nhu cầu sử dụng nước

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên là một trong những vùng có nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh nhất cả nước do tác động của phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đô thị hóa và du lịch ven biển. Nhu cầu nước tập trung chủ yếu cho tưới cây công nghiệp, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và duy trì dòng chảy môi trường.

Nông nghiệp hiện vẫn là ngành sử dụng nước lớn nhất trong khu vực. Tây Nguyên có khoảng 640–700 nghìn ha cà phê, hơn 80 nghìn ha hồ tiêu cùng diện tích lớn cao su và cây ăn quả. Riêng cây cà phê cần khoảng 600–800 m³/ha/lần tưới và thường tưới 3–5 lần trong mùa khô. Tổng nhu cầu nước tưới cho khoảng 700 nghìn ha cà phê được ước tính gần 2 tỷ m³ nước mỗi mùa khô. Việc khai thác nước phục vụ tưới chủ yếu từ nước dưới đất và các hồ chứa nhỏ, tạo áp lực lớn lên nguồn nước mùa kiệt.

Nhu cầu nước sinh hoạt và du lịch cũng tăng nhanh tại các đô thị ven biển như Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn và Phan Thiết. Trong khi đó, nhiều lưu vực ven biển có nguồn nước hạn chế và mùa khô kéo dài, làm gia tăng nguy cơ thiếu nước sinh hoạt và cấp nước đô thị trong tương lai.

nhu-cau-nc.png

Theo Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, tổng nhu cầu sử dụng nước trên cả nước dự báo tăng từ khoảng 117 tỷ m³/năm hiện nay lên khoảng 131 tỷ m³/năm vào năm 2050. Trong đó: nhu cầu nước công nghiệp tăng mạnh nhất, nhu cầu nước sinh hoạt gần gấp đôi hiện nay, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng sử dụng nước lớn nhất.

Nhu cầu nước mùa cạn của khu vực hiện khoảng 67,7 tỷ m³/năm và có thể tăng lên khoảng 73,4 tỷ m³/năm vào năm 2050, chiếm khoảng 66% tổng nhu cầu nước năm. Nhiều lưu vực có nhu cầu nước tập trung rất lớn vào mùa khô như LVS Vu Gia – Thu Bồn, LVS Trà Khúc, LVS Ba và LVS Cái Ninh Hòa. Đặc biệt, LVS Cái Ninh Hòa có nhu cầu nước mùa cạn chiếm tới khoảng 92% tổng nhu cầu nước năm.

nhan-9.jpg
Tổng lượng dòng chảy 3 tháng kiệt nhất (3TKN) và tháng kiệt nhất (TKN) trên các LVS

Ngoài nông nghiệp và sinh hoạt, nhu cầu nước cho công nghiệp, năng lượng và du lịch cũng đang gia tăng nhanh. Các tỉnh Tây Nguyên phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, khai khoáng và thủy điện; trong khi các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ mở rộng nhanh du lịch và đô thị hóa. Điều này làm gia tăng áp lực khai thác nước mặt và nước dưới đất, đặc biệt trong mùa khô và các năm hạn hán.

Theo dự báo đến năm 2050, nhiều lưu vực trong khu vực như LVS Kôn – Hà Thanh, LVS Ba, LVS Sê San, LVS Srêpốk và LVS Cái Ninh Hòa có nguy cơ thiếu nước cao trong điều kiện thủy văn trung bình. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng nước, phát triển các giải pháp tích trữ và điều tiết nước, đồng thời sử dụng nước tiết kiệm và bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Các thách thức liên quan đến tài nguyên nước

Mặc dù có tiềm năng tài nguyên nước khá lớn, khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng liên quan đến số lượng và chất lượng nguồn nước dưới tác động của biến đổi khí hậu, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và phát triển kinh tế – xã hội.

Phân bố nguồn nước không đều và nguy cơ thiếu nước mùa khô

Thách thức lớn nhất của khu vực là sự mất cân bằng nguồn nước theo không gian và thời gian. Nhiều lưu vực có lượng nước khá lớn như LVS Đồng Nai, LVS Vu Gia – Thu Bồn và LVS Srêpốk, trong khi các lưu vực ven biển Nam Trung Bộ như LVS Cái Ninh Hòa và LVS Cái Nha Trang có nguồn nước rất hạn chế.

thach-thuc.png

Khoảng 60–80% lượng dòng chảy năm tập trung trong mùa mưa, còn mùa khô kéo dài từ 6–8 tháng. Điều này làm cho nhiều địa phương thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước tưới, thiếu nước sinh hoạt và gia tăng xâm nhập mặn vào mùa kiệt, đặc biệt tại Ninh Thuận và Bình Thuận.

Hạn hán, lũ lụt và cực đoan dòng chảy gia tăng

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính cực đoan của chế độ mưa và dòng chảy trong khu vực. Các hiện tượng El Niño mạnh kéo dài làm mùa khô gay gắt hơn, trong khi mưa lớn cường độ cao gây lũ lên nhanh trên các LVS ngắn và dốc.

nhan-11.jpg
Đàn bò gầy trơ xương trong trận hạn hán lịch sử năm 2016 tại Ninh Thuận

Các đợt hạn hán lịch sử giai đoạn 2015–2016 tại Ninh Thuận và Bình Thuận đã làm nhiều hồ chứa xuống dưới mực nước chết và hàng chục nghìn hecta cây trồng thiếu nước. Trong khi đó, đợt lũ miền Trung năm 2020 do cơn bão số 9 - bão Molave và mưa lớn kéo dài đã gây ngập nghiêm trọng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Trận mưa lịch sử tại Đà Nẵng tháng 10/2022 với lượng mưa trên 500 mm/24 giờ cũng gây ngập sâu trên diện rộng.

Ngoài lũ lụt, khu vực còn thường xuyên xảy ra lũ quét và sạt lở đất tại các tỉnh miền núi Tây Nguyên và Nam Trung Bộ như Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Quảng Nam.

Suy giảm nước dưới đất

Khai thác mạnh nước dưới đất phục vụ tưới cây công nghiệp đang làm suy giảm mực nước ngầm tại nhiều khu vực Tây Nguyên. Hiện tượng hạ thấp mực nước dưới đất đã được ghi nhận tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng do khai thác phục vụ tưới cà phê, hồ tiêu và cây công nghiệp lâu năm.

lua.png
Năm 2025, lũ trên sông Bồ (Huế) đạt 5,27m, vượt mức lịch sử 2020

Nhiều giếng khoan đã suy giảm lưu lượng hoặc cạn nước cục bộ trong mùa khô, buộc người dân phải khoan sâu hơn để khai thác nước. Việc suy giảm bổ cập tự nhiên do mất rừng đầu nguồn cũng làm gia tăng nguy cơ cạn kiệt nguồn nước dưới đất trong tương lai.

Ô nhiễm nguồn nước

Ô nhiễm nguồn nước đang trở thành một trong những thách thức nghiêm trọng nhất của khu vực. Áp lực ô nhiễm xuất hiện trên cả nước mặt và nước dưới đất do nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và nông nghiệp thâm canh.

Tại các đô thị ven biển như Nha Trang, Quy Nhơn và Phan Thiết, tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải còn thấp, khiến nhiều nguồn nước bị gia tăng các chỉ tiêu ô nhiễm như BOD, COD, Amoni và Coliform trong mùa kiệt.

nhan-15.jpg
Tỷ lệ chỉ số chất lượng nước (WQI) tại các điểm quan trắc giai đoạn 2016–2020

Tại Tây Nguyên, việc sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác cà phê, hồ tiêu và cây công nghiệp làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm Nitrat và Photphat trong nước mặt và nước dưới đất. Hoạt động công nghiệp, khai khoáng và chế biến nông sản cũng tạo áp lực lớn lên chất lượng nguồn nước tại nhiều lưu vực.

Phụ thuộc lớn vào hồ chứa và quản lý liên lưu vực

Khu vực hiện có mật độ hồ chứa và thủy điện lớn nhất cả nước, đặc biệt trên các lưu vực Sê San, Srêpốk và Đồng Nai. Các hồ chứa lớn đóng vai trò quan trọng trong cấp nước, phát điện và chống hạn, nhưng cũng làm thay đổi chế độ dòng chảy tự nhiên và suy giảm dòng chảy môi trường ở hạ du nếu vận hành chưa hợp lý.

Ngoài ra, các lưu vực quốc tế như LVS Sê San và LVS Srêpốk còn đặt ra yêu cầu phối hợp quản lý nguồn nước xuyên biên giới giữa Việt Nam và Campuchia.

Nhìn chung, các thách thức về tài nguyên nước tại Miền Trung - Tây Nguyên đang có xu hướng gia tăng dưới tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và suy giảm hệ sinh thái đầu nguồn. Điều này đòi hỏi phải có các giải pháp quản lý tổng hợp, khai thác hợp lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước trong thời gian tới.

Định hướng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước

Để bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu sử dụng nước, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước theo hướng tổng hợp và liên vùng.

anh-dinh-huong.png

Trước hết, cần tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS, kết hợp chặt chẽ giữa khai thác nước mặt, nước dưới đất và bảo vệ hệ sinh thái đầu nguồn. Việc bảo vệ và phục hồi rừng đầu nguồn Tây Nguyên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm duy trì khả năng sinh thủy, giảm xói mòn và tăng bổ cập nước dưới đất.

Đối với nguồn nước mặt, cần nâng cao hiệu quả vận hành liên hồ chứa, tăng cường tích trữ nước mùa mưa để cấp nước mùa khô, đồng thời duy trì dòng chảy môi trường cho hạ du. Các giải pháp chuyển nước liên lưu vực và xây dựng công trình điều tiết nước cần được nghiên cứu phù hợp với điều kiện từng vùng.

Đối với nước dưới đất, cần kiểm soát khai thác tại các khu vực đang suy giảm mực nước ngầm như Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng; đồng thời thúc đẩy các giải pháp bổ cập nhân tạo, bảo vệ vùng bổ cập và sử dụng nước tiết kiệm trong nông nghiệp.

Trong sản xuất nông nghiệp, cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm cho cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả nhằm giảm áp lực khai thác nước mùa khô. Đồng thời, cần tăng cường tái sử dụng nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong công nghiệp, đô thị và du lịch.

Bên cạnh đó, cần kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thông qua nâng cao tỷ lệ thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp; tăng cường quan trắc chất lượng nước và phục hồi các đoạn sông, hồ bị suy thoái.

Ngoài ra, cần nâng cao năng lực dự báo hạn hán, lũ lụt và cực đoan khí hậu; tăng cường hợp tác quản lý nguồn nước xuyên biên giới đối với các lưu vực LVS Sê San và LVS Srêpốk nhằm bảo đảm khai thác, sử dụng công bằng và bền vững nguồn nước trong khu vực.

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên có tiềm năng tài nguyên nước khá lớn với nhiều LVS quan trọng, nguồn nước dưới đất bazan và hệ thống hồ chứa quy mô lớn. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian, trong khi nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp, đô thị, công nghiệp và du lịch ngày càng gia tăng.

bia-cuoi.png

Biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, suy giảm nước dưới đất và ô nhiễm nguồn nước đang trở thành những thách thức lớn đối với phát triển bền vững của khu vực. Đặc biệt, tình trạng thiếu nước mùa khô và khai thác nước dưới đất quá mức tại Tây Nguyên đang gây nhiều áp lực lên an ninh nguồn nước.

Vì vậy, cần tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo LVS, bảo vệ rừng đầu nguồn, sử dụng nước tiết kiệm, nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa và kiểm soát ô nhiễm nguồn nước nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng nông thôn mới bền vững trong tương lai.

Tài liệu tham khảo
[1]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2022). Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Ban hành theo Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ). Hà Nội.
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Ban hành theo Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 08/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ). Hà Nội.
[3]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Vu Gia – Thu Bồn thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
[4]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Trà Khúc thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
[5]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Kôn – Hà Thanh thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
[6]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Ba thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
[7]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Sê San thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.
[8]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2024). Quy hoạch tổng hợp LVS Srêpốk thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.

Người thực hiện: GS.TS Phạm Quý Nhân, TS Tống Ngọc Thanh