Hạn hán, thiếu nước và yêu cầu chủ động nguồn nước khu vực miền Trung – Tây Nguyên

Emagazines - Ngày đăng : 09:47, 23/05/2026

Hạn hán, thiếu nước đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cùng áp lực khai thác tài nguyên nước ngày càng gia tăng
Emagazines

Hạn hán, thiếu nước và yêu cầu chủ động nguồn nước khu vực miền Trung – Tây Nguyên

{Tên tác giả} {Ngày xuất bản}

Hạn hán, thiếu nước đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cùng áp lực khai thác tài nguyên nước ngày càng gia tăng

chatgpt-image-10_55_54-18-thg-5-2026.png

Hạn hán, thiếu nước đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cùng áp lực khai thác tài nguyên nước ngày càng gia tăng, nhiều địa phương trong khu vực thường xuyên đối mặt với nguy cơ thiếu nước cho sản xuất, sinh hoạt và môi trường. Trước thực trạng đó, yêu cầu chủ động nguồn nước, nâng cao năng lực dự báo, điều phối, tích trữ và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước đang đặt ra cấp thiết nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán, hướng tới phát triển bền vững.

Hạn hán, thiếu nước – thách thức ngày càng lớn đối với miền Trung – Tây Nguyên

Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, đóng vai trò duy trì sự sống, bảo đảm sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội. Từ hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người dân đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, giao thông thủy hay duy trì hệ sinh thái tự nhiên đều cần đến nước. Chính vì vậy, tài nguyên nước không chỉ là yếu tố thiết yếu đối với đời sống mà còn là nền tảng bảo đảm an ninh lương thực, an ninh môi trường và phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

Trong 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc, mục tiêu số 6 nhấn mạnh yêu cầu “Đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nước và vệ sinh cho tất cả mọi người”. Điều này cho thấy vấn đề tài nguyên nước đã trở thành mối quan tâm toàn cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng dân số và nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn.

picture1.png
17 mục tiêu phát triển bền vững (SGDs)

Tại Việt Nam, hạn hán và thiếu nước đang diễn biến ngày càng phức tạp, xảy ra trên phạm vi rộng và để lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Hạn hán được hiểu là tình trạng thiếu hụt lượng mưa kéo dài, gây mất cân bằng nguồn nước và dẫn đến thiếu nước cho sinh hoạt, sản xuất cũng như môi trường sinh thái. Đây là hiện tượng mang tính tổng hợp, hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và tác động từ con người.

Về nguyên nhân tự nhiên, những năm gần đây, lượng mưa tại nhiều khu vực có xu hướng suy giảm và phân bố thất thường. Các hiện tượng thời tiết cực đoan, đặc biệt là El Nino, xuất hiện với tần suất dày hơn và kéo dài hơn đã làm gia tăng nguy cơ khô hạn trên diện rộng. Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu, nóng lên toàn cầu, nước biển dâng và xâm nhập mặn đang ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến nguồn nước mặt cũng như nước dưới đất.

picture2.jpg

Một nguyên nhân quan trọng khác là sự suy giảm diện tích rừng và độ che phủ của thảm thực vật. Khi rừng bị suy giảm, khả năng giữ nước tự nhiên của lưu vực sông cũng giảm theo, dẫn đến tình trạng dòng chảy mùa mưa tập trung nhanh nhưng mùa khô lại thiếu nước nghiêm trọng. Điều này đặc biệt rõ nét tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, nơi có địa hình dốc, hệ thống sông ngắn và phụ thuộc lớn vào nguồn nước mưa.

Ngoài nguyên nhân tự nhiên, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội thiếu bền vững cũng đang tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước. Tình trạng khai thác nước quá mức, phát triển nông nghiệp chưa phù hợp quy hoạch, ô nhiễm nguồn nước, xây dựng đập và ngăn dòng làm giảm lưu lượng nước về hạ lưu đã khiến nguy cơ hạn hán và thiếu nước gia tăng tại nhiều địa phương.

Theo đánh giá, Tây Nguyên hiện là khu vực có nguy cơ hạn hán cao nhất Việt Nam, thường xảy ra từ tháng 12 đến tháng 4 hằng năm. Trong khi đó, khu vực Nam Trung Bộ, đặc biệt là Ninh Thuận, thường xuyên xảy ra hạn kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8. Các vùng Bắc Trung Bộ, Đông Bắc hay Nam Bộ cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của khô hạn và xâm nhập mặn theo từng thời kỳ trong năm.

Khu vực miền Trung – Tây Nguyên bao gồm các tỉnh, thành phố như Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Khánh Hòa. Đây là khu vực có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thủy điện và du lịch. Tuy nhiên, nguồn nước của vùng lại phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Mùa mưa thường ngắn, lượng mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn khiến phần lớn nước chảy nhanh ra biển. Trong khi đó, mùa khô kéo dài làm nhiều sông, suối suy giảm lưu lượng nghiêm trọng.

Những năm gần đây, hạn hán tại Tây Nguyên đã gây ra nhiều thiệt hại lớn đối với sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Mùa khô năm 2024, riêng tỉnh Đắk Lắk có khoảng 27.284 ha cây trồng bị ảnh hưởng do hạn và thiếu nước. Trong đó, hơn 1.453 ha bị mất trắng, khoảng 20.290 ha thiệt hại từ 30 - 70%, tổng thiệt hại ước tính hơn 155 tỷ đồng.

Không chỉ gây thiệt hại cho sản xuất, hạn hán còn khiến nhiều khu vực rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt kéo dài. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao thường phải sử dụng nguồn nước tạm bợ, không bảo đảm vệ sinh, làm gia tăng nguy cơ bệnh tật và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống.

picture4.png
Nguồn: OpenDevelopmentVietnam

Hạn hán cũng gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái như cháy rừng, suy giảm đa dạng sinh học, thoái hóa đất và sa mạc hóa. Nhiều dòng sông, ao hồ cạn kiệt làm mất nơi sinh sống của các loài thủy sinh, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái tự nhiên. Bên cạnh đó, việc thiếu nước kéo dài còn làm phát sinh các vấn đề xã hội như di cư lao động, giảm thu nhập của người dân và nguy cơ xung đột trong khai thác, sử dụng nguồn nước.

Dù trong một số năm gần đây mức độ hạn hán có xu hướng giảm, song đây chủ yếu là tính chu kỳ và phụ thuộc lớn vào diễn biến thời tiết, đặc biệt là chu kỳ El Nino. Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ hạn hán vẫn luôn hiện hữu và có thể gia tăng trong tương lai nếu không có các giải pháp ứng phó căn cơ, lâu dài.

Chủ động nguồn nước – giải pháp căn cơ giảm thiểu tác động của hạn hán

Trước những thách thức ngày càng lớn về tài nguyên nước, yêu cầu chủ động nguồn nước đang trở thành nhiệm vụ cấp thiết đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Chủ động nguồn nước không chỉ là bảo đảm đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt mà còn là nâng cao năng lực dự báo, quản lý, điều phối và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước trong mọi tình huống.

Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương đã triển khai nhiều nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phòng, chống và giảm thiểu tác động của hạn hán, thiếu nước. Trong đó, nhóm giải pháp quản lý được đặc biệt chú trọng với việc đẩy mạnh quy hoạch tài nguyên nước theo hướng tích hợp, tăng cường tuyên truyền thay đổi nhận thức cộng đồng về sử dụng nước tiết kiệm và chủ động bố trí nguồn lực ứng phó với hạn hán.

picture13.png
TỔNG HỢP DIỆN TÍCH BỊ HẠN THEO ĐỊA PHƯƠNG (1998-2024 (ha)

Một bước tiến quan trọng là việc ban hành Luật Tài nguyên nước năm 2023. Luật đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến xây dựng kịch bản nguồn nước, kế hoạch bảo vệ nước dưới đất, phục hồi nguồn nước và phát triển các giải pháp bổ cập nhân tạo. Đây được xem là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

Cùng với đó, Luật Bảo vệ môi trường cũng yêu cầu đánh giá sức chịu tải nguồn nước và xây dựng kế hoạch quản lý môi trường nước mặt. Các địa phương được phân cấp mạnh hơn để chủ động triển khai các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế, trong khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò hướng dẫn, giám sát và ban hành các quy định chuyên môn.

Song song với giải pháp quản lý, nhiều giải pháp kỹ thuật cũng đã được triển khai đồng bộ. Các nhiệm vụ điều tra, đánh giá tài nguyên nước; xác định dòng chảy tối thiểu; đánh giá sức chịu tải nguồn nước; điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng và xả thải được thực hiện trên nhiều lưu vực sông. Đồng thời, các hệ thống cảnh báo sớm, xây dựng kịch bản nguồn nước và quy trình vận hành liên hồ chứa cũng từng bước được hoàn thiện.

picture14.png

Nhiều công trình hạ tầng phục vụ tích trữ và điều tiết nước như hồ chứa, đập dâng, hệ thống thủy lợi, trạm bơm cũng được đầu tư xây dựng nhằm nâng cao khả năng cấp nước trong mùa khô. Các giải pháp bổ cập nhân tạo, tăng cường khả năng bổ sung nước cho tầng chứa nước dưới đất cũng đang được nghiên cứu và triển khai tại một số khu vực khan hiếm nước.

picture11.jpg

Nhiều khu vực còn xảy ra thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến đời sống người dân

Một số kết quả nổi bật đã đạt được trong thời gian qua. Theo thống kê, đã thực hiện 246 lỗ khoan tại 92 vùng thuộc Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với tổng lưu lượng khai thác khoảng 39.352 m³/ngày, có khả năng đáp ứng nước sinh hoạt cho khoảng 393.520 người dân. Ngoài ra, 3 trạm cấp nước chống hạn đã được xây dựng tại Gia Lai và Kon Tum để hỗ trợ người dân trong các đợt hạn hán nghiêm trọng.

Công tác kiểm kê tài nguyên nước, đánh giá sức chịu tải nguồn nước và bảo vệ nước dưới đất cũng được triển khai tại nhiều địa phương như Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa. Một số đô thị lớn như Buôn Ma Thuột, Tuy Hòa, Quảng Ngãi, Quy Nhơn đã xây dựng kế hoạch bảo vệ nước dưới đất nhằm hạn chế nguy cơ suy giảm và ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Trong thời gian tới, để chủ động nguồn nước hiệu quả hơn, các địa phương cần tập trung nâng cao năng lực nhận diện, dự báo và cảnh báo sớm nguy cơ hạn hán. Việc kiểm kê nguồn nước, dự báo nhu cầu sử dụng nước và khoanh vùng nguy cơ thiếu nước cần được triển khai thường xuyên nhằm xác định rõ khu vực thiếu nước, mức độ thiếu hụt và đối tượng chịu ảnh hưởng.

picture12.jpg

Đồng thời, cần thực hiện hiệu quả các giải pháp tích trữ, điều hòa và phân phối nước theo thứ tự ưu tiên. Trong đó, ưu tiên cao nhất là nước sinh hoạt, nước uống cho gia súc và nhu cầu thiết yếu của người dân; tiếp đến là cây trồng lâu năm, cây có giá trị kinh tế cao và sản xuất nông nghiệp.

Việc vận hành liên hồ chứa, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước và áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm cần được triển khai linh hoạt theo từng khu vực. Đồng thời, cần đẩy mạnh sửa chữa kênh mương, giảm thất thoát nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp.

Một yêu cầu quan trọng khác là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, giám sát gần thời gian thực và ứng dụng DSS/WebGIS trong điều hành sẽ giúp nâng cao khả năng dự báo, hỗ trợ ra quyết định và phối hợp vận hành nguồn nước theo lưu vực.

Đồng thời, cần thực hiện hiệu quả các giải pháp tích trữ, điều hòa và phân phối nước theo thứ tự ưu tiên. Trong đó, ưu tiên cao nhất là nước sinh hoạt, nước uống cho gia súc và nhu cầu thiết yếu của người dân; tiếp đến là cây trồng lâu năm, cây có giá trị kinh tế cao và sản xuất nông nghiệp.

Việc vận hành liên hồ chứa, điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước và áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm cần được triển khai linh hoạt theo từng khu vực. Đồng thời, cần đẩy mạnh sửa chữa kênh mương, giảm thất thoát nước và nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp.

Một yêu cầu quan trọng khác là thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, giám sát gần thời gian thực và ứng dụng DSS/WebGIS trong điều hành sẽ giúp nâng cao khả năng dự báo, hỗ trợ ra quyết định và phối hợp vận hành nguồn nước theo lưu vực.

THỰC HIỆN:

TRUNG TÂM QUY HOẠCH VÀ ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN NƯỚC QUỐC GIA - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG