Bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng áp lực phát triển

Nước và cuộc sống - Ngày đăng : 11:41, 23/05/2026

Biến đổi khí hậu, suy giảm nước ngầm và nhu cầu sử dụng nước gia tăng đang đặt Tây Nguyên trước sức ép lớn về an ninh nguồn nước. Chuyên gia cho rằng cần đổi mới tư duy quản trị tài nguyên nước, tăng năng lực điều tiết nước mặt và quy hoạch dài hạn để bảo đảm phát triển bền vững.
Nước và cuộc sống

Bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng áp lực phát triển

Thiên Thanh {Ngày xuất bản}

Biến đổi khí hậu, suy giảm nước ngầm và nhu cầu sử dụng nước gia tăng đang đặt Tây Nguyên trước sức ép lớn về an ninh nguồn nước. Chuyên gia cho rằng cần đổi mới tư duy quản trị tài nguyên nước, tăng năng lực điều tiết nước mặt và quy hoạch dài hạn để bảo đảm phát triển bền vững.

chatgpt-image-17_09_07-22-thg-5-2026.png

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, hạn hán kéo dài, nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng, vấn đề an ninh nguồn nước đang trở thành thách thức lớn đối với Việt Nam, đặc biệt tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống, ông Phạm Khôi Nguyên - chuyên gia Tài nguyên và Môi trường, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận định, Việt Nam đang dần chuyển từ một quốc gia được cho là “thừa nước” sang nguy cơ thiếu nước trong tương lai nếu không sớm thay đổi tư duy quy hoạch, khai thác và sử dụng tài nguyên nước.

Theo ông, vấn đề an ninh nguồn nước hiện nay không còn là câu chuyện riêng của ngành tài nguyên môi trường mà đã trở thành bài toán chiến lược liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế, nông nghiệp, đô thị, dân sinh và an ninh phát triển quốc gia trong dài hạn.

Việt Nam đang dần đối mặt nguy cơ thiếu nước

Theo ông Phạm Khôi Nguyên, khi nói đến an ninh nguồn nước cần đánh giá đầy đủ bốn yếu tố gồm nguồn nước, chất lượng nước, khả năng cung ứng nước và nhu cầu sử dụng nước. Khoảng 30-40 năm trước, nhiều người từng cho rằng Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên nước bởi lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc và thường xuyên xảy ra lũ lụt. Tuy nhiên, trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, cùng với tốc độ phát triển kinh tế nhanh, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số, áp lực đối với tài nguyên nước ngày càng lớn.

“Trước đây chúng ta cứ nghĩ Việt Nam là nước thừa nước vì năm nào cũng mưa lũ. Nhưng hiện nay, các tính toán của giới khoa học trong nước và quốc tế đều cho thấy Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thiếu nước, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu”, ông nói.

Theo ông Nguyên, vấn đề đáng lo ngại hiện nay là công tác quy hoạch tài nguyên nước chưa được đặt đúng vai trò nền tảng trong quy hoạch phát triển quốc gia. Nhiều năm qua Việt Nam tập trung nhiều vào quy hoạch đất đai, quy hoạch công nghiệp, quy hoạch phát triển đô thị hay hạ tầng kinh tế - xã hội, trong khi quy hoạch nguồn nước chưa được quan tâm tương xứng.

“Chúng ta mới nói nhiều đến quy hoạch đất đai, quy hoạch kinh tế, quy hoạch phát triển, nhưng quy hoạch nguồn nước thì chưa được chú trọng đúng mức. Trong khi muốn phát triển bền vững thì phải tính đủ nguồn nước cho phát triển”, ông nhấn mạnh.

Theo ông Phạm Khôi Nguyên, trong thời gian tới, quy hoạch nước cần phải đi song song với quy hoạch dân số, quy hoạch đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.

chatgpt-image-17_15_12-22-thg-5-2026.png

“Nước phải đi trước một bước. Nếu không tính toán đầy đủ nguồn nước thì sẽ không thể bảo đảm phát triển lâu dài”, ông nói.

Ông cho rằng hiện nay Việt Nam đang phụ thuộc chủ yếu vào hai nguồn nước là nước ngầm và nước mặt. Tuy nhiên, cả hai nguồn này đều đang đối mặt nhiều vấn đề. Đối với nước ngầm, tình trạng khai thác đang ngày càng gia tăng và tiến gần tới giới hạn chịu tải của môi trường.

“Hiện nay nhiều nơi đang khai thác nước ngầm quá mức. Nếu mực nước ngầm tiếp tục hạ thấp thì nguy cơ sụt lún đất sẽ rất nghiêm trọng. Trong khi đó, nước mặt dù là nguồn tài nguyên rất quan trọng nhưng vẫn chưa được khai thác và điều tiết hiệu quả" ông Nguyên cảnh báo.

Theo chuyên gia, thực tế hiện nay cho thấy vào mùa mưa, lượng lớn nước chảy ra sông, ra biển nhưng đến mùa khô lại xảy ra thiếu nước nghiêm trọng do thiếu hệ thống tích trữ và điều tiết. Mùa mưa thì để nước chảy đi rất nhiều, nhưng đến mùa khô lại không có nguồn dự trữ. Đây là một bất cập rất lớn.

ban-tin-moi-truong-nuoc-1-.jpg

Ông cũng cho rằng ở nhiều quốc gia trên thế giới, các nguồn nước quan trọng đều được bảo vệ nghiêm ngặt như tài sản chiến lược quốc gia. Đặc biệt, hệ thống rừng đầu nguồn được xem là yếu tố sống còn trong việc điều tiết nước. “Rừng là nguồn sinh thủy tự nhiên. Khi có mưa, rừng giữ nước lại rồi điều tiết dần trong mùa khô để cung cấp cho sông suối và hồ chứa. Nếu mất rừng thì khả năng giữ nước cũng giảm mạnh”, ông phân tích thêm.

Thách thức lớn nhất hiện nay là nguy cơ thiếu nước ngày càng gia tăng tại khu vực Tây Nguyên

Theo ông Phạm Khôi Nguyên, nếu đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tây Nguyên cũng như khu vực Nam Trung Bộ thì vấn đề thiếu nước hiện nay không còn là nguy cơ trong tương lai mà đã bắt đầu hiện hữu rõ rệt. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, cùng với nhu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị ngày càng gia tăng, áp lực đối với tài nguyên nước tại khu vực này đang trở nên rất lớn.

Ông cho rằng Tây Nguyên hiện là vùng sản xuất cây công nghiệp trọng điểm của cả nước với nhiều loại cây có nhu cầu sử dụng nước cao như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều hay mắc ca. Nếu trong thời gian tới tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, gia tăng chế biến sâu và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản thì lượng nước phục vụ sản xuất sẽ không dừng ở mức hiện nay mà có thể tăng gấp hai đến ba lần.

Theo ông Phạm Khôi Nguyên, áp lực về nguồn nước không chỉ phục vụ cho nông nghiệp mà còn phải đáp ứng đồng thời nhiều nhu cầu khác như phát triển đô thị, công nghiệp, dân sinh, cải tạo đất, phục hồi rừng và bảo đảm môi trường sinh thái. Điều này đòi hỏi phải có chiến lược quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo hướng dài hạn và liên vùng thay vì chỉ giải quyết theo từng địa phương riêng lẻ.

nguyen-bt.png

Ông nhấn mạnh rằng thách thức lớn nhất hiện nay là Tây Nguyên vẫn đang phụ thuộc rất lớn vào khai thác nước ngầm. Trong nhiều năm qua, nước ngầm gần như trở thành nguồn cung chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong mùa khô. Tuy nhiên, việc khai thác kéo dài với cường độ lớn đang khiến mực nước ngầm suy giảm mạnh và tiềm ẩn nhiều hệ lụy môi trường nghiêm trọng.

“Nước ngầm hiện nay đã khai thác đến một mức độ nhất định. Nếu tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nước này thì nguy cơ suy giảm tài nguyên nước và tác động môi trường sẽ ngày càng lớn hơn”, ông cảnh báo.

Theo ông, nguy cơ không chỉ nằm ở việc cạn kiệt nguồn nước mà còn liên quan trực tiếp đến hiện tượng sụt lún đất, suy giảm hệ sinh thái và mất cân bằng môi trường trong tương lai. Vì vậy, việc chuyển đổi mô hình khai thác nước là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

271220_nuoc.jpeg

Hiện nay là Tây Nguyên vẫn đang phụ thuộc rất lớn vào khai thác nước ngầm. Trong nhiều năm qua, nước ngầm gần như trở thành nguồn cung chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong mùa khô.

Ông cho rằng giải pháp căn cơ và lâu dài là phải chuyển mạnh sang khai thác, tích trữ và điều tiết hiệu quả nguồn nước mặt thay vì phụ thuộc quá lớn vào nước ngầm như hiện nay. Tây Nguyên cần được đầu tư đồng bộ hệ thống hồ chứa, công trình điều tiết và các giải pháp tích nước mùa mưa để chủ động nguồn nước cho mùa khô.

Theo ông Nguyên, nguồn nước mặt trong tương lai không chỉ phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp mà còn phải được tính toán để đáp ứng nhu cầu dân sinh, công nghiệp và phát triển đô thị của cả vùng. Đặc biệt, an ninh nguồn nước của Tây Nguyên còn liên quan trực tiếp tới nhu cầu sử dụng nước của các vùng hạ lưu và các đô thị lớn.

“Không chỉ tính nước cho Tây Nguyên mà phải tính cho cả vùng hạ lưu, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận trong tương lai”, ông nhấn mạnh.

Ông cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc dự báo và quy hoạch tài nguyên nước cần được đặt trong tầm nhìn rất dài hạn. Quy hoạch nguồn nước phải đi song song với quy hoạch dân số, phát triển đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể của đất nước.

Theo ông, nếu trước đây quy hoạch nước chưa được coi trọng đúng mức thì trong giai đoạn tới cần xem đây là nền tảng của phát triển bền vững. Mọi chiến lược phát triển kinh tế đều phải dựa trên khả năng đáp ứng của tài nguyên nước để tránh nguy cơ mất cân bằng trong tương lai.

nuoc.png

Đổi mới tư duy quản trị tài nguyên nước và phát huy vai trò của giới khoa học

Đánh giá về vai trò của Hội Nước và Môi trường Việt Nam, ông Phạm Khôi Nguyên cho rằng đây là tổ chức có vai trò rất quan trọng trong công tác tư vấn, phản biện chính sách và kết nối đội ngũ chuyên gia với các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và địa phương trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Theo ông, nhiệm vụ quan trọng trước mắt là Hội cần tham gia tích cực vào quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nguy cơ thiếu nước ngày càng gia tăng.

Ông cho rằng một trong những bất cập hiện nay là công tác dự báo và quy hoạch tài nguyên nước vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội. Trong khi các quy hoạch về dân số, đô thị, công nghiệp và hạ tầng phát triển rất nhanh thì quy hoạch nguồn nước vẫn còn thiếu tính đồng bộ và dài hạn.

hoi.png

“Quy hoạch tài nguyên nước hiện nay chưa thực sự gắn chặt với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đây là vấn đề cần phải thay đổi trong thời gian tới”, ông nói.

Một nội dung được ông đặc biệt nhấn mạnh là cần thay đổi căn bản tư duy quản lý tài nguyên nước. Theo ông, trong suốt thời gian dài, nước vẫn được xem như nguồn tài nguyên thiên nhiên “trời cho”, dẫn tới tình trạng khai thác và sử dụng còn lãng phí, thiếu hiệu quả.

“Một mặt chúng ta đang thiếu nước nhưng mặt khác việc sử dụng nước vẫn còn rất lãng phí. Đây là nghịch lý cần phải thay đổi”, ông nhận định.

Theo vị chuyên gia, Việt Nam cần sớm đưa yếu tố kinh tế tài nguyên nước vào quản lý phát triển để nâng cao hiệu quả sử dụng nước và tạo nguồn lực tái đầu tư cho bảo vệ nguồn nước.

Ông cho biết ở nhiều quốc gia trên thế giới, tài nguyên nước đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế và GDP quốc gia thông qua cơ chế quản lý hiệu quả, sử dụng tiết kiệm và tái đầu tư cho hệ sinh thái nước. Trong khi đó tại Việt Nam, giá trị kinh tế của tài nguyên nước vẫn chưa được khai thác đúng mức.

Bên cạnh chính sách quản lý, ông cho rằng việc ứng dụng khoa học công nghệ trong sử dụng nước, đặc biệt trong nông nghiệp, cần được xem là giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

Theo ông, hiện nay ở nhiều nơi việc tưới tiêu vẫn còn mang tính thủ công, chưa dựa trên nhu cầu thực tế của từng loại cây trồng và từng giai đoạn sinh trưởng. Điều này dẫn tới tình trạng lãng phí nước rất lớn.

“Không phải lúc nào cây cũng cần lượng nước như nhau. Phải có quy trình tưới phù hợp theo từng loại cây, từng thời điểm và từng điều kiện thời tiết cụ thể”, ông phân tích.

Ông dẫn kinh nghiệm từ Israel – quốc gia có điều kiện tự nhiên rất khô hạn nhưng vẫn phát triển nền nông nghiệp hiện đại nhờ ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và quản lý nước hiệu quả.

“Theo tính toán, lượng nước tưới của họ chỉ bằng khoảng một phần ba hoặc một phần tư so với nhiều nước khác nhưng năng suất và hiệu quả sản xuất vẫn rất cao”, ông cho biết.

nhan-thuc.png

Theo ông Phạm Khôi Nguyên, ngoài giải pháp công nghệ thì nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng nước tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên nước cũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Ông cho rằng người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội cần thay đổi nhận thức về tài nguyên nước, coi đây là nguồn lực chiến lược, hữu hạn và có vai trò quyết định đối với phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, ông đánh giá Hội Nước và Môi trường Việt Nam hiện đang quy tụ nhiều chuyên gia đầu ngành về tài nguyên nước và môi trường. Đây là lực lượng khoa học có kinh nghiệm thực tiễn sâu rộng cần được phát huy mạnh hơn trong công tác dự báo, quy hoạch và xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước quốc gia.

“Đây là một lực lượng trí tuệ rất quan trọng để tham gia hoạch định chính sách, dự báo và xây dựng chiến lược phát triển tài nguyên nước bền vững trong dài hạn”, ông nhấn mạnh.

Thiên Thanh