Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 – Bài 5: Thị trường carbon và dữ liệu môi trường - Nền tảng mới cho quản trị môi trường hiện đại

Emagazines - Ngày đăng : 07:31, 26/05/2026

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 đã mở rộng hành lang pháp lý cho kiểm kê khí nhà kính, giao dịch tín chỉ carbon và vận hành sàn giao dịch carbon trong nước.
Emagazines

Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 – Bài 5: Thị trường carbon và dữ liệu môi trường - Nền tảng mới cho quản trị môi trường hiện đại

Thu Thủy {Ngày xuất bản}

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 đã mở rộng hành lang pháp lý cho kiểm kê khí nhà kính, giao dịch tín chỉ carbon và vận hành sàn giao dịch carbon trong nước.

frrr.png

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 không chỉ mở rộng hành lang pháp lý cho kiểm kê khí nhà kính, giao dịch tín chỉ carbon và vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, mà còn đặt nền móng cho mô hình quản trị môi trường hiện đại dựa trên dữ liệu số, minh bạch phát thải và cơ chế thị trường. Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi xanh, hội nhập sâu với các cam kết khí hậu toàn cầu và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường carbon đang được xem là công cụ kinh tế chiến lược để tái cấu trúc tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững.

Sau hơn 4 năm triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội cùng yêu cầu chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và hội nhập quốc tế đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống pháp luật môi trường của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 được xem là bước điều chỉnh cần thiết nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình thực thi, đồng thời tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp với xu thế quản trị môi trường hiện đại trên thế giới.

Khác với tư duy quản lý môi trường truyền thống chủ yếu dựa trên mệnh lệnh hành chính và kiểm soát ô nhiễm cuối đường ống, Dự thảo lần này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt sang mô hình quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, trách nhiệm phát thải và cơ chế thị trường. Một trong những điểm nổi bật nhất chính là việc hoàn thiện khung pháp lý cho kiểm kê khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch phát thải, giao dịch tín chỉ carbon, vận hành thị trường carbon và xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường quốc gia.

iiiiii.png

Đây không chỉ là sự sửa đổi kỹ thuật của luật, mà còn phản ánh bước chuyển lớn về tư duy quản trị phát triển. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh toàn cầu ngày càng khắt khe, các cơ chế như CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) của Liên minh châu Âu bắt đầu tác động trực tiếp đến hàng hóa xuất khẩu, việc xây dựng thị trường carbon và hệ thống dữ liệu môi trường đồng bộ trở thành yêu cầu sống còn đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.

ooo.png

Trong Dự thảo Luật sửa đổi, các quy định tại Điều 91, Điều 139 và Điều 139a được sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo lập khung pháp lý tương đối toàn diện cho quản lý phát thải khí nhà kính và vận hành thị trường carbon. Nếu Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 mới chỉ đặt nền móng ban đầu cho khái niệm thị trường carbon thì Dự thảo lần này đã tiến thêm một bước rất lớn khi luật hóa hàng loạt nội dung quan trọng như hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon, hệ thống đăng ký quốc gia, sàn giao dịch carbon, cơ chế đấu giá, giao dịch, vay mượn, nộp trả hạn ngạch, cũng như cơ chế trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính.

Đặc biệt, lần đầu tiên Dự thảo đưa ra những khái niệm đầy đủ và rõ ràng hơn về “hạn ngạch phát thải khí nhà kính”, “tín chỉ carbon”, “trung hòa carbon”, “thị trường carbon”, “sàn giao dịch carbon trong nước” hay “định mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm”. Đây được xem là nền tảng pháp lý quan trọng để xây dựng một hệ sinh thái kinh tế các-bon có tổ chức, minh bạch và có khả năng liên kết quốc tế.

Vì sao Việt Nam cần thị trường carbon?

Thị trường carbon không còn là khái niệm xa lạ trên thế giới. Từ Nghị định thư Kyoto năm 1997 đến Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, cơ chế giao dịch phát thải đã trở thành công cụ kinh tế quan trọng để các quốc gia thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính với chi phí tối ưu hơn.

Hiện nay, theo thống kê, đã có hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ triển khai thị trường carbon với quy mô giao dịch toàn cầu vượt 100 tỷ USD. Xu hướng “xanh hóa” thương mại và phát triển kinh tế các-bon thấp đang diễn ra mạnh mẽ, buộc các quốc gia xuất khẩu như Việt Nam phải thay đổi.

Ông Nguyễn Thành Công, Phó Trưởng phòng Thị trường carbon, Cục Biến đổi khí hậu nhấn mạnh rằng, phát triển thị trường các-bon đã trở thành xu thế tất yếu trên thế giới.

tttt.png

Thực tế, áp lực giảm phát thải đối với Việt Nam đang ngày càng lớn. Dữ liệu của World Bank cho thấy lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam đã tăng gấp bốn lần từ năm 2000 đến năm 2018. Nếu không nhanh chóng chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nguy cơ bị áp thuế carbon, mất lợi thế xuất khẩu và tụt lại trong chuỗi cung ứng toàn cầu là hoàn toàn hiện hữu.

Trong bối cảnh đó, thị trường carbon được xem là công cụ giúp lượng hóa phát thải thành “chi phí kinh tế”. Khi doanh nghiệp phát thải vượt hạn ngạch sẽ phải mua thêm hạn ngạch hoặc tín chỉ các-bon; ngược lại, doanh nghiệp giảm phát thải tốt có thể bán phần dư để tạo doanh thu. Cơ chế này tạo ra động lực kinh tế trực tiếp cho đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng và phát triển sản xuất xanh.

GS.TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nhận định, việc hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu giảm phát thải của Việt Nam.

ggggg.png

Theo GS.TS. Phạm Văn Điển, Việt Nam hiện đã chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang giai đoạn vận hành có kiểm soát với hàng loạt văn bản pháp lý quan trọng được ban hành như Quyết định 232/QĐ-TTg năm 2025 về Đề án thành lập và phát triển thị trường các-bon; Nghị định 119/2025/NĐ-CP; Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước; Thông tư 11/2026/TT-BNNMT về Hệ thống đăng ký quốc gia...

Đặc biệt, ngày 19/5/2026, Nghị định 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước tiến rất quan trọng trong quá trình kết nối thị trường carbon Việt Nam với thị trường quốc tế. Đây được xem là “mảnh ghép” còn thiếu trong quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý cho kinh tế các-bon tại Việt Nam.

k.png

Những quy định mới trong Dự thảo Luật

Điểm đáng chú ý nhất trong Dự thảo Luật sửa đổi lần này là việc hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý cho quản lý phát thải khí nhà kính và thị trường các-bon.

Điều 91 được sửa đổi theo hướng quy định rõ trách nhiệm kiểm kê khí nhà kính ở cấp quốc gia, ngành, địa phương và cơ sở; xây dựng hệ thống báo cáo phát thải khí nhà kính quốc gia trực tuyến; phân bổ hạn ngạch phát thải; tổ chức vận hành thị trường các-bon; cũng như trách nhiệm của các bộ, ngành và doanh nghiệp trong quản lý dữ liệu phát thải.

ppp.png

Đặc biệt, Dự thảo quy định các cơ sở được phân bổ hạn ngạch chỉ được phát thải trong hạn ngạch đã được phân bổ; được vay mượn, nộp trả, chuyển giao hạn ngạch và sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ khi có nhu cầu. Đây chính là nền tảng cốt lõi cho hệ thống mua bán phát thải.

Điều 139 được sửa đổi toàn diện theo hướng thiết lập rõ cấu trúc thị trường các-bon trong nước. Theo đó, giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon sẽ được thực hiện trên sàn giao dịch các-bon trong nước; toàn bộ giao dịch phải được ghi nhận trên Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon.

Một điểm mới rất đáng chú ý là Dự thảo quy định cụ thể nguyên tắc hoạt động của thị trường các-bon phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng và hiệu quả; đồng thời bổ sung quy định về các tổ chức hỗ trợ giao dịch như tổ chức tài chính, trung gian giao dịch.

Đặc biệt, Điều 139a lần đầu tiên quy định riêng về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Đây được xem là bước tiến rất quan trọng để Việt Nam thực hiện Điều 6 của Thỏa thuận Paris và tham gia sâu hơn vào thị trường các-bon toàn cầu.

Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến lớn, nhiều chuyên gia cho rằng, Dự thảo vẫn còn những khoảng trống pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện.

TS. Trịnh Xuân Đức, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường (SIIEE) kiến nghị cần bổ sung nguyên tắc xác định tín chỉ các-bon là quyền tài sản đặc thù nhưng không đồng nhất với chứng khoán hay hàng hóa thông thường nhằm tránh xung đột với pháp luật dân sự, chứng khoán, thuế và kế toán.

fff.png

Đáng chú ý, TS. Trịnh Xuân Đức nhấn mạnh, cần quy định tỷ lệ tín chỉ phải giữ lại trong nước đối với các dự án sử dụng tài nguyên quốc gia, rừng, đất công, vốn ngân sách hoặc ODA; đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý giữa người dân, cộng đồng địa phương và chủ dự án trong các dự án các-bon rừng, nông nghiệp hay năng lượng tái tạo.

Thực tế, một trong những lo ngại lớn hiện nay là nguy cơ “chảy máu tín chỉ carbon” nếu Việt Nam chuyển giao quá nhiều tín chỉ chất lượng cao ra nước ngoài. Khi đó, quốc gia có thể gặp khó khăn trong thực hiện mục tiêu giảm phát thải không điều kiện.

Dự thảo hiện đã đề cập nguyên tắc “bảo đảm lợi ích quốc gia” trong trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, nhưng nhiều ý kiến cho rằng cần cụ thể hóa hơn nữa bằng các quy định về tỷ lệ giữ lại trong nước, danh mục dự án được phép chuyển giao quốc tế và quyền ưu tiên của Nhà nước đối với tín chỉ hình thành từ tài nguyên công.

Cơ hội mới cho doanh nghiệp và nền kinh tế xanh

Nếu trước đây, bảo vệ môi trường thường được nhìn nhận như một “chi phí tuân thủ”, thì thị trường carbon đang biến phát thải thành một loại tài sản có giá trị kinh tế.

Theo các chuyên gia, doanh nghiệp giảm phát thải tốt không chỉ giảm rủi ro pháp lý mà còn có thể tạo ra nguồn doanh thu mới thông qua giao dịch tín chỉ carbon.

Hiện nay, thị trường carbon của Việt Nam sẽ gồm hai hợp phần chính là trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và thị trường tín chỉ các-bon.

Đối với các doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch, nếu phát thải vượt mức cho phép, họ phải mua thêm hạn ngạch hoặc tín chỉ để bù trừ. Ngược lại, doanh nghiệp giảm phát thải hiệu quả có thể bán phần hạn ngạch dư thừa hoặc phát triển các dự án tạo tín chỉ các-bon để giao dịch.

Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp có thể sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ tối đa 30% lượng phát thải vượt hạn ngạch và được vay mượn tối đa 15% hạn ngạch của giai đoạn sau để thực hiện nghĩa vụ tuân thủ. Điều này giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong quản trị phát thải.

GS.TS. Phạm Văn Điển cho rằng khi tham gia thị trường carbon, doanh nghiệp sẽ phải chuyển từ “tuân thủ môi trường theo hồ sơ” sang “quản trị phát thải theo dữ liệu”.

ffff.png

Cũng theo GS.TS. Phạm Văn Điển, ban đầu doanh nghiệp có thể chịu áp lực thích ứng, nhưng về dài hạn, doanh nghiệp quản trị tốt carbon sẽ có lợi thế lớn hơn trong tiếp cận thị trường xanh, tài chính xanh và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Không chỉ doanh nghiệp công nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp của Việt Nam cũng đang đứng trước cơ hội rất lớn từ thị trường tín chỉ carbon.

Với hơn 14,8 triệu ha rừng và tỷ lệ che phủ trên 42%, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng rất lớn trong phát triển tín chỉ carbon rừng. Ước tính mỗi năm rừng Việt Nam hấp thụ gần 70 triệu tấn CO2. Cục Lâm nghiệp tính toán Việt Nam có thể bán khoảng 40 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, tương đương doanh thu khoảng 200 triệu USD nếu giá tín chỉ ở mức 5 USD/tín chỉ.

Ngoài ra, các lĩnh vực như lúa gạo phát thải thấp, năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng hay kinh tế tuần hoàn đều có thể trở thành nguồn tạo tín chỉ carbon trong tương lai.

GS.TS. Phạm Văn Điển nhấn mạnh: “Thị trường carbon không chỉ giúp Việt Nam giảm phát thải, mà còn mở ra một không gian và một cách phát triển mới. Thị trường này tạo cơ hội thu hút tài chính xanh cho các dự án giảm phát thải, năng lượng tái tạo, phục hồi hệ sinh thái, phát triển rừng bền vững, nông nghiệp phát thải thấp và kinh tế tuần hoàn”.

Ông cho rằng cùng với đó sẽ xuất hiện nhiều ngành dịch vụ mới như kiểm kê khí nhà kính, tư vấn chiến lược carbon, kiểm toán carbon, xác minh tín chỉ, quản trị dữ liệu môi trường và tài chính carbon.

Điều kiện để thị trường vận hành minh bạch và hiệu quả

Dù triển vọng lớn, nhưng thị trường carbon cũng là lĩnh vực có mức độ phức tạp rất cao, liên quan trực tiếp đến dữ liệu phát thải, tài chính và thương mại quốc tế.

Một trong những vấn đề được nhiều chuyên gia nhấn mạnh là tính minh bạch của dữ liệu phát thải và hệ thống MRV (đo đạc, báo cáo, thẩm định).

Với thị trường carbon, niềm tin là yếu tố sống còn. Nếu dữ liệu phát thải không đáng tin, tín chỉ carbon sẽ không đáng tin; nếu tín chỉ không đáng tin, thị trường sẽ khó vận hành lành mạnh.

GS.TS. Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

GS.TS. Phạm Văn Điển nhận định, thị trường carbon minh bạch cần dựa trên bốn trụ cột chính gồm dữ liệu chuẩn; hệ thống MRV đáng tin cậy; hệ thống đăng ký tập trung; và cơ chế giám sát giao dịch độc lập.

Ông nhấn mạnh dữ liệu phải đúng, đủ, cập nhật và có khả năng truy xuất; còn hệ thống đăng ký quốc gia phải đóng vai trò như “sổ cái” của thị trường, ghi nhận đầy đủ các giao dịch hạn ngạch và tín chỉ carbon.

hhhh.png

Liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật, GS.TS. Phạm Văn Điển cho rằng, hệ thống kiểm kê khí nhà kính của Việt Nam cần tương thích với chuẩn mực quốc tế như Hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính quốc gia năm 2006 của IPCC và Bản tinh chỉnh năm 2019; đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn ISO 14064 và GHG Protocol trong kiểm kê và báo cáo phát thải cấp doanh nghiệp.

Theo GS.TS. Phạm Văn Điển, dữ liệu môi trường trong tương lai không nên chỉ là hồ sơ báo cáo, mà phải trở thành “hạ tầng số của quản trị môi trường hiện đại”, có khả năng liên thông với dữ liệu năng lượng, đất đai, lâm nghiệp, công nghiệp và thương mại.

Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khoảng trống pháp lý và kỹ thuật.

Một trong những vấn đề lớn là chưa định danh rõ tín chỉ carbon dưới góc độ pháp luật dân sự và tài chính. Điều này gây khó khăn cho việc tài sản hóa tín chỉ carbon, sử dụng làm tài sản bảo đảm trong giao dịch tín dụng hay xử lý trong trường hợp doanh nghiệp phá sản.

Ngoài ra, cơ chế bình ổn thị trường hiện vẫn chưa đầy đủ. Các chuyên gia cảnh báo nếu thiếu cơ chế giá trần - sàn, quỹ dự trữ hoặc cơ chế kiểm soát đầu cơ, thị trường có thể đối mặt với biến động giá lớn và rủi ro thao túng.

fffffff.png

Một vấn đề khác là khả năng liên kết quốc tế của thị trường các-bon Việt Nam vẫn còn hạn chế do quy trình phê duyệt chuyển giao tín chỉ còn nặng tính hành chính, thiếu cơ chế kết nối trực tiếp với các định chế tài chính quốc tế.

Cùng với đó, hệ thống quản trị hiện nay vẫn bị phân tán giữa nhiều bộ, ngành; cơ chế chia sẻ dữ liệu và xử lý tranh chấp chưa thực sự đồng bộ.

Các chuyên gia cũng cảnh báo nguy cơ gian lận tín chỉ, thao túng thị trường và báo cáo sai dữ liệu nếu thiếu cơ chế giám sát độc lập và chế tài đủ mạnh.

Trong bối cảnh đó, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2026 được kỳ vọng sẽ tạo nền móng pháp lý quan trọng cho quá trình xây dựng thị trường carbon minh bạch, hiện đại và có khả năng hội nhập quốc tế.

Quan trọng hơn, đây không chỉ là câu chuyện của giảm phát thải hay bảo vệ môi trường, mà còn là bước chuyển lớn trong mô hình phát triển của Việt Nam. Khi dữ liệu môi trường trở thành nền tảng quản trị; khi phát thải được lượng hóa thành chi phí kinh tế; khi doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng năng lực giảm phát thải và hiệu quả sử dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ buộc phải chuyển đổi theo hướng xanh hơn, minh bạch hơn và bền vững hơn.

Thị trường carbon vì thế không chỉ là một công cụ môi trường, mà đang trở thành nền tảng mới cho quản trị phát triển hiện đại trong kỷ nguyên tăng trưởng xanh và kinh tế carbon thấp.

Thu Thủy