Khuyến nông Việt Nam được châu Phi đánh giá cao trong hợp tác Nam - Nam
Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 10:08, 30/05/2026
Khuyến nông Việt Nam được châu Phi đánh giá cao trong hợp tác Nam - Nam
Việt Nam và các quốc gia châu Phi đang thúc đẩy hợp tác nông nghiệp theo hướng thực chất, dài hạn thông qua chia sẻ kinh nghiệm phát triển sản xuất, xây dựng hệ thống khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật phù hợp với điều kiện canh tác của nông hộ nhỏ, hướng tới bảo đảm an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững.
Chiều 29/05, sau Lễ ra mắt Nhóm công tác Hợp tác Nam - Nam trong nông nghiệp, đại diện Chính phủ Việt Nam cùng các quốc gia châu Phi đã tham gia phiên thảo luận về tầm nhìn chính sách bao trùm nhằm thúc đẩy hợp tác hiệu quả, bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.
Tại phiên thảo luận, bà Nguyễn Phương Trà, Vụ trưởng Vụ Trung Đông - Châu Phi (Bộ Ngoại giao) cho rằng, trong bối cảnh thương mại toàn cầu có nhiều biến động, Việt Nam và các quốc gia châu Phi đang có nhu cầu bổ trợ lẫn nhau để đa dạng hóa thị trường và tăng cường hợp tác phát triển.
Theo bà Nguyễn Phương Trà, việc ra mắt Nhóm công tác Hợp tác Nam - Nam diễn ra trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - châu Phi có nhiều chuyển biến tích cực. Chỉ trong vòng 3 năm trở lại đây, số lượng các đoàn cấp cao hai bên thăm lẫn nhau đã chiếm hơn một nửa tổng lượng trao đổi đoàn của cả 10 năm trước đó. Điều này cho thấy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và châu Phi đang chuyển dịch từ các hoạt động ngắn hạn sang chiến lược hợp tác lâu dài.
Để thúc đẩy hợp tác hiệu quả hơn trong thời gian tới, đại diện Bộ Ngoại giao đề xuất cần tiếp tục củng cố sự tin cậy chính trị thông qua việc xây dựng chiến lược hợp tác dài hạn với các quốc gia châu Phi; duy trì sự quan tâm của lãnh đạo cấp cao nhằm tạo nền tảng chính trị - ngoại giao thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng đầu tư, kinh doanh.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung chính sách, pháp lý liên quan đến các hiệp định khuyến khích, bảo hộ đầu tư; nghiên cứu các chính sách ưu đãi theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Đây được xem là cơ sở quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng không gian phát triển, tiếp cận nguồn vốn, bảo lãnh rủi ro và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam tại châu Phi.

Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, bà Nguyễn Phương Trà kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, tham mưu thúc đẩy các khuôn khổ đối tác chiến lược với những quốc gia châu Phi tiềm năng; đồng thời tạo thuận lợi cho mở cửa thị trường, kiểm dịch hàng hóa song phương và vận động các đối tác phát triển tham gia các mô hình hợp tác ba bên, bốn bên.
Từ phía các quốc gia châu Phi, nhiều ý kiến cho rằng điều họ cần không phải là những công nghệ quá hiện đại hay các mô hình đầu tư quy mô lớn, mà là những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
Đại sứ Angola tại Việt Nam Fernando Miguel cho biết, sau 27 năm nội chiến, Angola đang bước vào giai đoạn tái thiết nông nghiệp với ưu tiên hàng đầu là đảm bảo an ninh lương thực. Dù có nhiều lợi thế về đất đai và khí hậu, Angola vẫn đối mặt với tình trạng năng suất thấp, thiếu hệ thống thủy lợi, thiếu cơ giới hóa phù hợp và phụ thuộc lớn vào phương thức canh tác truyền thống.
Theo ông Fernando Miguel, điều Angola mong muốn học hỏi từ Việt Nam không chỉ là giống cây trồng, mà còn là kinh nghiệm canh tác nhiệt đới, kỹ thuật chế biến, giải pháp tưới tiêu chi phí thấp và các mô hình phù hợp với nông hộ nhỏ. Thế mạnh của Việt Nam nằm ở cách tiếp cận “vừa học vừa làm”, chuyển giao kỹ thuật trực tiếp để nông dân có thể tự làm chủ công nghệ.
Trong khi đó, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Zambia tại Việt Nam Morecome Mumba đánh giá Việt Nam là hình mẫu đáng tham khảo trong cải cách nông nghiệp. Zambia hiện có khoảng 42 triệu ha đất nông nghiệp nhưng mới khai thác khoảng 6 triệu ha; hơn 60% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp nhưng lĩnh vực này chỉ đóng góp khoảng 5% GDP.
“Zambia không chỉ muốn học kinh nghiệm nâng cao năng suất lúa gạo, cà phê hay thủy sản, mà còn muốn phát triển nông nghiệp theo chuỗi và kết nối thị trường như cách Việt Nam đã làm”, ông Morecome Mumba chia sẻ.
Những ý kiến từ phía các quốc gia châu Phi cho thấy “giải pháp Việt Nam” được đánh giá cao không nằm ở các công nghệ đắt tiền, mà ở khả năng thích ứng thực tiễn, phát triển từ điều kiện hạn chế, tối ưu hóa nguồn lực nhỏ lẻ và xây dựng hệ sinh thái sản xuất gắn bó với nông dân.
Nhấn mạnh vai trò của thể chế và hệ thống hỗ trợ sản xuất trong thành công của nông nghiệp Việt Nam, PGS.TS Bùi Bá Bổng, nguyên Thứ trưởng Bộ NNPTNT cho rằng, Hợp tác Nam - Nam cần vượt khỏi tư duy viện trợ kỹ thuật ngắn hạn để hướng tới xây dựng thể chế, đào tạo nhân lực, phát triển hệ thống khuyến nông và quản lý thủy lợi. Chính những yếu tố này đã góp phần giúp Việt Nam duy trì “sợi chỉ đỏ” về an ninh lương thực suốt gần 40 năm Đổi mới.
Cùng quan điểm đó, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh cho biết, sau 40 năm Đổi mới, từ một quốc gia thiếu lương thực phải nhập khẩu, Việt Nam đã trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Trong thành công đó, lực lượng khuyến nông giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.
Theo ông Lê Quốc Thanh, bài học lớn nhất của hợp tác Nam - Nam không chỉ là chuyển giao giống mới hay thiết bị mới sang châu Phi, mà quan trọng hơn là phải có lực lượng đồng hành với người sản xuất để đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế.
“Không phải cứ có giống mới, kỹ thuật mới đưa vào sản xuất là sẽ tạo ra phát triển. Điều quan trọng là ai sẽ đồng hành với người nông dân trong quá trình áp dụng các giải pháp công nghệ”, ông Thanh nhấn mạnh.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Sau 40 năm Đổi mới, bên cạnh thể chế, khoa học công nghệ và hệ thống thủy lợi, đội ngũ khuyến nông được đánh giá là một trong những lực lượng góp phần quan trọng tạo nên bước đột phá của ngành nông nghiệp.
Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, công tác khuyến nông tiếp tục được xác định phải đến gần hơn với người sản xuất ở cấp xã theo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cũng chia sẻ, trong quá trình triển khai các dự án tại Mozambique, Angola, Senegal, Sudan, Cuba hay Venezuela, các chuyên gia Việt Nam từng chứng kiến nhiều mô hình trồng lúa đạt năng suất 7 - 8 tấn/ha. Tuy nhiên, khi chuyên gia rời đi, nhiều nơi lại quay về phương thức sản xuất cũ do thiếu lực lượng duy trì và đồng hành lâu dài.
“Câu hỏi quan trọng nhất là ai sẽ ở lại sau dự án”, ông Lê Quốc Thanh nói và cho biết, trong thời gian tới, ngoài chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương thức sản xuất, Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng, tổ chức hệ thống khuyến nông với các quốc gia châu Phi nhằm hướng tới hợp tác bền vững và lâu dài.
