Sửa Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo: Ba điểm nghẽn cần tháo gỡ
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 14:00, 02/06/2026
Sửa Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo: Ba điểm nghẽn cần tháo gỡ
Quản lý còn phân tán do nhiều luật cùng điều chỉnh, thiếu công cụ quản trị hiện đại đối với không gian biển và cơ chế kiểm soát ô nhiễm chưa đủ mạnh là ba điểm nghẽn lớn được cơ quan quản lý chỉ ra. Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy kinh tế biển phát triển theo hướng xanh và bền vững.
Tại buổi họp báo mới đây, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đồng thời, Bộ cũng đang xây dựng Đề án Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo (sửa đổi).

Qua quá trình triển khai thực tiễn, cơ quan quản lý nhận định còn tồn tại 3 điểm nghẽn lớn về thể chế, chính sách phát triển kinh tế biển, cần được tháo gỡ thông qua 4 nhóm giải pháp trọng tâm trong lần sửa đổi luật này.
Nhiều luật cùng điều chỉnh hoạt động trên biển
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý biển còn chồng chéo. Hiện nay, bên cạnh Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo còn có nhiều luật khác cùng điều chỉnh các hoạt động trên không gian biển như Luật Dầu khí, Luật Địa chất và Khoáng sản, Luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Luật Biển Việt Nam...
Sự tham gia của nhiều đạo luật khiến công tác quản lý bị phân tán, thiếu tính đồng bộ. Vì vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt là sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo, được xem là giải pháp quan trọng nhằm thiết lập cơ chế quản lý tổng hợp, thống nhất và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.
Điểm nghẽn thứ hai là thiếu các công cụ quản trị hiện đại phục vụ việc giao, cho thuê, phân bổ và khai thác không gian biển. Sau gần 10 năm thực hiện, nhiều quy định hiện hành đã bộc lộ hạn chế, chưa tạo động lực đủ mạnh để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế biển.
Bên cạnh đó, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo vẫn chưa có những thiết chế đủ mạnh. Trong bối cảnh áp lực phát triển ngày càng gia tăng, yêu cầu đặt ra là phải hoàn thiện các công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ hơn, bảo đảm nguyên tắc không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Bốn nhóm chính sách trọng tâm
Từ thực tiễn trên, ông Nguyễn Quốc Toản cho biết dự thảo luật sửa đổi sẽ tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên cơ sở Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được Quốc hội thông qua năm 2024.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng không gian biển theo hướng công khai, minh bạch, tạo niềm tin cho nhà đầu tư.
Thứ ba, xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá nhằm thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển mới, nhất là những lĩnh vực giàu tiềm năng như năng lượng tái tạo ngoài khơi, qua đó nâng cao tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển trong nền kinh tế.
Thứ tư, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là rác thải nhựa đại dương và các nguồn gây suy thoái hệ sinh thái biển.
Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng
Trả lời câu hỏi về việc cân bằng giữa phát triển kinh tế biển và bảo tồn tài nguyên, ông Nguyễn Quốc Toản nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt là "không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển để lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần".
Theo đó, phát triển kinh tế biển phải được xây dựng trên nền tảng bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên biển. Để thực hiện mục tiêu này, ngoài việc hoàn thiện thể chế, cần huy động sự tham gia của toàn xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và cư dân ven biển trong công tác bảo vệ môi trường, gìn giữ tài nguyên biển.
Cùng với đó, truyền thông được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về vai trò, giá trị của biển đối với phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Các chuyên gia đánh giá, với diện tích vùng biển khoảng 1 triệu km², Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển và kinh tế biển sâu. Việc sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng biển theo hướng xanh và bền vững.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, Việt Nam hiện có 21 trong tổng số 34 địa phương giáp biển, cho thấy dư địa phát triển kinh tế biển còn rất lớn. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xây dựng cơ chế quản lý hiệu quả, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, tránh tình trạng phải thực hiện thủ tục qua nhiều đầu mối khác nhau.
Lãnh đạo Bộ cũng cho biết định hướng xây dựng luật là quy định những nguyên tắc, khung pháp lý cơ bản, trong khi các vấn đề phát sinh từ thực tiễn sẽ được cụ thể hóa thông qua hệ thống nghị định hướng dẫn.
