Từ "kinh tế biển" đến "không gian biển": Bước chuyển chiến lược cho tương lai Việt Nam
Kinh tế xanh - Ngày đăng : 14:00, 24/06/2026
Từ "kinh tế biển" đến "không gian biển": Bước chuyển chiến lược cho tương lai Việt Nam
Sau gần 8 năm triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, nhiều chuyên gia cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần một cách tiếp cận mới trong quản trị và khai thác biển. Việc chuyển sang tư duy không gian phát triển biển được xem là chìa khóa để tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, mở đường cho những ngành kinh tế biển hiện đại và nâng cao vị thế quốc gia.
Việc đổi mới nhận thức, chuyển từ cách tiếp cận "kinh tế biển" truyền thống sang "tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh" đang được xem là yêu cầu cấp bách nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển phát triển, bền vững và có năng lực cạnh tranh cao trong thế kỷ XXI.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một quyết sách mang tính chiến lược, kế thừa và phát triển các định hướng lớn về biển của đất nước trong nhiều giai đoạn.
Sau gần 8 năm triển khai, chiến lược đã tạo ra nhiều chuyển biến quan trọng. Nhận thức về vai trò của biển trong phát triển đất nước ngày càng được nâng cao; hạ tầng ven biển được đầu tư đồng bộ hơn; đời sống người dân khu vực ven biển từng bước cải thiện; đồng thời thế trận quốc phòng, an ninh trên biển tiếp tục được củng cố, góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến động.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, kinh tế biển Việt Nam vẫn chưa phát huy hết tiềm năng vốn có. Dù quy mô phát triển ngày càng mở rộng nhưng chất lượng và hiệu quả chưa tương xứng với lợi thế tự nhiên. Ông nhận định kinh tế biển hiện vẫn trong tình trạng "rộng nhưng chưa sâu, nhiều nhưng chưa mạnh".
Một trong những nguyên nhân chính là mô hình quản lý biển còn phân tán theo ngành và địa phương. Sự phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả khiến nguồn lực bị chia nhỏ, nhiều hoạt động phát triển còn chồng chéo hoặc thiếu liên kết. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế biển hiện đại còn hạn chế, trong khi khoa học công nghệ chưa đóng vai trò động lực dẫn dắt tăng trưởng.
Theo chuyên gia này, những tồn tại trên đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển. Nếu tư duy kinh tế biển truyền thống chủ yếu tập trung vào việc khai thác tài nguyên và tối đa hóa lợi nhuận từ từng ngành riêng lẻ như thủy sản, dầu khí hay du lịch biển, thì tư duy không gian biển đặt biển trong một chỉnh thể thống nhất, nơi các hoạt động phát triển cần được quy hoạch và quản trị hài hòa.
Biển không chỉ là mặt nước mà còn bao gồm toàn bộ hệ sinh thái từ tầng nước, đáy biển đến lòng đất dưới đáy biển. Các dòng hải lưu, hệ sinh thái và nguồn lợi sinh vật biển đều vận động vượt qua ranh giới hành chính. Vì vậy, việc quản trị biển cần dựa trên cách tiếp cận liên ngành, liên vùng và dựa trên hệ sinh thái.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng "tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh" chính là cách tiếp cận quản trị biển hiện đại, trong đó quy hoạch không gian biển đóng vai trò trung tâm để phân bổ hợp lý các hoạt động kinh tế, xã hội, bảo tồn thiên nhiên và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mục tiêu không chỉ là khai thác nguồn lợi mà còn duy trì và gia tăng giá trị của vốn tự nhiên biển cho các thế hệ tương lai.
Để hiện thực hóa cách tiếp cận mới, vấn đề then chốt nằm ở cải cách thể chế. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam cần xây dựng mô hình quản trị biển thống nhất, liên thông và tích hợp.
Hiện nay, các quy định liên quan đến biển và hải đảo đang được điều chỉnh bởi nhiều luật chuyên ngành khác nhau như Luật Thủy sản, Luật Dầu khí hay Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống pháp lý trong quá trình quản lý và khai thác.
Ông đề xuất nghiên cứu xây dựng một bộ luật cơ bản về biển của Việt Nam đóng vai trò là luật khung, tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho công tác quản trị không gian biển quốc gia.
Song song với đó, cần kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo theo hướng đủ thẩm quyền điều phối liên ngành, liên vùng, xử lý hiệu quả các xung đột lợi ích trong khai thác và sử dụng không gian biển.
Chuyển đổi số cũng được xem là yếu tố không thể thiếu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia tập trung, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát, dự báo và quản lý tài nguyên sẽ giúp nâng cao chất lượng điều hành, giảm phụ thuộc vào các phương thức quản lý truyền thống.
Trong tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam được cho là không thể chỉ dựa vào các ngành kinh tế biển truyền thống. Thay vào đó, cần ưu tiên phát triển các lĩnh vực mới có giá trị gia tăng cao và phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh toàn cầu.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, năng lượng tái tạo ngoài khơi là một trong những ngành có tiềm năng đột phá. Với lợi thế về gió biển, Việt Nam có cơ hội trở thành trung tâm năng lượng sạch của khu vực, vừa bảo đảm an ninh năng lượng vừa thực hiện các cam kết giảm phát thải.
Bên cạnh đó, kinh tế bảo tồn, dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, du lịch biển cao cấp hay nghề cá giải trí cũng được đánh giá là những lĩnh vực giàu tiềm năng trong tương lai.
Để khai thác hiệu quả các cơ hội này, yếu tố quyết định vẫn là khoa học công nghệ. Việt Nam cần có cơ chế khuyến khích đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ biển sâu, tự động hóa, công nghệ nổi và các giải pháp nghiên cứu biển hiện đại nhằm nâng cao năng lực làm chủ không gian biển.
Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, trong "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là không gian phát triển chiến lược, nơi Việt Nam có thể khẳng định vị thế và sức mạnh quốc gia.
Một quốc gia biển mạnh phải hội tụ đầy đủ các yếu tố gồm nền kinh tế biển xanh hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến, hệ thống quản trị hiệu quả và năng lực quốc phòng - an ninh đủ sức bảo vệ chủ quyền từ sớm, từ xa.
Sự chuyển dịch từ tư duy khai thác đơn thuần sang tư duy phát triển không gian biển tổng hợp không chỉ là thay đổi về khái niệm, mà là bước chuyển căn bản trong nhận thức và hành động. Đây được xem là nền tảng quan trọng để biển Việt Nam trở thành động lực phát triển mới, góp phần đưa đất nước vươn lên thành quốc gia biển mạnh, thịnh vượng và bền vững trong tương lai.
.jpg)