Khi nào kết quả giảm phát thải được công nhận là tín chỉ carbon?
Môi trường - Tài nguyên - Ngày đăng : 16:00, 06/07/2026
Khi nào kết quả giảm phát thải được công nhận là tín chỉ carbon?
Nghị định 180/2026/NĐ-CP đã mở đường cho thị trường carbon rừng tại Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề được nhiều địa phương, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế quan tâm nhất hiện nay không phải giá tín chỉ, mà là điều kiện để kết quả giảm phát thải được công nhận thành tín chỉ carbon và đủ điều kiện tham gia thị trường.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, chính thức tạo hành lang pháp lý cho việc phát triển thị trường carbon rừng tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngay khi nghị định bắt đầu được triển khai, điều khiến các địa phương, doanh nghiệp và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm lại không phải giá trị của tín chỉ carbon hay quy mô thị trường, mà là những điều kiện để kết quả giảm phát thải được công nhận thành tín chỉ carbon cũng như đối tượng nào đủ điều kiện tham gia thị trường.
Hiện nay, không ít chủ rừng vẫn cho rằng chỉ cần trồng mới hoặc bảo vệ rừng để gia tăng khả năng hấp thụ carbon là có thể tạo ra tín chỉ carbon để giao dịch. Tuy nhiên, theo cơ quan quản lý, đó mới chỉ là bước khởi đầu trong một quy trình kỹ thuật và pháp lý chặt chẽ.
Một trong những nội dung được nhiều địa phương gửi đến Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm trong quá trình góp ý triển khai Nghị định 180 là sự khác biệt giữa kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon.
Bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế, cho biết lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon chỉ được xem là cơ sở ban đầu. Muốn trở thành tín chỉ carbon đủ điều kiện giao dịch, dự án phải hoàn thành đầy đủ các bước theo quy định, từ xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định đến xác minh kết quả.
Sau khi cơ quan có thẩm quyền xác nhận lượng giảm phát thải hoặc cấp tín chỉ carbon, kết quả này mới đủ điều kiện để chuyển nhượng, trao đổi thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Đây cũng là nguyên tắc cốt lõi được quy định trong Nghị định 180.

Chính vì vậy, phần lớn câu hỏi từ các tổ chức quốc tế hiện không tập trung vào giá bán hay cơ chế giao dịch, mà hướng đến tiêu chí xác định lượng carbon đủ điều kiện hình thành tín chỉ.
Đại diện IFAD tại Việt Nam đặt vấn đề liệu các mô hình nông - lâm kết hợp hoặc cây phân tán ngoài đất lâm nghiệp có được xem là dự án carbon rừng hay không. Đồng thời, tổ chức này cũng băn khoăn về cách xử lý khi một khu vực đã tồn tại các chương trình giảm phát thải trước đó.
Trong khi đó, WWF Việt Nam quan tâm đến việc ghi nhận kết quả giảm phát thải vào hệ thống Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) nếu dự án chưa được cấp tín chỉ carbon. Forest Trends lại đặt câu hỏi về vai trò của rừng trồng do hộ gia đình quản lý cũng như khả năng tham gia thị trường carbon của nhóm chủ rừng này.
Theo các chuyên gia, đây là những vấn đề tất yếu khi thị trường carbon chuyển từ giai đoạn xây dựng chính sách sang triển khai thực tế, nơi mỗi khu rừng có đặc điểm, chủ sở hữu và phương thức quản lý khác nhau.
Không chỉ khác nhau về khả năng hấp thụ carbon, các loại rừng còn có sự khác biệt về quyền sở hữu, chủ thể quản lý và cơ chế tham gia thị trường.
Trả lời ý kiến của Forest Trends, bà Nghiêm Phương Thúy cho biết các quy định hiện hành, trong đó có Nghị định 180, chỉ áp dụng đối với tổ chức có tư cách pháp nhân, chưa áp dụng trực tiếp với cá nhân. Vì vậy, hộ gia đình không thể tự đăng ký dự án carbon mà phải liên kết hoặc ủy quyền cho tổ chức đủ điều kiện pháp lý để thực hiện.
Theo kế hoạch triển khai Nghị định 180, đối với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân do hộ gia đình, cá nhân hoặc cộng đồng quản lý, việc xây dựng dự án carbon sẽ được thực hiện thông qua hợp tác hoặc liên kết với tổ chức có tư cách pháp nhân. Đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, chủ rừng có thể trực tiếp triển khai hoặc lựa chọn hình thức liên kết, ủy quyền theo quy định.
Một nội dung khác cũng được nhiều địa phương quan tâm là việc xác định hiện trạng đối với những diện tích rừng có sự thay đổi trong quá trình quản lý.
Ông Nguyễn Văn Bông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, nêu thực tế nhiều diện tích trước đây được giao cho hộ gia đình, vốn không phải rừng tự nhiên, nhưng sau nhiều năm phục hồi đã phát triển thành rừng tự nhiên.
Giải đáp vấn đề này, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết việc xác định trạng thái rừng thuộc thẩm quyền công bố hằng năm của địa phương. Khi diện tích đã được công nhận là rừng tự nhiên thì toàn bộ cơ chế, chính sách áp dụng sẽ căn cứ theo trạng thái rừng đã được công bố chính thức.
Ông cũng nhấn mạnh Nghị định 58/2024/NĐ-CP cho phép chủ rừng được hưởng các nguồn thu hợp pháp từ rừng, trong đó có nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng bên cạnh các khoản hỗ trợ của Nhà nước.
Trong quá trình xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ carbon rừng, nhiều ý kiến cũng đề nghị cần quy định cụ thể hơn về minh bạch thông tin và công khai dữ liệu dự án. Đại diện CARE Việt Nam cho rằng các hướng dẫn hiện nay mới dừng ở những nguyên tắc chung và cần được cụ thể hóa để thuận lợi cho quá trình triển khai.
Tiếp thu ý kiến này, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết thời gian duy trì dự án hiện chỉ quy định ở mức tối thiểu nhằm phục vụ công tác giám sát các yếu tố môi trường và xã hội. Đối với rủi ro đảo nghịch phát thải, cơ quan quản lý sẽ nghiên cứu áp dụng cơ chế lượng dự phòng thay vì chỉ đánh giá dựa trên hoạt động khai thác rừng.
Theo ông Phạm Hồng Lượng, phần lớn các góp ý đều hướng tới việc hoàn thiện các hướng dẫn thực hiện. Do Nghị định 180 phải kế thừa nhiều quy định hiện hành về khí nhà kính, thị trường carbon và lĩnh vực lâm nghiệp, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm sẽ tiếp tục xây dựng các tài liệu hướng dẫn chi tiết theo từng bước để địa phương, doanh nghiệp và chủ rừng dễ dàng triển khai.
Những vấn đề được đặt ra tại hội nghị cho thấy thị trường carbon rừng của Việt Nam đang bước sang giai đoạn triển khai thực tế. Thách thức hiện nay không còn nằm ở việc thiếu khung pháp lý mà là làm sao cụ thể hóa các quy định thành quy trình rõ ràng, thống nhất và phù hợp với từng loại rừng, từng chủ thể quản lý cũng như từng dự án cụ thể.
Khi những hướng dẫn này được hoàn thiện, kết quả giảm phát thải mới có thể được chuyển hóa thành tín chỉ carbon đủ điều kiện tham gia thị trường trong nước và quốc tế, tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
