Từ những đổi thay trong tư duy sản xuất, nông nghiệp Nghệ An đang từng bước rời xa lối canh tác nhỏ lẻ để hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với công nghệ và thị trường. Nếu chuyển đổi số giúp người nông dân kiểm soát tốt quy trình, nâng cao chất lượng nông sản thì liên kết chuỗi chính là mắt xích quan trọng để mở rộng đầu ra, gia tăng giá trị và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Kinh tế xanh
Bài 2: Liên kết chuỗi để nâng giá trị nông sản
Hải Yến•{Ngày xuất bản}
Từ những đổi thay trong tư duy sản xuất, nông nghiệp Nghệ An đang từng bước rời xa lối canh tác nhỏ lẻ để hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với công nghệ và thị trường. Nếu chuyển đổi số giúp người nông dân kiểm soát tốt quy trình, nâng cao chất lượng nông sản thì liên kết chuỗi chính là mắt xích quan trọng để mở rộng đầu ra, gia tăng giá trị và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Từ những đổi thay trong tư duy sản xuất, nông nghiệp Nghệ An đang từng bước rời xa lối canh tác nhỏ lẻ để hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với công nghệ và thị trường. Nếu chuyển đổi số giúp người nông dân kiểm soát tốt quy trình, nâng cao chất lượng nông sản thì liên kết chuỗi chính là mắt xích quan trọng để mở rộng đầu ra, gia tăng giá trị và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Từ kinh tế hộ đến tư duy sản xuất số
Nhiều năm qua, một trong những điểm nghẽn lớn của nông nghiệp Nghệ An là sản xuất còn phân tán, nhỏ lẻ, nông sản chủ yếu tiêu thụ dưới dạng tươi, phụ thuộc vào thương lái nên giá trị gia tăng thấp và đầu ra thiếu ổn định. Không ít nông dân vẫn quen với cách làm “được gì bán nấy”, chưa chú trọng đến sản phẩm mang giá trị hàng hóa, ít gắn với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc hay nhu cầu thị trường.
Sản xuất nông nghiệp tại Nghệ An đang mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Ảnh minh họa
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh không chỉ là việc đưa thiết bị, công nghệ vào đồng ruộng mà quan trọng hơn là thúc đẩy thay đổi tư duy sản xuất, từ làm nông đơn lẻ sang làm nông theo chuỗi giá trị. Khi người nông dân bắt đầu tiếp cận công nghệ, quan tâm hơn đến quy trình canh tác, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và nhu cầu thị trường, sản xuất nông nghiệp cũng thay đổi theo hướng bài bản hơn.
Ứng dụng công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận
Tuy nhiên, đổi mới ở khâu sản xuất mới chỉ là điều kiện cần. Một hộ nông dân hay một trang trại có thể chủ động quy trình canh tác, nhưng rất khó tự mình giải quyết đồng thời các yêu cầu về bảo quản sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu hay mở rộng thị trường. Vì thế, chuyển đổi số trong nông nghiệp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi không dừng ở ứng dụng công nghệ trong sản xuất mà còn gắn với tổ chức đầu ra và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Nuôi ong thụ phấn - tiết kiệm chi phí nhân công, tăng chất lượng sản phẩm
Tại xã Thần Lĩnh, mô hình nông nghiệp của đảng viên Bùi Đình Hội là một ví dụ cho hướng đi này. Trên diện tích nhà màng trồng dưa lưới, dưa hấu và rau màu, anh Hội đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt của Israel có thể điều khiển bằng điện thoại thông minh, kết hợp cảm biến theo dõi điều kiện canh tác và các thiết bị hỗ trợ kiểm soát quá trình chăm sóc, thu hoạch.
“
Việc đưa công nghệ số vào sản xuất giúp trang trại chủ động hơn trong điều tiết nước tưới, dinh dưỡng, giảm phụ thuộc vào lao động thủ công, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng nông sản.
Anh Bùi Đình Hội - Điển hình đảng viên trẻ làm nông nghiệp công nghệ cao tại xã Thần Lĩnh
Sản phẩm dưa lưới trồng trong nhà màng, ứng dụng công nghệ số trong sản xuất
Điều đáng nói là chuyển đổi số ở mô hình này không dừng lại ở khâu canh tác. Từ chỗ tiêu thụ nhỏ lẻ, sản phẩm sạch của gia đình anh Hội đã từng bước mở rộng ra thị trường trong tỉnh và một số đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Việc gắn ứng dụng công nghệ với tổ chức sản xuất và chủ động tìm kiếm thị trường đã giúp mô hình mang lại doanh thu hơn 2 tỷ đồng mỗi năm, lợi nhuận khoảng 700–800 triệu đồng, đồng thời tạo việc làm thường xuyên cho 5 lao động địa phương. Đây là một trong những điển hình của kinh tế hộ gia đình.
Đảng viên trẻ Bùi Đình Hội mạnh dạn trở về quê phát triển nông nghiệp công nghệ cao, mở ra hướng đi ổn định cho kinh tế hộ gia đình
Từ những mô hình như vậy có thể thấy, chuyển đổi số đang tạo ra bước thay đổi quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Nhưng nếu chỉ dừng ở việc làm ra sản phẩm tốt hơn thì vẫn chưa đủ. Điểm nghẽn lớn hơn của nông nghiệp Nghệ An hiện nay là làm sao từ những mô hình riêng lẻ có thể hình thành được các vùng nguyên liệu ổn định, gắn với doanh nghiệp, chế biến và thị trường tiêu thụ. Đó cũng là bước chuyển tiếp theo của nông nghiệp địa phương trên hành trình nâng giá trị nông sản.
Từ vùng nguyên liệu đến chuỗi giá trị nông sản
Nếu ứng dụng công nghệ là bước đầu để nâng chất lượng nông sản thì liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu mới là chìa khóa để nâng giá trị. Đây cũng là hướng đi đang dần hình thành trong nông nghiệp Nghệ An, khi nhiều địa phương không còn dừng ở sản xuất nguyên liệu thô mà từng bước tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, gắn với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ.
Một ví dụ rõ hơn cho hướng hình thành chuỗi liên kết giá trị là vùng trồng dứa ở xã Quỳnh Thắng. Năm 2024, xã Tân Thắng (cũ) được xem là “vựa dứa” lớn nhất tỉnh với quy mô 850 ha. Không chỉ là vùng nguyên liệu quy mô lớn, địa phương này còn cho thấy xu hướng chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất gắn với tiêu chuẩn chất lượng và thị trường, với hơn 30 ha dứa được trồng theo hướng hữu cơ, cho thu nhập trên 400 triệu đồng/ha/vụ.
Quỳnh Thắng hiện đang là "vựa "dứa lớn nhất của tỉnh
Từ vùng nguyên liệu này, cây dứa đang từng bước được đưa vào chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ. Cuối năm 2024, Công ty CP Nafoods Group ký biên bản ghi nhớ với chính quyền và nông dân các xã Quỳnh Châu, Tân Thắng, Quỳnh Thắng để phát triển vùng nguyên liệu dứa Cayenne, hỗ trợ kỹ thuật và ưu tiên thu mua theo hợp đồng.
Mô hình trồng dứa phủ nilon theo hướng tuần hoàn tại xã Quỳnh Thắng. Ảnh HNDT
Không chỉ dừng ở việc mở rộng vùng nguyên liệu, cây dứa ở Nghệ An còn cho thấy khả năng gia tăng giá trị khi được tổ chức theo hướng sản xuất xanh, tuần hoàn và gắn với chế biến. Tại xã Quỳnh Thắng, mô hình trồng dứa phủ nilon theo hướng tuần hoàn đang là một ví dụ cho tư duy sản xuất nông nghiệp đa giá trị.
Cách làm này cho thấy khi nông sản được tổ chức theo chuỗi từ sản xuất, chế biến đến tái sử dụng phụ phẩm, giá trị mang lại không chỉ nằm ở sản lượng hay doanh thu, mà còn ở hiệu quả sinh thái, khả năng tạo việc làm và hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.
Trong dòng chảy ấy, HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác ở xã Kim Liên là một ví dụ cho hướng phát triển nông sản theo chuỗi giá trị, từ xây dựng vùng nguyên liệu sen đến chế biến sâu, phát triển các sản phẩm OCOP, qua đó từng bước nâng giá trị cho cây sen bản địa.
Lấy cây sen quê hương làm lợi thế, HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác đẩy mạnh chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Tuy vậy, quá trình hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ ở nhiều địa phương vẫn đang đối mặt với không ít rào cản. Sản xuất còn manh mún, quy mô nhỏ lẻ khiến việc tích tụ đất đai, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gặp khó; trong khi thời tiết khắc nghiệt, rủi ro thiên tai lớn cũng khiến nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp.
“
“Quá trình chuyển đổi xanh trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương vẫn gặp nhiều trở ngại do quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, khó hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Cùng với đó, thời tiết khắc nghiệt, rủi ro thiên tai lớn cũng khiến nhiều nhà đầu tư chưa mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp.”
Bà Nguyễn Thị Vân, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Kim Liên
Trong bối cảnh ấy, những mô hình biết gắn sản xuất với chế biến, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và hình thành chuỗi giá trị như HTX Nông nghiệp Sen Quê Bác cho thấy hướng đi phù hợp trong nâng tầm nông sản địa phương.
Thực tế đó cho thấy, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nông nghiệp Nghệ An sẽ khó tạo ra bứt phá nếu chỉ dừng ở một vài mô hình riêng lẻ. Giá trị bền vững chỉ được tạo ra khi công nghệ trở thành một mắt xích trong quá trình tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
“
Thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là giải pháp căn cơ để chấm dứt vòng luẩn quẩn “được mùa, mất giá”. Khi có doanh nghiệp đồng hành từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, người dân mạnh dạn đầu tư công nghệ, áp dụng quy trình sản xuất an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu thị trường. Đổi lại, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu, qua đó hình thành chuỗi liên kết bền vững, mang lại lợi ích hài hòa cho các bên.
Từ mô hình kinh tế hộ ứng dụng công nghệ số đến những vùng nguyên liệu gắn với doanh nghiệp, hợp tác xã và chế biến sâu, có thể thấy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh chỉ thực sự tạo ra giá trị khi trở thành động lực để tổ chức lại sản xuất.
Khi nông dân không còn làm nông theo kiểu “được gì bán nấy” mà bước vào chuỗi liên kết từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ, nông sản mới có cơ hội nâng giá trị, mở rộng thị trường và phát triển bền vững. Đó cũng là con đường để nông nghiệp Nghệ An thoát khỏi vòng luẩn quẩn “được mùa, mất giá”, chuyển từ tăng sản lượng sang nâng chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong giai đoạn mới.