Bài 1: Khi nông dân trở thành chủ thể của cuộc cách mạng trên đồng ruộng
Không chỉ là trụ đỡ của nền kinh tế và lực lượng quan trọng bảo đảm an ninh lương thực, nông nghiệp Nghệ An đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ để thích ứng với biến đổi khí hậu, yêu cầu ngày càng cao của thị trường và mục tiêu phát triển bền vững. Từ thay đổi tư duy sản xuất, ứng dụng công nghệ số đến mở rộng canh tác xanh, nông dân Nghệ An đang khẳng định vai trò chủ thể trong xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, hiệu quả.

Nông nghiệp Nghệ An đang chuyển mình mạnh mẽ trước yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, thị trường và mục tiêu phát triển bền vững. Từ chuyển đổi tư duy sản xuất, ứng dụng công nghệ số đến mở rộng canh tác xanh, người nông dân ngày càng khẳng định vai trò chủ thể trong xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, hiệu quả.
Đồng hành với quá trình ấy là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của Hội Nông dân và tinh thần dám đổi mới của người dân trên chính đồng ruộng quê hương.
Từ sản xuất chạy theo năng suất đến canh tác xanh, tuần hoàn
Trong nhiều năm, mục tiêu lớn nhất của sản xuất nông nghiệp là tăng năng suất, sản lượng. Khi thị trường chưa đặt ra nhiều yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm, không ít nông dân quen với việc sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật để bảo đảm năng suất cây trồng. Nhưng cùng với thời gian, những hệ lụy đối với môi trường, độ phì của đất, chất lượng nông sản và sức khỏe người sản xuất ngày càng bộc lộ rõ.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi xanh không còn là một khái niệm mang tính định hướng mà đã trở thành nhu cầu tự thân của sản xuất nông nghiệp. Ở Nghệ An, sự thay đổi này đang diễn ra ngày càng rõ nét ở nhiều vùng sản xuất tập trung, từ trồng lúa, rau màu đến cây ăn quả, chè, cây dược liệu.

Một trong những biểu hiện dễ nhận thấy nhất là phong trào tận dụng phụ phẩm, phế phẩm nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ phát triển mạnh trên toàn tỉnh. Chỉ trong hai năm qua, nông dân Nghệ An đã tự sản xuất hơn 80.000 tấn phân hữu cơ vi sinh, góp phần giảm đáng kể chi phí vật tư đầu vào trong bối cảnh giá phân bón liên tục biến động. Quan trọng hơn, việc sử dụng phân hữu cơ còn giúp cải tạo đất canh tác sau nhiều năm chịu tác động của phân bón hóa học, từng bước phục hồi hệ sinh thái đồng ruộng, nâng cao chất lượng nông sản.

Những phụ phẩm từng bị xem là rác thải như rơm rạ, thân cây ngô, phân gia súc, gia cầm… nay trở thành nguồn nguyên liệu hữu ích, hình thành vòng tuần hoàn khép kín trong sản xuất. Ở nhiều địa phương, mô hình sản xuất tuần hoàn đang dần trở thành hướng đi được nhiều hộ dân lựa chọn: phế phẩm chăn nuôi được xử lý làm phân bón cho cây trồng; ngược lại, phụ phẩm cây trồng tiếp tục trở thành thức ăn cho vật nuôi hoặc nguyên liệu để ủ phân hữu cơ. Cách làm ấy không chỉ giúp giảm chi phí, hạn chế ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn, phù hợp với xu hướng tiêu dùng xanh.

Không dừng ở thay đổi cách sử dụng vật tư đầu vào, nhiều vùng sản xuất rau màu, chè, cam, cây ăn quả của Nghệ An cũng từng bước áp dụng quy trình sản xuất sạch, sản xuất hữu cơ, hướng tới xây dựng thương hiệu nông sản gắn với yếu tố an toàn và phát triển bền vững. Sự thay đổi ấy cho thấy người nông dân hôm nay không còn chỉ quan tâm đến năng suất trước mắt mà đã chú trọng hơn đến giá trị lâu dài của đất đai, môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đó cũng chính là nền tảng quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp sinh thái trong giai đoạn mới.

Nếu như trước đây người nông dân chủ yếu “làm cho nhiều” thì nay, cùng với áp lực của thị trường và đòi hỏi từ thực tiễn sản xuất, tư duy ấy đang được thay thế bằng một cách nghĩ mới: làm nông nghiệp không chỉ để thu được nhiều sản phẩm, mà còn phải làm ra sản phẩm sạch hơn, an toàn hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn và bảo đảm sinh kế lâu dài cho chính người làm nông. Sự chuyển dịch từ “làm nhiều” sang “làm xanh” vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà sâu xa hơn là thay đổi tư duy phát triển.
Nghị quyết của Đảng mở đường cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh
Nếu chuyển đổi xanh làm thay đổi phương thức canh tác thì chuyển đổi số đang mở ra một cách thức sản xuất hoàn toàn mới cho nông nghiệp Nghệ An. Và đằng sau bước chuyển ấy là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự cụ thể hóa của chính quyền các cấp và sự đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc đưa chủ trương vào thực tiễn.

Những năm gần đây, cùng với việc triển khai các chủ trương lớn của Trung ương về phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh và chương trình chuyển đổi số quốc gia, Nghệ An đã từng bước cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt là chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp; từ sản xuất manh mún sang liên kết, ứng dụng công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Đặc biệt, việc quán triệt và triển khai các nghị quyết, chương trình của tỉnh về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển kinh tế - xã hội đã tạo thêm nền tảng quan trọng để nông nghiệp Nghệ An chuyển mình theo hướng hiện đại, xanh và hiệu quả hơn. Từ chủ trương của Đảng, yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không còn dừng ở định hướng vĩ mô mà đang dần đi vào từng cánh đồng, từng hợp tác xã, từng hộ nông dân bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.
Cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng đang trở thành lực đẩy quan trọng cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp. Ngày 12/12/2025, HĐND tỉnh Nghệ An ban hành Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Nghị quyết tập trung vào các nhóm chính sách hỗ trợ phát triển trồng trọt như chè, dứa, cam; hỗ trợ giống cây trồng vụ đông; hỗ trợ thuốc diệt chuột; hỗ trợ tập trung ruộng đất để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Những chính sách này không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, tạo điều kiện mở rộng vùng sản xuất tập trung mà còn góp phần khuyến khích nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, từng bước hình thành nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại hơn.
Ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản giữa bối cảnh diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, lao động trẻ dịch chuyển sang khu vực công nghiệp, dịch vụ.

Thực tế cho thấy, công nghệ số đang hiện diện ngày càng rõ trong đời sống sản xuất của nông dân. Nếu như trước đây chiếc điện thoại chỉ để liên lạc thì nay, với nhiều nông dân, đó đã trở thành một “nông cụ” mới. Từ chiếc điện thoại thông minh, người nông dân có thể cập nhật nhanh thông tin thời tiết, giá cả thị trường, học kỹ thuật canh tác, tìm hiểu quy trình phòng trừ sâu bệnh, quảng bá sản phẩm và kết nối tiêu thụ.
Nhiều trang trại trên địa bàn tỉnh đã đầu tư hệ thống tưới nước tự động, điều khiển từ xa qua điện thoại thông minh; áp dụng phần mềm quản lý sản xuất, theo dõi sinh trưởng cây trồng, lưu trữ nhật ký điện tử, quản lý vật tư đầu vào và truy xuất nguồn gốc. Nhờ đó, việc kiểm soát quy trình sản xuất trở nên khoa học hơn, giảm đáng kể chi phí lao động, tiết kiệm nước tưới, phân bón, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Không chỉ thay đổi ở khâu sản xuất, chuyển đổi số còn tạo bước tiến mới trong tiêu thụ nông sản. Nếu như trước đây đầu ra chủ yếu phụ thuộc vào thương lái thì nay nhiều hộ sản xuất kinh doanh giỏi, chủ trang trại, hợp tác xã đã chủ động quảng bá sản phẩm trên các nền tảng mạng xã hội, tham gia sàn thương mại điện tử, trực tiếp livestream giới thiệu nông sản, kết nối với khách hàng ở nhiều tỉnh, thành. Các sản phẩm OCOP của Nghệ An cũng từng bước hiện diện trên nền tảng số, mở rộng thị trường tiêu thụ và giảm dần sự phụ thuộc vào kênh phân phối truyền thống.
Điều quan trọng hơn cả là những thay đổi ấy cho thấy chủ trương của Đảng không dừng lại ở nghị quyết, văn bản chỉ đạo, mà đang được cụ thể hóa bằng những chuyển động rất đời thường trên đồng ruộng: thay đổi cách ghi chép sản xuất, thay đổi cách bán hàng, thay đổi cách tiếp cận thị trường và thay đổi cách nghĩ về giá trị của nông sản. Khi nghị quyết đi vào cuộc sống, chuyển hóa thành nhận thức và hành động của người nông dân, đó cũng là lúc vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện sinh động, thuyết phục nhất từ thực tiễn.
Hội Nông dân – cầu nối đưa chủ trương của Đảng đến với nông dân
Trong tiến trình chuyển đổi ấy, Hội Nông dân tỉnh Nghệ An đang thể hiện ngày càng rõ vai trò là cầu nối giữa nghị quyết của Đảng với thực tiễn sản xuất ở cơ sở; là lực lượng trực tiếp đồng hành, hỗ trợ nông dân tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới và phương thức sản xuất mới. Nếu cấp ủy định hướng bằng chủ trương, chính quyền tạo cơ chế, thì tổ chức Hội chính là lực lượng bám cơ sở, góp phần đưa chuyển đổi số, chuyển đổi xanh đến với từng hội viên, nông dân.

Vai trò ấy trước hết thể hiện ở công tác tuyên truyền, vận động, giúp nông dân thay đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”. Cùng với đó, các cấp Hội chú trọng tổ chức tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn kỹ năng số, hỗ trợ hội viên sử dụng điện thoại thông minh để cập nhật thông tin thị trường, thời tiết, kỹ thuật sản xuất; hướng dẫn ghi chép nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, quảng bá và tiêu thụ nông sản trên nền tảng số.
Ở nhiều địa phương, nơi nào tổ chức Hội vào cuộc tích cực, nơi đó nông dân mạnh dạn đổi mới hơn, chủ động hơn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ số vào sản xuất. Từ việc vận động hội viên tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ, tham gia các mô hình sản xuất an toàn, hữu cơ, tuần hoàn, đến hỗ trợ đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử, kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ nông sản, Hội Nông dân không chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền mà thực sự trở thành lực lượng đồng hành, hỗ trợ và kết nối.

Vai trò “cầu nối” ấy càng thể hiện rõ khi Hội Nông dân tỉnh chủ động mở rộng liên kết với doanh nghiệp để đưa tiến bộ kỹ thuật, giống mới và mô hình sản xuất hiện đại đến với hội viên. Mới đây, Hội Nông dân tỉnh Nghệ An đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác với Tập đoàn ThaiBinh Seed tại khu vực Bắc Trung Bộ nhằm xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược trong việc đưa các giống cây trồng chất lượng cao, kỹ thuật canh tác tiên tiến đến với hội viên, nông dân. Hai bên thống nhất từng bước hình thành và mở rộng các vùng liên kết sản xuất lúa giống, gạo chất lượng cao; xây dựng chuỗi giá trị khép kín từ giống, canh tác, thu hoạch đến tiêu thụ sản phẩm gắn với chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong giai đoạn 2026 - 2030.
Không chỉ dừng ở vai trò hỗ trợ kỹ thuật hay kết nối đầu ra, tổ chức Hội còn đang góp phần hình thành lớp nông dân mới trên đồng ruộng xứ Nghệ: biết ứng dụng khoa học kỹ thuật, biết làm chủ công nghệ, biết tính toán hiệu quả kinh tế, biết nắm bắt nhu cầu thị trường và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản. Khi nông dân trở thành trung tâm của quá trình chuyển đổi, còn tổ chức Hội trở thành lực lượng đồng hành, hỗ trợ và kết nối, thì chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành động lực phát triển ngay trên từng cánh đồng.

Tại xã Nghĩa Đồng, Hội Nông dân xã đang phát huy tốt vai trò là lực lượng tiên phong, sát cánh cùng nông dân trong chuyển đổi số. Hội đã tổ chức nhiều buổi tập huấn, hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ, nhất là trong giai đoạn đầu khi bà con còn nhiều bỡ ngỡ. Hiện nay địa phương đã hình thành HTX sản xuất và chế biến dược liệu chất lượng cao. Đây được xem là hướng đi mới, mở ra triển vọng phát triển nông nghiệp giá trị cao trên địa bàn. Cùng với đó, Hội đang tích cực vận động người dân tích tụ, tập trung đất đai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên những diện tích sản xuất kém hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, đặc biệt là cây dược liệu.
“Hội Nông dân xã không chỉ định hướng cho người dân mà còn trực tiếp hướng dẫn, nắm bắt các cơ chế, chính sách để tuyên truyền, phổ biến kịp thời đến bà con. Đồng thời, Hội phối hợp chặt chẽ với Phòng Kinh tế và các đơn vị chuyên môn để hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả. Đặc biệt, phát triển cây dược liệu đang được xác định là hướng đi mới, phù hợp với định hướng của tỉnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao”.
Ông Trần Văn Trung - Chủ tịch Hội Nông dân xã Nghĩa Đồng
Có thể thấy, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang tạo ra bước chuyển căn bản trong nông nghiệp Nghệ An. Từ chỗ chạy theo sản lượng, nhiều nông dân đã bắt đầu coi trọng chất lượng, an toàn, truy xuất nguồn gốc và giá trị bền vững. Từ chỗ sản xuất manh mún, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, nông dân đang từng bước tiếp cận phương thức sản xuất khoa học, hiện đại và gắn với thị trường hơn. Đó không chỉ là sự thay đổi trong cách làm nông, mà còn là sự trưởng thành của người nông dân trong vai trò chủ thể của quá trình phát triển.
Nhưng để những chuyển động ấy thực sự tạo nên sức bật cho nông nghiệp Nghệ An, nâng cao thu nhập cho người nông dân và hình thành nền sản xuất hàng hóa bền vững, vẫn cần một mắt xích quan trọng hơn: liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Từ kinh tế hộ, sản xuất manh mún sang hợp tác, liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã, mở rộng vùng nguyên liệu, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và thương hiệu – đó sẽ là bước đi tiếp theo để nông sản Nghệ An đi xa hơn, bền vững hơn trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
THỰC HIỆN: HẢI YẾN




