Khoảng trống trong quản lý chất thải xây dựng - Bài 5: Giải pháp nào biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế tuần hoàn

Tài nguyên và phát triển - Ngày đăng : 20:32, 23/07/2026

Việt Nam không thiếu các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhưng vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa chính sách và thực thi. Muốn biến chất thải rắn xây dựng thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế tuần hoàn, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó hoàn thiện thể chế phải là bước đi đầu tiên.
Tài nguyên và phát triển

Khoảng trống trong quản lý chất thải xây dựng - Bài 5: Giải pháp nào biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế tuần hoàn

Mai Hạ {Ngày xuất bản}

Việt Nam không thiếu các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhưng vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa chính sách và thực thi. Muốn biến chất thải rắn xây dựng thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế tuần hoàn, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó hoàn thiện thể chế phải là bước đi đầu tiên.

ctrxd-bia.png

Cùng với tốc độ đô thị hóa và phát triển hạ tầng, lượng chất thải rắn xây dựng (CTRXD) đang gia tăng nhanh chóng và trở thành một trong những áp lực môi trường đáng quan ngại. Trong khi đó, công tác quản lý vẫn còn nhiều bất cập, từ thống kê nguồn phát sinh, quy hoạch bãi tiếp nhận, kiểm soát vận chuyển đến phát triển hệ thống tái chế.

Hoàn thiện thể chế - Chìa khóa để lấp đầy khoảng trống quản lý

Qua nhiều kỳ phản ánh của chuyên đề, một thực tế dễ nhận thấy là những bất cập trong quản lý CTRXD không chỉ bắt nguồn từ ý thức của doanh nghiệp hay năng lực quản lý của chính quyền địa phương, mà còn xuất phát từ việc thiếu một cơ chế quản trị thống nhất đối với toàn bộ vòng đời của chất thải. Khi lượng CTRXD ngày càng gia tăng cùng quá trình cải tạo đô thị, phá dỡ công trình cũ và đầu tư xây dựng mới, việc tiếp tục quản lý theo cách "phát sinh đến đâu xử lý đến đó" đã bộc lộ nhiều hạn chế.

Thực tế hiện nay cho thấy, CTRXD vẫn đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, từ Luật Bảo vệ môi trường, các nghị định hướng dẫn thi hành đến các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực xây dựng. Mặc dù đã tạo ra khung pháp lý bước đầu, song các quy định còn phân tán, thiếu tính liên kết và chưa hình thành một cơ chế quản lý xuyên suốt từ khâu phát sinh, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế đến xử lý cuối cùng.

Một trong những biểu hiện rõ nhất của khoảng trống thể chế là chưa có hệ thống thống kê đầy đủ về CTRXD.

Tại hội thảo về vật liệu xanh vừa diễn ra, PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội nhấn mạnh Việt Nam đang đối mặt với lượng CTRXD gia tăng nhanh chóng, chiếm 10- 12% tổng lượng chất thải đô thị (với khoảng 60.000 tấn/ngày), thậm chí lên tới 20-25% tại các đô thị lớn.

Thống kê cho thấy khối lượng CTRXD tăng từ 1,9 triệu tấn (năm 2010) lên khoảng 9,6 triệu tấn (năm 2025), trong đó thành phần chủ yếu gồm bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải (70- 90%).

Theo đánh giá, khối lượng CTRXD tại Hà Nội năm 2024 ước đạt khoảng 2.098 tấn/ngày, chiếm 25% tổng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Dự báo đến năm 2030, con số này có thể lên đến 3.400 tấn/ngày.

Không chỉ thiếu dữ liệu, hệ thống quy hoạch phục vụ xử lý CTRXD cũng còn nhiều bất cập. Ở không ít địa phương, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bãi tiếp nhận hợp pháp, trong khi nhiều khu vực lại chưa được quy hoạch điểm tập kết hoặc cơ sở tái chế. Chi phí vận chuyển tăng cao, quãng đường xa và thủ tục tiếp nhận còn phức tạp đã trở thành một trong những nguyên nhân khiến tình trạng đổ trộm CTRXD vẫn diễn ra.

Điều đáng lưu ý là phần lớn các chính sách hiện nay vẫn tập trung vào khâu xử lý sau khi chất thải đã phát sinh, trong khi chưa đặt trọng tâm vào việc kiểm soát toàn bộ dòng chất thải ngay từ nơi phát sinh. Chính khoảng trống này khiến việc truy xuất nguồn gốc, xác định trách nhiệm khi xảy ra vi phạm trở nên khó khăn.

ctrxd-the-che.png

Cần một khung pháp lý riêng cho chất thải rắn xây dựng

Nhiều chuyên gia cho rằng, đã đến lúc Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng một hệ thống quy định chuyên biệt đối với CTRXD, tương tự như cách nhiều quốc gia đã thực hiện.

Khung pháp lý này cần quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào vòng đời của chất thải, từ chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị vận chuyển đến cơ sở tiếp nhận, tái chế và xử lý. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong lĩnh vực môi trường, xây dựng, giao thông và chính quyền địa phương nhằm kiểm soát thống nhất hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải.

Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, các quy định mới không nên chỉ dừng lại ở mục tiêu "xử lý chất thải", mà cần hướng đến quản lý tài nguyên thứ cấp. Điều này đồng nghĩa với việc CTRXD cần được nhìn nhận là nguồn nguyên liệu có thể tái sử dụng, tái chế thay vì chỉ là đối tượng phải chôn lấp hoặc tiêu hủy.

Từ nguyên tắc của Luật Bảo vệ môi trường đến yêu cầu cụ thể hóa trong thực tiễn

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác lập nhiều nguyên tắc quan trọng về quản lý chất thải theo hướng giảm thiểu phát sinh, tăng cường tái sử dụng, tái chế và thu hồi giá trị từ chất thải, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý môi trường của Việt Nam, khi chất thải không còn chỉ được nhìn nhận là gánh nặng cần xử lý mà còn là nguồn tài nguyên có thể khai thác trở lại phục vụ sản xuất.

Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định như sau:

1. Tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân tham gia thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường.

2. Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để tăng cường việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng văn hóa bảo vệ môi trường.

3. Chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.

4. Ưu tiên xử lý ô nhiễm môi trường, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư.

5. Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách nhà nước với tỷ lệ tăng dần theo khả năng của ngân sách nhà nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường; ưu tiên nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ trọng điểm về bảo vệ môi trường.

6. Bảo đảm quyền lợi của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường.

7. Tăng cường nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ xử lý ô nhiễm, tái chế, xử lý chất thải; ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường.

8. Tôn vinh, khen thưởng cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

9. Mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường.

10. Thực hiện sàng lọc dự án đầu tư theo tiêu chí về môi trường; áp dụng công cụ quản lý môi trường phù hợp theo từng giai đoạn của chiến lược, quy hoạch, chương trình và dự án đầu tư.

11. Lồng ghép, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Trong khi Luật đã đặt ra định hướng chung về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, thì cơ chế triển khai đối với CTRXD vẫn chưa đồng bộ, cho thấy khoảng cách giữa quy định của pháp luật và thực tiễn vẫn còn khá lớn. Hiện chưa có quy định bắt buộc về truy xuất dòng chất thải, chưa có hệ thống dữ liệu dùng chung và cũng chưa hình thành cơ chế giám sát điện tử đối với hoạt động vận chuyển từ công trường đến nơi xử lý.

Đây chính là khoảng trống khiến nhiều vụ đổ trộm bã thải bê tông khó được phát hiện hoặc xử lý triệt để, bởi cơ quan chức năng rất khó xác định chất thải phát sinh từ công trình nào, do đơn vị nào vận chuyển và được đưa đến đâu sau khi rời khỏi công trường. Chỉ khi khối lượng bã thải bê tông được đổ ra môi trường rất lớn và thực hiện trong một thời gian dài mới bị phát hiện.

Muốn khắc phục tình trạng này, điều cần thiết không chỉ là bổ sung thêm quy định, mà quan trọng hơn là cụ thể hóa các nguyên tắc của Luật Bảo vệ môi trường bằng những công cụ quản lý hiện đại, minh bạch và có khả năng giám sát toàn bộ vòng đời của chất thải xây dựng. Đây cũng là nền tảng để từng bước chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang mô hình quản trị tài nguyên theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Chia sẻ điều này, Thạc sĩ, Luật sư Hoàng Thị Hương Giang (Văn phòng luật sư Chính Pháp) cho biết: “Theo tôi, khoảng trống lớn nhất trong khung pháp lý về quản lý bã thải bê tông hiện nay là pháp luật chưa xây dựng được cơ chế quản lý riêng đối với bã thải bê tông với tư cách là một loại tài nguyên có giá trị tái chế, mà mới chỉ điều chỉnh chung trong nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường.

lsu-giang.jpg
Thạc sĩ, Luật sư Hoàng Thị Hương Giang

Về mặt pháp lý, theo Điều 72 và Mục 3 Chương VI Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác lập nguyên tắc quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường theo hướng giảm thiểu phát sinh, phân loại, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng. Đồng thời, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP, cũng quy định chất thải rắn công nghiệp thông thường thu hồi, phân loại, lựa chọn để tái sử dụng, sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho hoạt động sản xuất được quản lý như sản phẩm, hàng hóa. Tuy nhiên, các quy định này vẫn mang tính nguyên tắc, chưa có quy định chuyên biệt đối với bã thải bê tông – loại chất thải chiếm tỷ trọng rất lớn trong hoạt động phá dỡ công trình và có khả năng tái chế thành cốt liệu xây dựng.

Thực tế cho thấy, pháp luật hiện nay còn thiếu nhiều nội dung quan trọng như: (i) chưa có tiêu chí pháp lý riêng để phân loại bã thải bê tông; (ii) chưa quy định tỷ lệ tái chế hoặc tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế bắt buộc trong các công trình xây dựng; (iii) chưa có cơ chế truy xuất, giám sát dòng chất thải từ công trình đến cơ sở xử lý; (iv) chưa quy định đầy đủ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu phá dỡ và đơn vị vận chuyển trong việc thu hồi, tái chế bã thải bê tông.

Khoảng trống này dẫn đến nhiều hệ lụy đối với công tác bảo vệ môi trường. Trên thực tế, phần lớn bã thải bê tông vẫn được xử lý theo phương thức chôn lấp hoặc đổ bỏ trái phép tại các khu đất trống, ven sông, kênh rạch hoặc bãi tập kết tự phát, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, làm mất mỹ quan đô thị, gia tăng nguy cơ ngập. Bên cạnh đó, việc chưa có cơ chế khuyến khích tái chế đủ hấp dẫn khiến nguồn tài nguyên có thể thu hồi từ bã thải bê tông bị lãng phí, trong khi nhu cầu khai thác cát, đá và các vật liệu xây dựng tự nhiên vẫn tiếp tục gia tăng. Điều này không chỉ làm tăng áp lực lên tài nguyên thiên nhiên mà còn làm giảm hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam đang hướng tới.

Hoàn thiện thể chế: Không chỉ sửa luật mà phải xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể

Nếu khoảng trống lớn nhất trong quản lý CTRXD hiện nay là chưa kiểm soát được dòng chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý cuối cùng, thì nguyên nhân sâu xa lại nằm ở việc trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi quản lý vẫn chưa được xác lập một cách đầy đủ và xuyên suốt.

Thực tế cho thấy, trong một dự án xây dựng thường có nhiều chủ thể cùng tham gia như chủ đầu tư, nhà thầu thi công, đơn vị phá dỡ, đơn vị vận chuyển, đơn vị tiếp nhận và cơ sở xử lý hoặc tái chế. Chính vì thế nên khi xảy ra tình trạng đổ trộm bã thải bê tông, CTRXD, rất khó xác định trách nhiệm cuối cùng thuộc về ai. Không ít trường hợp, chủ đầu tư cho rằng trách nhiệm đã được chuyển giao cho nhà thầu thông qua hợp đồng; nhà thầu lại thuê đơn vị vận chuyển; còn đơn vị vận chuyển tiếp tục giao cho bên thứ ba xử lý. Trách nhiệm vì thế bị chia cắt qua nhiều khâu, khiến việc xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn.

ctrxd-lsu.png

Đây là điểm khác biệt giữa quản lý CTRXD với nhiều loại chất thải khác. Trong khi chất thải nguy hại đã có cơ chế chứng từ, sổ theo dõi và quy trình kiểm soát tương đối chặt chẽ thì đối với bã thải bê tông, hoạt động quản lý sau khi chất thải rời công trường vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy hoặc sự tự giác của các bên liên quan. Khi thiếu công cụ giám sát, việc truy xuất nguồn gốc chất thải gần như không thể thực hiện nếu xảy ra hành vi đổ thải trái phép.

Ở góc độ pháp lý, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt nền móng cho tư duy quản lý mới khi xác định nguyên tắc giảm thiểu phát sinh chất thải, tăng cường tái sử dụng, tái chế và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Luật cũng quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thu gom, lưu giữ, chuyển giao và xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 142. Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định như sau:

1. Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.

2. Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện lồng ghép kinh tế tuần hoàn ngay từ giai đoạn xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển; quản lý, tái sử dụng, tái chế chất thải.

3. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm thiết lập hệ thống quản lý và thực hiện biện pháp để giảm khai thác tài nguyên, giảm chất thải, nâng cao mức độ tái sử dụng và tái chế chất thải ngay từ giai đoạn xây dựng dự án, thiết kế sản phẩm, hàng hóa đến giai đoạn sản xuất, phân phối.

4. Chính phủ quy định tiêu chí, lộ trình, cơ chế khuyến khích thực hiện kinh tế tuần hoàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.

Có thể thấy, tinh thần của Luật đã chuyển từ tư duy "xử lý chất thải" sang "quản lý tài nguyên". Tuy nhiên, các quy định hiện hành mới chủ yếu xác định trách nhiệm chung của chủ nguồn thải mà chưa xây dựng được cơ chế theo dõi toàn bộ vòng đời của CTRXD. Điều này khiến quá trình quản lý vẫn tồn tại khoảng trống giữa quy định và thực tiễn.

Theo nhiều chuyên gia, đã đến lúc cần nghiên cứu áp dụng cơ chế trách nhiệm mở rộng của chủ đầu tư đối với CTRXD.

Theo cơ chế này, trách nhiệm của chủ đầu tư không kết thúc khi ký hợp đồng với đơn vị vận chuyển mà phải được duy trì đến khi toàn bộ lượng chất thải phát sinh từ công trình được xử lý hoặc tái chế đúng quy định. Chủ đầu tư phải có trách nhiệm lựa chọn đơn vị vận chuyển đủ điều kiện, theo dõi quá trình vận chuyển và lưu giữ đầy đủ hồ sơ chứng minh chất thải đã được đưa đến đúng địa điểm tiếp nhận.

Đây là mô hình đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm hạn chế tình trạng "khoán trắng" trách nhiệm sau khi công trình hoàn thành.

Không chỉ chủ đầu tư, trách nhiệm của nhà thầu thi công cũng cần được quy định cụ thể hơn. Ngay từ giai đoạn lập biện pháp thi công, nhà thầu cần xây dựng phương án quản lý CTRXD, xác định khối lượng phát sinh, phương thức phân loại, tái sử dụng tại chỗ nếu có và phương án vận chuyển đến cơ sở tiếp nhận phù hợp. Những nội dung này nên được xem là một phần của hồ sơ quản lý chất lượng công trình thay vì chỉ là tài liệu phục vụ công tác môi trường.

Trong khi đó, các đơn vị vận chuyển cũng cần đáp ứng những điều kiện nhất định về phương tiện, thiết bị và năng lực quản lý. Thực tế hiện nay cho thấy nhiều xe vận chuyển bã thải bê tông chưa được che chắn đúng quy định, làm rơi vãi vật liệu trên đường, gây ô nhiễm môi trường và mất an toàn giao thông. Đáng lo ngại hơn, sau khi rời công trường, hành trình của các phương tiện này gần như không được giám sát, tạo điều kiện cho hành vi đổ thải trái phép diễn ra ở những khu vực hẻo lánh, ven sông, đất nông nghiệp hoặc các bãi đất trống.

Nếu không xác định rõ trách nhiệm của từng mắt xích trong chuỗi quản lý, việc tăng mức xử phạt hay bổ sung thêm chế tài cũng khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng.

Từ quản lý chất thải đến sử dụng hiệu quả tài nguyên

Một điểm đáng chú ý trong quá trình hoàn thiện chính sách là sự thay đổi về tư duy quản lý tài nguyên và môi trường.

bia-ctrxd.png

Nếu trước đây CTRXD chủ yếu được nhìn nhận như lượng vật liệu dư thừa cần thu gom và xử lý, thì xu hướng hiện nay là xem đây là nguồn nguyên liệu có thể quay trở lại quá trình sản xuất nếu được quản lý đúng cách.

Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 khi khuyến khích phát triển kinh tế tuần hoàn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải nhằm giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Cùng với đó, Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 cũng đặt ra yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên địa chất và khoáng sản, gắn với mục tiêu phát triển bền vững.

Khoản 1 Điều 3 Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 quy định như sau:

Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về địa chất, khoáng sản để bảo đảm tài nguyên địa chất, khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước; đẩy mạnh việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong hoạt động khoáng sản, chế biến khoáng sản.

Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đối mặt với tình trạng thiếu vật liệu san lấp, nguồn cát xây dựng ngày càng khan hiếm và áp lực khai thác khoáng sản gia tăng, việc tái chế CTRXD trong đó có bã thải bê tông không chỉ góp phần giảm ô nhiễm môi trường mà còn giúp tiết kiệm nguồn tài nguyên không tái tạo.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, chính sách cần vượt ra khỏi phạm vi quản lý chất thải theo cách truyền thống. Thay vì chỉ quy định trách nhiệm thu gom và xử lý, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tái chế, ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế và hình thành thị trường tiêu thụ ổn định cho các sản phẩm này.

Đó cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy "xử lý chất thải" sang "quản trị tài nguyên" – xu hướng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi trong quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Nhưng để quản trị được dòng tài nguyên này, điều kiện tiên quyết là phải biết chính xác chất thải phát sinh ở đâu, được vận chuyển như thế nào và kết thúc hành trình tại cơ sở tái chế hay bãi xử lý nào. Đây chính là lý do chuyển đổi số và quản lý bằng dữ liệu đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý chất thải xây dựng.

Chuyển đổi số - Chìa khóa minh bạch dòng chất thải xây dựng

Nếu hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết để xác lập trách nhiệm của các chủ thể thì chuyển đổi số chính là công cụ giúp những quy định đó đi vào thực tiễn. Trong bối cảnh lượng CTRXD ngày càng gia tăng, việc tiếp tục quản lý bằng hồ sơ giấy, báo cáo thủ công hoặc kiểm tra theo từng đợt đã không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Muốn kiểm soát hiệu quả bã thải bê tông, cần chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang quản trị bằng dữ liệu, công nghệ và kết nối số.

Một trong những điểm yếu lớn nhất của công tác quản lý chất thải xây dựng hiện nay là thiếu dữ liệu đầy đủ và cập nhật về nguồn phát sinh cũng như hành trình của chất thải sau khi rời công trường.

Thực tế cho thấy, nhiều địa phương mới chỉ thống kê số lượng công trình được cấp phép xây dựng hoặc phá dỡ, trong khi chưa có cơ sở dữ liệu phản ánh khối lượng chất thải phát sinh, thành phần vật liệu, đơn vị vận chuyển, địa điểm tiếp nhận hay tỷ lệ được tái chế. Mỗi địa phương sử dụng một phương thức quản lý khác nhau, dẫn đến dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ và rất khó chia sẻ giữa các cơ quan quản lý.

Điều này khiến cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc trả lời những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản: Mỗi năm có bao nhiêu tấn CTRXD phát sinh? Bao nhiêu phần trăm trong số đó là bã thải bê tông? Bao nhiêu được tái chế và bao nhiêu bị chôn lấp? Những khu vực nào đang phát sinh lượng chất thải lớn nhất và cần ưu tiên quy hoạch cơ sở xử lý?

ctrxd-cdso.png

Theo số liệu được PGS.TS Văn Viết Thiên Ân, Trưởng khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đưa ra tại hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh - xu thế phát triển bền vững” do Báo Xây dựng tổ chức ngày 05/05/2026, tổng lượng chất thải xây dựng năm 2025 là gần 9,6 triệu tấn (gấp 5 lần so với năm 2010. Thành phần chủ yếu là bê tông, gạch, vữa, đất và bùn thải, chiếm tới 70-90%. Đây đều là những vật liệu có khả năng tái chế cao, có thể quay trở lại phục vụ ngành xây dựng.

Trong khi đó, đối với nhiều loại chất thải khác, đặc biệt là chất thải nguy hại, việc quản lý bằng chứng từ điện tử và cơ sở dữ liệu đã được triển khai trong nhiều năm. Điều này cho thấy, vấn đề không nằm ở công nghệ mà ở việc chưa mở rộng các công cụ quản lý hiện đại sang lĩnh vực CTRXD.

Nhiều chuyên gia đề xuất Việt Nam sớm xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về CTRXD, kết nối giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Ngay từ khi cấp phép xây dựng hoặc phá dỡ, chủ đầu tư cần khai báo khối lượng chất thải, phương án xử lý, đơn vị vận chuyển và điểm tiếp nhận; các thông tin này được cập nhật xuyên suốt quá trình thi công và xác nhận khi hoàn tất xử lý. Việc số hóa toàn bộ vòng đời chất thải sẽ giúp theo dõi dòng vật liệu theo thời gian thực, hỗ trợ quy hoạch hạ tầng xử lý, đồng thời giúp doanh nghiệp dễ dàng tra cứu cơ sở tiếp nhận hợp pháp, giảm tình trạng đổ trộm do thiếu thông tin hoặc phải vận chuyển quá xa.

Nếu cơ sở dữ liệu quốc gia là “bản đồ” của dòng chất thải thì GPS và nhật ký điện tử sẽ giúp kiểm soát toàn bộ quá trình vận chuyển. Hiện nay, việc giám sát chủ yếu dựa vào giấy tờ nên xe vận chuyển có thể thay đổi lộ trình và đổ trộm bã thải mà khó bị phát hiện. Vì vậy, nhiều ý kiến đề xuất bắt buộc phương tiện vận chuyển CTRXD gắn thiết bị định vị GPS, kết nối dữ liệu với cơ quan quản lý và cấp mã định danh điện tử cho từng chuyến xe để ghi nhận lộ trình, khối lượng và điểm tiếp nhận cuối cùng. Đồng thời, cần áp dụng nhật ký điện tử CTRXD nhằm tạo chuỗi dữ liệu liên tục từ công trường đến cơ sở xử lý, giúp truy xuất nguồn gốc và xác định trách nhiệm nhanh chóng khi xảy ra vi phạm.

Cùng với GPS, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát cũng đang trở thành xu hướng tại nhiều quốc gia.

Thay vì chỉ kiểm tra sau khi có phản ánh của người dân, các địa phương có thể lắp đặt hệ thống camera AI tại những khu vực thường xuyên xảy ra đổ trộm CTRXD như cửa ngõ đô thị, tuyến đường vận chuyển vật liệu, khu đất trống hoặc ven sông.

Hệ thống có thể tự động nhận diện biển số xe, phân tích hành vi dừng đỗ bất thường, ghi nhận thời gian và gửi cảnh báo đến cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu vi phạm. Dữ liệu từ camera sẽ được kết nối với hệ thống GPS và cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo thành mạng lưới giám sát khép kín.

Mô hình này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần giảm chi phí kiểm tra thủ công, hạn chế phụ thuộc vào lực lượng thanh tra trong bối cảnh nguồn nhân lực còn hạn chế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia quản lý tốt CTRXD đều có điểm chung là quản lý bằng dữ liệu thay vì chỉ quản lý bằng chế tài.

Tại Nhật Bản, việc phá dỡ công trình phải đi kèm kế hoạch phân loại, thu gom và tái chế vật liệu ngay từ đầu. Hàn Quốc xây dựng hệ thống quản lý điện tử đối với CTRXD và phát triển đồng bộ thị trường vật liệu tái chế. Trong khi đó, nhiều quốc gia thuộc Liên minh châu Âu áp dụng mô hình "hộ chiếu số công trình", lưu trữ toàn bộ thông tin về vật liệu sử dụng và chất thải phát sinh trong suốt vòng đời công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho tái sử dụng và tái chế sau này.

Những kinh nghiệm này cho thấy, chuyển đổi số không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn là nền tảng để phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng.

Bởi lẽ, chỉ khi biết chính xác chất thải phát sinh ở đâu, được vận chuyển như thế nào và kết thúc ở cơ sở tái chế hay bãi xử lý nào, cơ quan quản lý mới có thể kiểm soát được toàn bộ dòng chảy vật liệu và chỉ khi dòng chảy ấy được minh bạch bằng dữ liệu, mới thực sự có cơ hội trở thành nguồn tài nguyên thứ cấp thay vì tiếp tục là gánh nặng đối với môi trường.

Kinh tế tuần hoàn - Động lực hình thành ngành công nghiệp tái chế chất thải rắn xây dựng

Sau nhiều năm tập trung vào bài toán thu gom và xử lý, cách tiếp cận đối với CTRXD đang có sự thay đổi căn bản. Dưới góc nhìn của kinh tế tuần hoàn, đây lại là nguồn nguyên liệu thứ cấp có giá trị nếu được phân loại, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất.

Sự thay đổi này không chỉ xuất phát từ yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn là đòi hỏi tất yếu trong bối cảnh tài nguyên khoáng sản ngày càng suy giảm, nhu cầu vật liệu xây dựng không ngừng gia tăng và áp lực giảm phát thải khí nhà kính ngày càng lớn. Theo tinh thần của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, kinh tế tuần hoàn được xác định là một trong những định hướng quan trọng nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên, kéo dài vòng đời vật liệu, giảm phát sinh chất thải và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế.

Song song với đó, Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 cũng nhấn mạnh yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên địa chất, khoáng sản; hạn chế thất thoát, lãng phí và từng bước thay thế nguồn tài nguyên nguyên sinh bằng các nguồn vật liệu thứ cấp khi đủ điều kiện kỹ thuật.

ctrxd-tai-nguyen.png

Có thể nói, hai đạo luật đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy tái chế CTRXD và phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn còn khá lớn. Trong khi pháp luật đã mở ra định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn, thị trường vật liệu tái chế tại Việt Nam vẫn phát triển chậm, quy mô nhỏ, thiếu sức cạnh tranh và chưa tạo được động lực đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Điều đó cho thấy điểm nghẽn việc tái chế CTRXD không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở thị trường

Trên thực tế, công nghệ nghiền, sàng và tái chế bê tông đã được nhiều doanh nghiệp trong nước tiếp cận. Nhiều loại cốt liệu tái chế hoàn toàn có thể sử dụng cho san lấp, nền đường, gạch không nung hoặc một số hạng mục xây dựng sau khi đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này vẫn còn hạn chế.

Nguyên nhân không hoàn toàn xuất phát từ chi phí đầu tư thiết bị, mà chủ yếu do thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế chưa được hình thành rõ nét. Trong nhiều trường hợp, vật liệu tái chế khó cạnh tranh với vật liệu tự nhiên về giá thành hoặc chưa tạo được niềm tin đối với chủ đầu tư do thiếu hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ.

Bên cạnh đó, nhiều địa phương vẫn chưa có quy hoạch các khu xử lý và tái chế CTRXD tập trung. Doanh nghiệp muốn đầu tư nhà máy phải tự tìm quỹ đất, hoàn thiện nhiều thủ tục và đối mặt với rủi ro về nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như đầu ra của sản phẩm. Điều này khiến hoạt động tái chế chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.

Muốn phát triển ngành công nghiệp tái chế, trước hết phải tạo dựng một thị trường ổn định cho vật liệu tái chế. Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế ưu tiên sử dụng cốt liệu tái chế trong các dự án đầu tư công, công trình giao thông, san lấp mặt bằng hoặc hạ tầng kỹ thuật khi đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. Đây là giải pháp đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tạo "đầu ra" cho sản phẩm tái chế trong giai đoạn đầu phát triển thị trường.

Cùng với đó, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế từ CTRXD, tạo cơ sở pháp lý để các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn và nhà thầu mạnh dạn sử dụng trong các công trình phù hợp. Khi chất lượng được kiểm chứng và thị trường được mở rộng, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực tái chế.

Bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý, nhiều chuyên gia cho rằng cần có các chính sách kinh tế đủ mạnh để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực tái chế CTRXD.

Một trong những giải pháp được đề xuất là nghiên cứu áp dụng các cơ chế ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, tín dụng xanh hoặc hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đầu tư nhà máy tái chế chất thải xây dựng, đặc biệt tại những địa phương có tốc độ đô thị hóa cao.

Song song với đó, cần xây dựng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng thực hiện phân loại CTRXD ngay tại công trường, tăng tỷ lệ tái sử dụng vật liệu trong nội bộ dự án và giảm lượng chất thải phải vận chuyển đến bãi xử lý.

Ở chiều ngược lại, đối với các hành vi đổ trộm CTRXD hoặc không thực hiện đúng phương án xử lý đã cam kết, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thanh tra trong giai đoạn tới không nên chỉ dựa vào kiểm tra thủ công mà cần kết hợp dữ liệu từ GPS, nhật ký điện tử, camera AI và cơ sở dữ liệu quốc gia để phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm.

Đây cũng là xu hướng quản lý hiện đại mà nhiều quốc gia đang áp dụng, chuyển từ phương thức "xử lý sau vi phạm" sang "giám sát liên tục và phòng ngừa rủi ro".

Nhìn ở góc độ dài hạn, quản lý hiệu quả CTRXD không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội hình thành một ngành công nghiệp tái chế vật liệu xây dựng với quy mô lớn.

ctrxd-tuan-hoan.png

Khi hệ thống chính sách được hoàn thiện, dữ liệu được số hóa, hoạt động vận chuyển được giám sát minh bạch và thị trường vật liệu tái chế được hình thành, CTRXD sẽ không còn là "điểm cuối" của một công trình mà trở thành "điểm khởi đầu" của một chu trình sản xuất mới.

Đó cũng là bản chất của kinh tế tuần hoàn – nơi giá trị của tài nguyên được kéo dài tối đa, chất thải của quá trình này trở thành nguyên liệu cho quá trình khác và áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên từng bước được giảm xuống.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, việc quản lý CTRXD theo mô hình kinh tế tuần hoàn không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Điều cần làm lúc này không chỉ là bổ sung thêm quy định hay tăng mức xử phạt, mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống quản lý khép kín, trong đó mọi dòng chất thải đều được nhận diện, theo dõi và kiểm soát từ nơi phát sinh đến nơi tái chế hoặc xử lý cuối cùng. Khi dòng chảy ấy được minh bạch bằng dữ liệu, được điều chỉnh bằng chính sách phù hợp và được dẫn dắt bởi tư duy kinh tế tuần hoàn, CTRXD sẽ không còn là gánh nặng môi trường mà sẽ trở thành nguồn tài nguyên thứ cấp, góp phần bảo vệ tài nguyên khoáng sản, giảm phát thải và tạo động lực cho một ngành công nghiệp tái chế vật liệu xây dựng phát triển trong tương lai.

Mai Hạ