Bài 1: An ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên trước những thách thức mới
Nước và Đời sống - Ngày đăng : 11:03, 08/09/2026
Bài 1: An ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên trước những thách thức mới
Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước một nghịch lý ngày càng rõ nét: Nơi có nhiều lưu vực sông lớn, hệ thống hồ chứa, thủy điện và tiềm năng nước dưới đất nhưng vẫn thường xuyên đối mặt với hạn hán, thiếu nước trong mùa khô; trong khi mùa mưa lại phải ứng phó với mưa cực đoan, lũ quét, sạt lở và ngập lụt.

LTS: Miền Trung – Tây Nguyên đang chịu sức ép ngày càng lớn đối với an ninh nguồn nước khi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan làm gia tăng tình trạng hạn hán, thiếu nước, lũ lụt, sạt lở và xâm nhập mặn. Trong khi đó, nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế ngày càng tăng, đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước.
Chuyên đề “An ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan” của Tạp chí Môi trường và Cuộc sống tập trung nhận diện những nguy cơ, thách thức đang đặt ra đối với nguồn nước của khu vực; phân tích tác động của biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan đến khả năng bảo đảm nguồn nước; đồng thời ghi nhận thực tiễn quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước tại một số địa phương.
Qua đó, chuyên đề hướng tới những góc nhìn đa chiều từ cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng, góp phần làm rõ các giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên trong dài hạn, hướng tới thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước một nghịch lý ngày càng rõ nét: Nơi có nhiều lưu vực sông lớn, hệ thống hồ chứa, thủy điện và tiềm năng nước dưới đất nhưng vẫn thường xuyên đối mặt với hạn hán, thiếu nước trong mùa khô; trong khi mùa mưa lại phải ứng phó với mưa cực đoan, lũ quét, sạt lở và ngập lụt. Biến đổi khí hậu đang làm các hiện tượng thời tiết trở nên khó dự báo hơn, trong khi nhu cầu nước cho nông nghiệp, đô thị, công nghiệp và năng lượng tiếp tục gia tăng. Khi El Nino 2026 - 2027 được dự báo duy trì ở trạng thái mạnh đến rất mạnh, câu chuyện an ninh nguồn nước của miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức mới, đòi hỏi một phương thức quản trị chủ động hơn, dựa trên khoa học, dữ liệu và liên kết vùng.
Nghịch lý nguồn nước: Nhiều nước nhưng vẫn thiếu nước
Nhìn trên bản đồ tài nguyên nước, miền Trung – Tây Nguyên không phải là khu vực nghèo về nước. Đây là nơi hội tụ nhiều lưu vực sông quan trọng như Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, sông Ba, Sê San, Srêpốk và Đồng Nai; đồng thời là vùng sinh thủy quan trọng với hệ thống rừng đầu nguồn, các tầng chứa nước bazan và nhiều hồ chứa thủy lợi, thủy điện lớn.

Theo báo cáo dẫn đề “Tài nguyên nước miền Trung – Tây Nguyên: Thực trạng, thách thức và định hướng phát triển bền vững” của GS.TS Phạm Quý Nhân - Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội tại Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên” diễn ra vào ngày 23/5/2026 tại Buôn Ma Thuột do Hội Nước và Môi trường Việt Nam phối hợp với Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia và UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức, một số lưu vực trong khu vực có tổng lượng dòng chảy trung bình năm rất lớn. Lưu vực sông Đồng Nai khoảng 39,98 tỷ m³/năm, Vu Gia – Thu Bồn khoảng 19,35 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 18,4 tỷ m³/năm và Sê San khoảng 12,84 tỷ m³/năm. Tây Nguyên cũng có tiềm năng nước dưới đất đáng kể, nhất là các tầng chứa nước bazan.
Thế nhưng, những con số về tổng lượng nước không phản ánh đầy đủ mức độ an toàn của nguồn nước.
Nghịch lý lớn nhất của khu vực là nước phân bố không đều theo cả không gian và thời gian. Khoảng 60 - 80% lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô có thể kéo dài 6 - 8 tháng. Nam Trung Bộ lại là một trong những khu vực khô hạn nhất cả nước. Vì vậy, có thời điểm lượng nước đổ về quá lớn gây lũ lụt, nhưng chỉ vài tháng sau, nhiều địa phương lại phải đối mặt với tình trạng hồ chứa xuống thấp, dòng chảy suy giảm và thiếu nước cho sản xuất, sinh hoạt. Đây chính là điểm cần nhìn nhận lại khi nói về “an ninh nguồn nước”.

An ninh nguồn nước không đơn giản là tổng lượng nước mà một vùng lãnh thổ có được. Đó còn là khả năng bảo đảm nguồn nước đúng nơi, đúng thời điểm, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng và có khả năng duy trì lâu dài cho các nhu cầu thiết yếu của con người, sản xuất và hệ sinh thái.
Theo GS.TS Phạm Quý Nhân, miền Trung – Tây Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước quốc gia, nhưng cũng đang chịu sức ép kép từ biến đổi khí hậu và quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp, công nghiệp, đô thị, du lịch và năng lượng ngày càng tăng, trong khi nguồn nước lại có tính biến động cao.
Nhìn từ góc độ khoa học tài nguyên nước, GS.TS Phạm Quý Nhân cho rằng thách thức lớn nhất đối với an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên hiện nay không đơn thuần là thiếu nước, mà là sự phân bố nguồn nước không đồng đều theo không gian và thời gian, trong khi khả năng tích trữ, điều tiết và phân phối còn hạn chế.

Miền Trung – Tây Nguyên có nhiều lưu vực sông lớn như Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, sông Ba, Sê San, Srêpốk và Đồng Nai. Một số lưu vực có lượng mưa, dòng chảy khá lớn, nhưng khoảng 60 - 80% dòng chảy tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài 6 - 8 tháng. Vì vậy, khu vực có thể vừa xảy ra lũ lớn trong mùa mưa, vừa thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô.
Tây Nguyên còn có nguồn nước dưới đất đáng kể, đặc biệt trong các tầng chứa nước bazan. Tuy nhiên, việc khai thác phục vụ cà phê, hồ tiêu và cây công nghiệp trong thời gian dài đã gây áp lực, làm suy giảm mực nước tại một số khu vực.
Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, trong khi nguồn nước phải đáp ứng đồng thời nhiều mục tiêu như cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và duy trì hệ sinh thái. Nếu việc vận hành hồ chứa, khai thác nước dưới đất và phân bổ nguồn nước giữa các ngành, các địa phương chưa hợp lý thì thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra ngay cả ở những nơi có tổng lượng nước tương đối lớn.
Một thách thức khác là chất lượng nguồn nước. Ô nhiễm từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, cùng với xâm nhập mặn ở khu vực ven biển, đang làm thu hẹp lượng nước thực tế có thể khai thác và sử dụng an toàn.

Tây Nguyên là vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, trong đó cà phê, hồ tiêu, cao su và cây ăn quả là những ngành sản xuất sử dụng lượng nước đáng kể. Theo số liệu được trình bày tại Hội thảo, Tây Nguyên hiện có khoảng 640.000 - 700.000ha cà phê và hơn 80.000ha hồ tiêu. Riêng cà phê cần khoảng 600 - 800 m³ nước/ha/lần tưới, thường phải tưới 3 - 5 lần trong mùa khô. Tổng nhu cầu nước tưới cho khoảng 700.000ha cà phê có thể lên tới gần 2 tỷ m³ mỗi mùa khô.
Trong khi đó, nguồn nước mặt vào mùa khô suy giảm, nước dưới đất chịu áp lực khai thác và lượng mưa không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến nước dưới đất trở thành “nguồn cứu cánh” của nhiều vùng sản xuất. Nhưng nếu khai thác vượt quá khả năng phục hồi tự nhiên, chính nguồn nước này lại trở thành một phần của vấn đề.
Tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng, tình trạng suy giảm mực nước dưới đất đã được cảnh báo. Việc khai thác nước phục vụ tưới cây công nghiệp trong thời gian dài, kết hợp với sự suy giảm bổ cập trong mùa khô, có thể làm gia tăng nguy cơ suy kiệt nguồn nước ngầm. Cùng với đó, chất lượng nguồn nước cũng chịu sức ép từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, chăn nuôi và việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.
Bài toán vì thế không chỉ là “có thêm nước”, mà phải là sử dụng nước thế nào để không làm suy giảm nguồn nước của tương lai.
Biến đổi khí hậu làm bài toán nước ngày càng khó lường
Nếu sự phân bố không đều vốn là đặc điểm tự nhiên của miền Trung – Tây Nguyên thì biến đổi khí hậu đang khiến đặc điểm đó trở nên phức tạp hơn.
Những năm gần đây, khu vực liên tục trải qua những trạng thái thời tiết cực đoan. Có những mùa khô kéo dài, nắng nóng gay gắt, lượng mưa thiếu hụt khiến nguồn nước suy giảm mạnh. Nhưng trong mùa mưa, các trận mưa lớn với cường suất cao trong thời gian ngắn lại gây lũ, ngập, lũ quét và sạt lở đất.

Hạn hán và lũ lụt vì thế không còn là hai câu chuyện tách biệt. Chúng là hai mặt của một hệ thống nguồn nước đang ngày càng biến động.
Thực tế được nêu tại Hội thảo cho thấy giai đoạn 2015 - 2016, Ninh Thuận (cũ) và Bình Thuận (cũ) từng trải qua hạn hán nghiêm trọng, nhiều hồ chứa xuống dưới mực nước chết, hàng chục nghìn hecta cây trồng thiếu nước. Ở chiều ngược lại, miền Trung trải qua đợt lũ lớn năm 2020 và Đà Nẵng hứng chịu một đợt mưa lịch sử vào tháng 10/2022 với lượng mưa trên 500 mm trong 24 giờ, gây ngập lụt trên diện rộng.
Điểm đáng lưu ý là các hiện tượng cực đoan đang đặt ra thách thức không chỉ về quy mô mà còn về tốc độ diễn biến.
Một trận mưa lớn kéo dài nhiều ngày cho phép chính quyền, người dân và các lực lượng chức năng có thêm thời gian chuẩn bị. Nhưng một trận mưa cực đoan tập trung trong vài giờ lại hoàn toàn khác. Khi lượng nước đổ xuống lưu vực quá nhanh, khả năng tập trung dòng chảy tăng mạnh, kéo theo nguy cơ lũ quét, sạt lở và ngập úng.
Đối với miền Trung – Tây Nguyên, địa hình dốc, nhiều khu vực miền núi, lưu vực sông có độ dốc lớn càng khiến rủi ro này trở nên đáng quan tâm.
Cơ quan khí tượng thủy văn cũng cảnh báo trong bối cảnh thời tiết cực đoan, mưa lớn cục bộ với cường độ lớn trong thời gian ngắn có thể gây lũ quét, sạt lở đất và ngập úng, đặc biệt tại các khu vực miền núi, địa hình dốc.
Trong khi đó, năm 2026 lại xuất hiện thêm một yếu tố cần đặc biệt lưu ý. Theo Cục Khí tượng Thủy văn, El Nino 2026 - 2027 đã chính thức hình thành và được dự báo tiếp tục duy trì trong nửa cuối năm 2026, có khả năng kéo dài sang năm 2027. Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ nằm trong nhóm khu vực cần đặc biệt theo dõi nguy cơ hạn hán, thiếu nước và các tác động liên quan đến nguồn nước.
Đáng chú ý, cập nhật ngày 19/8/2026 của Cục Khí tượng Thủy văn cho thấy El Niño được dự báo duy trì trạng thái mạnh đến rất mạnh từ tháng 9/2026 đến đầu năm 2027. Trong giai đoạn tháng 9 - 11/2026, xác suất duy trì trạng thái mạnh đến rất mạnh được dự báo ở mức rất cao; nền nhiệt nhiều khu vực, trong đó có Cao nguyên Trung Bộ, có khả năng cao hơn trung bình nhiều năm.
Trong điều kiện khí hậu biến đổi, dự báo phải đi trước một bước. Nếu dự báo cho thấy nguy cơ thiếu nước tăng cao trong mùa khô, kế hoạch sản xuất phải được điều chỉnh từ trước. Nếu dự báo xuất hiện những đợt mưa cực đoan, hồ chứa, công trình thủy lợi và các khu vực có nguy cơ lũ quét, sạt lở phải được đặt trong trạng thái sẵn sàng. Nói cách khác, từ “ứng phó” phải chuyển sang “quản trị rủi ro”.
Thực tế tại Đắk Lắk cho thấy quy mô của thách thức này không nhỏ. Theo thông tin tại Hội thảo, riêng mùa khô năm 2024, hơn 27.000ha cây trồng trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng do hạn và thiếu nước, thiệt hại ước tính hơn 155 tỷ đồng. Tỉnh hiện có 1.208 công trình thủy lợi, trong đó 676 đập và hồ chứa với tổng dung tích khoảng 800 triệu m³. Tuy nhiên, nhiều công trình đã xuống cấp, bồi lắng và không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu thiết kế.
Điều này cho thấy xây dựng công trình là cần thiết nhưng chưa đủ. Nguồn nước phải được tích trữ, nhưng tích trữ ở đâu, dung tích bao nhiêu, vận hành như thế nào và phân bổ cho đối tượng nào lại là câu chuyện của quản trị.

Theo ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, tài nguyên nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, an ninh lương thực, năng lượng và phát triển bền vững. Địa phương có nhiều hệ thống sông lớn và hơn 1.200 công trình thủy lợi, nhưng vẫn đối mặt với tình trạng nguồn nước phân bố không đều theo mùa, suy giảm nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.
Lãnh đạo tỉnh cho biết định hướng sắp tới là số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động, phát triển các mô hình đầu tư đa mục tiêu gắn với năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ hành lang nguồn nước.
Từ góc độ địa phương, câu chuyện nguồn nước còn gắn chặt với mô hình phát triển.
Đắk Lắk đang có khoảng 791.000ha đất sản xuất nông nghiệp, phục vụ khoảng 2,3 triệu người và nhiều ngành kinh tế khác nhau. Nguồn nước phải đồng thời phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp, thủy điện, du lịch và dịch vụ. Khi nhu cầu của các ngành cùng tăng lên, nguy cơ cạnh tranh nguồn nước cũng tăng theo. Vì vậy, bài toán không thể giải quyết bằng cách đơn giản là “tăng khai thác”.
Tăng khai thác nước mặt quá mức có thể làm suy giảm dòng chảy môi trường. Tăng khai thác nước dưới đất có thể dẫn tới suy giảm mực nước ngầm. Mở rộng sản xuất nông nghiệp mà không tính toán khả năng cung cấp nước lâu dài có thể làm gia tăng rủi ro cho chính ngành nông nghiệp.
Một mô hình phát triển bền vững phải bắt đầu từ việc xác định khả năng chịu tải của nguồn nước.
Đây cũng là lý do các chuyên gia tại Hội thảo đề xuất cần kiểm kê nguồn nước, đánh giá nhu cầu sử dụng, xây dựng kịch bản nguồn nước theo từng lưu vực và từng địa phương; đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, kiểm soát khai thác nước dưới đất và thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Từ quản lý nguồn nước sang quản trị an ninh nguồn nước
Một trong những thay đổi quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển từ tư duy quản lý tài nguyên nước theo từng ngành, từng địa phương sang quản trị tổng hợp theo lưu vực và theo không gian phát triển.

Nước không chảy theo địa giới hành chính. Một con sông có thể bắt đầu từ vùng núi, đi qua nhiều địa phương, cung cấp nước cho sản xuất, đô thị, công nghiệp rồi đổ ra biển. Một hoạt động khai thác hoặc sử dụng nước ở thượng nguồn có thể tác động trực tiếp đến khu vực hạ du.
Vì thế, nếu mỗi địa phương chỉ nhìn vào nhu cầu của mình, bài toán an ninh nguồn nước sẽ rất khó được giải quyết một cách căn cơ.
Tại Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên” vấn đề này được đặt trong yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, tăng cường bảo vệ rừng đầu nguồn, nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, kiểm soát khai thác nước dưới đất và tăng cường dự báo hạn hán, lũ lụt. Đối với các lưu vực Sê San và Srêpốk, yêu cầu hợp tác quản lý nguồn nước xuyên biên giới cũng được đặt ra.
Trong bối cảnh sắp xếp lại không gian phát triển và đơn vị hành chính, yêu cầu liên kết này càng trở nên rõ ràng.
Không gian phát triển mới của Đắk Lắk kéo dài từ khu vực cao nguyên đến ven biển, tạo nên một cấu trúc tài nguyên nước đa dạng, đồng thời liên kết nhiều hệ sinh thái và hoạt động kinh tế. Điều đó mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp, thủy sản, năng lượng tái tạo, du lịch và dịch vụ, nhưng cũng đòi hỏi cách tiếp cận tích hợp hơn trong quản lý nước.
Từ góc nhìn chính sách, Đại biểu Quốc hội Ngô Sỹ Cường, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nhấn mạnh rằng an ninh nguồn nước không còn là vấn đề kỹ thuật đơn thuần mà đã trở thành yêu cầu chiến lược đối với phát triển quốc gia. Đối với miền Trung – Tây Nguyên, nơi đồng thời chịu hạn hán, thiếu nước, lũ cực đoan và biến động dòng chảy, cần chuyển mạnh từ tư duy khai thác sang quản trị tổng hợp, chủ động và đa mục tiêu.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã thể hiện rõ định hướng chuyển từ tư duy “khai thác” sang “quản trị tổng hợp tài nguyên nước”, từ phát triển đơn ngành sang phát triển tích hợp, đa ngành, đa mục tiêu và đa giá trị. Đây là nền tảng quan trọng để nhìn nhận lại bài toán nước ở miền Trung – Tây Nguyên.
Nhưng để chính sách đi vào thực tế, cần một hạ tầng quản trị tương xứng. Đó trước hết là dữ liệu.
Trong điều kiện thời tiết thay đổi nhanh, dữ liệu nguồn nước phải được cập nhật thường xuyên, kết nối giữa các ngành và các địa phương. Mực nước hồ chứa, dòng chảy sông, lượng mưa, nước dưới đất, nhu cầu sử dụng nước, chất lượng nước và dự báo khí hậu cần được đặt trên cùng một hệ thống thông tin để cơ quan quản lý có thể đưa ra quyết định kịp thời.
Chuyển đổi số vì thế không chỉ là đưa dữ liệu lên môi trường trực tuyến. Mục tiêu quan trọng hơn là hình thành hệ thống điều hành nguồn nước dựa trên dữ liệu.
Tại Đắk Lắk, chính quyền địa phương đã xác định số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động và hướng tới các mô hình đầu tư đa mục tiêu gắn với năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ hành lang nguồn nước là một trong những hướng đi quan trọng.
Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích lượng dữ liệu khổng lồ từ mạng lưới quan trắc, nhận diện xu thế bất thường, dự báo nguy cơ thiếu nước hoặc hỗ trợ cảnh báo mưa lớn, lũ quét, sạt lở.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ. Điều quyết định vẫn là chất lượng dữ liệu, năng lực dự báo, cơ chế chia sẻ thông tin và trách nhiệm ra quyết định của cơ quan quản lý.

Theo TS Tống Ngọc Thanh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nước và Môi trường Việt Nam, cần có sự thay đổi căn bản trong tư duy quản lý tài nguyên nước, từ “ứng phó hạn hán” sang “quản trị rủi ro nguồn nước”. Nếu chỉ chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới ứng phó thì sẽ khó đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng.
Đặc biệt tại miền Trung – Tây Nguyên, nguồn nước có sự phân hóa lớn theo không gian và thời gian. Mùa mưa có thể xảy ra lũ lớn, trong khi mùa khô lại thiếu nước nghiêm trọng. Vì vậy, theo ông, cần chủ động nhận diện nguy cơ, dự báo sớm khả năng thiếu nước, xác định mức độ ảnh hưởng và chuẩn bị các phương án điều tiết, phân bổ nguồn nước ngay từ trước khi rủi ro xảy ra.
“Quản trị nguồn nước không chỉ là quản lý lượng nước đang có, mà còn phải nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi của cả hệ thống. Quan trọng là khi xảy ra một tình huống cực đoan, chúng ta có thể dự báo sớm, thích ứng, điều tiết và phục hồi nhanh, không để một rủi ro về khí hậu trở thành khủng hoảng về nước”, TS Tống Ngọc Thanh chia sẻ.
Đối với yêu cầu xây dựng hệ thống điều hành nguồn nước theo thời gian thực, ông cho rằng Việt Nam hiện không thiếu hoàn toàn về dữ liệu hay công nghệ. Điểm nghẽn lớn hơn nằm ở khả năng kết nối, chia sẻ và biến dữ liệu thành thông tin phục vụ quyết định.
Theo đó, dữ liệu về khí tượng, thủy văn, tài nguyên nước, thủy lợi, hồ chứa, cấp nước và môi trường cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất, hình thành chuỗi từ quan trắc, truyền dữ liệu, tích hợp, dự báo, cảnh báo đến hỗ trợ ra quyết định. Cùng với đó là cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các ngành, các địa phương và các chủ thể sử dụng nước.
“Điều quan trọng không phải là xây thêm một phần mềm hay một cơ sở dữ liệu, mà phải hình thành được năng lực điều hành nguồn nước chủ động. Người ra quyết định phải có thể nhìn thấy nguồn nước hiện có, nhu cầu sử dụng, khu vực đang có rủi ro và các phương án điều hành trong những ngày, những tháng tới”, ông nhấn mạnh.
Theo TS Tống Ngọc Thanh, đó chính là bước chuyển từ quản lý số liệu về nước sang quản trị nguồn nước dựa trên dữ liệu, qua đó nâng cao khả năng dự báo, thích ứng và phục hồi trước những biến động ngày càng khó lường của khí hậu.
Một vấn đề khác không thể bỏ qua là bảo vệ nguồn nước từ nơi bắt đầu của dòng chảy.
Rừng đầu nguồn, hệ sinh thái tự nhiên, đất ngập nước và các vùng sinh thủy chính là những “công trình hạ tầng tự nhiên” có vai trò giữ nước, điều tiết dòng chảy, giảm lũ và bổ cập nước dưới đất.
Nếu chỉ chú trọng xây dựng hồ chứa, đập và đường ống mà không bảo vệ hệ sinh thái đầu nguồn, khả năng chống chịu của toàn bộ lưu vực sẽ bị suy giảm.

Tương tự, sử dụng nước tiết kiệm trong nông nghiệp phải trở thành một phần của chiến lược an ninh nguồn nước. Với Tây Nguyên, những mô hình tưới tiết kiệm, tưới chính xác, thu gom và sử dụng nước mưa, tái sử dụng nước, lựa chọn giống cây và cơ cấu sản xuất phù hợp với điều kiện nguồn nước cần được thúc đẩy mạnh hơn.
Đây không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà còn là câu chuyện thay đổi tư duy phát triển.
Một nền nông nghiệp xanh không thể chỉ giảm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay phát thải carbon. Nền nông nghiệp đó phải sử dụng nước hiệu quả hơn và không làm suy giảm nguồn nước.
Tương tự, một đô thị xanh không thể chỉ có nhiều cây xanh mà phải bảo đảm nguồn nước sạch, giảm thất thoát, tăng tái sử dụng và kiểm soát nước thải.
Một nền kinh tế xanh cũng không thể tách khỏi an ninh nguồn nước. Bởi nước là nền tảng của gần như mọi hoạt động phát triển.
Nhìn từ miền Trung – Tây Nguyên, yêu cầu cấp thiết hiện nay là xây dựng một phương thức quản trị có khả năng nhìn thấy rủi ro trước khi rủi ro trở thành khủng hoảng.
Không chờ đến khi hồ chứa cạn mới tìm nước.
Không chờ đến khi cây trồng chết mới chống hạn.
Không chờ đến khi lũ quét xảy ra mới cảnh báo.
Không chờ đến khi nước ngầm suy kiệt mới kiểm soát khai thác.
Và cũng không thể chờ đến khi một địa phương thiếu nước mới đặt câu hỏi về liên kết vùng.
An ninh nguồn nước phải được xây dựng từ những quyết định được đưa ra sớm hơn, trên cơ sở dữ liệu tốt hơn và sự phối hợp chặt chẽ hơn.
Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước một giai đoạn mới của biến đổi khí hậu. Một bên là nguy cơ hạn hán, thiếu nước và suy giảm nguồn nước trong mùa khô; bên kia là mưa cực đoan, lũ quét, sạt lở trong mùa mưa. Ở giữa hai thái cực đó là nhu cầu nước ngày càng lớn của gần như toàn bộ nền kinh tế.
Đó là một bài toán không thể giải bằng một ngành, một công trình hay một nhiệm kỳ.
Cần một chiến lược quản trị nguồn nước theo lưu vực, liên vùng, liên ngành; cần dữ liệu và công nghệ; cần đầu tư hạ tầng xanh và hạ tầng thủy lợi; cần bảo vệ rừng đầu nguồn và nước dưới đất; cần thay đổi mô hình sử dụng nước trong nông nghiệp; đồng thời cần một cơ chế đủ mạnh để các địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm đối với một nguồn tài nguyên không thuộc riêng bất kỳ địa giới hành chính nào.
Như thông điệp được đặt ra tại Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên”, tài nguyên nước không nên chỉ được nhìn nhận là một nguồn tài nguyên để khai thác, mà phải trở thành nguồn lực phát triển chiến lược, kết nối kinh tế, xã hội, môi trường và sinh kế cộng đồng.
Trong bối cảnh El Niño 2026 - 2027 tiếp tục được dự báo diễn biến mạnh, câu hỏi về an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên vì thế không còn là câu chuyện của tương lai. Nó đang là bài toán cần được giải ngay từ hôm nay.
THỰC HIỆN: HÀ ANH
.jpg)