Hội thảo – Tọa đàm: Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên
Ngày 23/5/2026, tại Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Hội Nước và Môi trường Việt Nam phối hợp với Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia và UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên”. Hội thảo là diễn đàn kết nối các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp nhằm tìm kiếm giải pháp quản lý hiệu quả tài nguyên nước, thúc đẩy phát triển xanh và bền vững cho khu vực.
Tham dự Hội thảo, về phía Ủy Ban Khoa học công nghệ và Môi trường Quốc hội có ông Ngô Sỹ Cường - Ủy viên chuyên trách Ủy Ban Khoa học công nghệ và Môi trường Quốc hội.
Về phía UBND tỉnh Đắk Lắk có ông Nguyễn Thiên Văn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Nguyễn An Phú - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh.
Về phía Hội Nước và Môi trường Việt Nam có ông Chu Phạm Ngọc Hiển – Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; ông Tống Ngọc Thanh – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nước và Môi trường Việt Nam, nguyên Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia; bà Phạm Thị Xuân – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nước và Môi trường Việt Nam; ông Nguyễn Văn Toàn – Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Môi trường và Cuộc sống; GS. Phạm Quý Nhân - Phó Chủ tịch Hội; ông Nguyễn Hoài Dương – Ủy viên Ban Thường vụ Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Trưởng Văn phòng đại diện miền Trung – Tây Nguyên.
Về phía lãnh đạo các địa phương có ông Lê Trọng Yên - Uỷ viên Ban thường vụ, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng.

Về phía Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia (NAWAPI) có ông La Đức Dũng – Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia; ông Triệu Đức Huy – Lãnh đạo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia; ông Nguyễn Văn Mạnh – Trưởng ban Hợp tác Quốc tế NAWAPI.
Về phía Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung có ông Nguyễn Quang Huy – Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung; ông Vũ Mạnh Hải – Phó Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Trung, cùng đại diện các sở, ngành, doanh nghiệp, đối tác, chuyên gia và các cơ quan thông tấn báo chí trung ương, địa phương.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển - Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam nhấn mạnh tài nguyên nước là nguồn lực thiết yếu của sự sống, giữ vai trò nền tảng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh môi trường và an ninh quốc gia.

Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Đảng và Nhà nước luôn xác định tài nguyên nước có vai trò chiến lược trong phát triển bền vững đất nước. Luật Tài nguyên nước năm 2023 cùng nhiều chủ trương, chính sách lớn đã thể hiện rõ định hướng chuyển từ tư duy “khai thác” sang “quản trị tổng hợp tài nguyên nước”, từ phát triển đơn ngành sang phát triển tích hợp đa ngành, đa mục tiêu và đa giá trị.
Đề cập đến khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam cho rằng đây là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, sinh thái, quốc phòng – an ninh và phát triển liên vùng; đồng thời sở hữu tiềm năng lớn về nước mặt, nước dưới đất, thủy điện và các hệ sinh thái đặc thù. Tuy nhiên, khu vực này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu cực đoan, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.
Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển trong bối cảnh phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số, tài nguyên nước cần được nhìn nhận không chỉ là nguồn tài nguyên khai thác đơn thuần mà phải trở thành nguồn lực phát triển chiến lược, kết nối giữa kinh tế, xã hội, môi trường và sinh kế cộng đồng. Theo đó, muốn phát triển bền vững miền Trung – Tây Nguyên phải chủ động được nguồn nước; muốn thúc đẩy chuyển đổi xanh phải gắn nước với năng lượng, môi trường và đổi mới công nghệ.
Thông qua Hội thảo, Hội Nước và Môi trường Việt Nam mong muốn tạo diễn đàn để các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương cùng trao đổi, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước; đồng thời thúc đẩy kết nối đầu tư, hình thành các chương trình hợp tác và dự án ưu tiên phù hợp với điều kiện thực tiễn của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
Trong thời gian tới, Hội Nước và Môi trường Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa quản lý, khoa học, doanh nghiệp và địa phương nhằm thúc đẩy các sáng kiến, chương trình hợp tác và mô hình phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian tới.

Phát biểu chào mừng, ông Nguyễn Thiên Văn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk khẳng định tài nguyên nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, an ninh lương thực, năng lượng và phát triển bền vững, nhất là đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên thường xuyên chịu tác động của hạn hán và biến đổi khí hậu.
Theo lãnh đạo tỉnh, Đắk Lắk hiện có nhiều hệ thống sông lớn cùng hơn 1.200 công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Tuy nhiên, địa phương cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như nguồn nước phân bố không đều theo mùa, suy giảm nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.
Trong thời gian tới, tỉnh Đắk Lắk sẽ tập trung đổi mới công tác quản lý tài nguyên nước theo hướng hiện đại, bền vững; đẩy mạnh số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động; thúc đẩy các mô hình đầu tư đa mục tiêu gắn với năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ nghiêm ngặt hành lang nguồn nước.
Lãnh đạo UBND tỉnh Đắk Lắk kỳ vọng Hội thảo sẽ là diễn đàn để các cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng trao đổi, đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn mới và tăng trưởng xanh cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên.


Nhiều thách thức đặt ra đối với tài nguyên nước miền Trung – Tây Nguyên
Trong báo cáo dẫn đề “Tài nguyên nước miền Trung – Tây Nguyên: Thực trạng, thách thức và định hướng phát triển bền vững”, GS. Phạm Quý Nhân – Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam đã chỉ ra nhiều vấn đề nổi cộm như, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và áp lực phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên nước khu vực miền Trung - Tây Nguyên đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Đây là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước quốc gia khi sở hữu nhiều lưu vực sông lớn như Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Sê San, Srêpốk và Đồng Nai; đồng thời là vùng sinh thủy trọng yếu của cả nước với hệ thống rừng đầu nguồn và các tầng chứa nước bazan giàu tiềm năng.

Theo các nghiên cứu, một số lưu vực sông trong khu vực có tổng lượng dòng chảy trung bình năm rất lớn như lưu vực sông Đồng Nai khoảng 39,98 tỷ m³/năm, Vu Gia – Thu Bồn khoảng 19,35 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 18,4 tỷ m³/năm và Sê San khoảng 12,84 tỷ m³/năm. Tây Nguyên cũng là khu vực có tiềm năng nước dưới đất đáng kể, đặc biệt trong các tầng chứa nước bazan với trữ lượng khai thác tại lưu vực Đồng Nai khoảng 3,024 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 1,37 tỷ m³/năm. Ngoài ra, khu vực còn sở hữu hệ thống hồ chứa và thủy điện lớn nhất cả nước như Ialy, Sê San 4, Buôn Tua Srah, Đại Ninh… giữ vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, phát điện, chống hạn và cấp nước cho hạ du.
Tuy nhiên, nghịch lý lớn của miền Trung - Tây Nguyên là nguồn nước phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Khoảng 60 - 80% lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài từ 6 - 8 tháng, đặc biệt tại Nam Trung Bộ – khu vực khô hạn nhất cả nước. Điều này khiến nhiều địa phương thường xuyên đối mặt với hạn hán, thiếu nước sinh hoạt, thiếu nước sản xuất và xâm nhập mặn nghiêm trọng. Đáng chú ý, tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn tại khu vực hiện chỉ khoảng 22 - 27%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là khoảng 51%.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước đang gia tăng nhanh chóng. Tây Nguyên hiện có khoảng 640 - 700 nghìn ha cà phê, hơn 80 nghìn ha hồ tiêu cùng diện tích lớn cao su và cây ăn quả. Riêng cây cà phê cần khoảng 600 - 800 m³ nước/ha/lần tưới và thường phải tưới từ 3 - 5 lần trong mùa khô, khiến tổng nhu cầu nước tưới cho khoảng 700 nghìn ha cà phê lên tới gần 2 tỷ m³ mỗi mùa khô. Cùng với sự phát triển mạnh của công nghiệp, đô thị và du lịch tại các địa phương như Đà Nẵng, Nha Trang, Quy Nhơn hay Phan Thiết, áp lực khai thác nước mặt và nước dưới đất ngày càng lớn. Theo dự báo, nhu cầu nước mùa cạn của khu vực hiện khoảng 67,7 tỷ m³/năm và có thể tăng lên khoảng 73,4 tỷ m³/năm vào năm 2050.
Bên cạnh nguy cơ thiếu nước, khu vực còn chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các đợt hạn hán lịch sử giai đoạn 2015 - 2016 tại Ninh Thuận, Bình Thuận đã khiến nhiều hồ chứa xuống dưới mực nước chết, hàng chục nghìn hecta cây trồng thiếu nước. Trong khi đó, đợt lũ lớn miền Trung năm 2020 và trận mưa lịch sử tại Đà Nẵng tháng 10/2022 với lượng mưa trên 500 mm trong 24 giờ đã gây ngập lụt nghiêm trọng trên diện rộng.
Ngoài ra, việc khai thác quá mức nước dưới đất phục vụ tưới cây công nghiệp đang khiến mực nước ngầm tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng suy giảm mạnh. Ô nhiễm nguồn nước cũng gia tăng do nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và hóa chất nông nghiệp, đặc biệt tại các đô thị ven biển và khu vực sản xuất nông nghiệp thâm canh.
Trước thực trạng trên, yêu cầu đặt ra là phải quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, tăng cường bảo vệ rừng đầu nguồn, nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, kiểm soát khai thác nước dưới đất và thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường năng lực dự báo hạn hán, lũ lụt, kiểm soát ô nhiễm nguồn nước và thúc đẩy hợp tác quản lý nguồn nước xuyên biên giới đối với các lưu vực Sê San và Srêpốk.
Thực trạng nguồn nước và những thách thức đối với nông nghiệp, nông thôn miền Trung – Tây Nguyên
Phát biểu tại Hội thảo, đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia cho biết: Hạn hán, thiếu nước hiện nay đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Dưới tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cùng nhu cầu khai thác, sử dụng nước ngày càng gia tăng, nhiều địa phương trong khu vực đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng cho sản xuất, sinh hoạt và môi trường.

Miền Trung – Tây Nguyên là khu vực có đặc điểm nguồn nước phân bố không đều, mùa mưa ngắn, địa hình dốc, khả năng tích trữ nước hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước cho nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và dân sinh ngày càng tăng. Đặc biệt, Tây Nguyên được đánh giá là khu vực có nguy cơ hạn hán cao nhất cả nước.
Thực tế cho thấy, hạn hán đã gây thiệt hại nặng nề đối với sản xuất và đời sống người dân. Riêng mùa khô năm 2024, tỉnh Đắk Lắk có hơn 27.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng do hạn và thiếu nước, thiệt hại ước tính hơn 155 tỷ đồng.
Nguyên nhân của hạn hán không chỉ đến từ yếu tố tự nhiên như suy giảm lượng mưa, El Nino, biến đổi khí hậu, mà còn xuất phát từ các hoạt động của con người như khai thác nước quá mức, ô nhiễm nguồn nước, phát triển thiếu quy hoạch và suy giảm diện tích rừng đầu nguồn.
Trước thực trạng đó, việc chủ động nguồn nước cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Theo chúng tôi, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, cần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm hạn hán, thiếu nước; tăng cường kiểm kê nguồn nước, đánh giá nhu cầu sử dụng nước và xây dựng kịch bản nguồn nước phù hợp với từng lưu vực, từng địa phương.
Thứ hai, cần ưu tiên đầu tư các công trình tích trữ và điều tiết nước như hồ chứa, đập dâng, hệ thống thủy lợi, đồng thời nâng cao hiệu quả vận hành liên hồ chứa và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Thứ ba, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước; xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, giám sát gần thời gian thực và ứng dụng các nền tảng điều hành thông minh phục vụ công tác dự báo, cảnh báo và điều phối nguồn nước.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, triển khai hiệu quả Luật Tài nguyên nước năm 2023, tăng cường phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước.
Có thể khẳng định rằng, hạn hán và thiếu nước không còn là vấn đề mang tính thời điểm mà đã trở thành thách thức lâu dài đối với miền Trung – Tây Nguyên. Vì vậy, chỉ khi có sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, địa phương và cộng đồng, cùng với các giải pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp, chúng ta mới có thể chủ động thích ứng, giảm thiểu thiệt hại và bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ phát triển bền vững trong thời gian tới.
Phát biểu tại Hội thảo, Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết, sau khi mở rộng địa giới hành chính trên cơ sở hợp nhất với tỉnh Phú Yên, Đắk Lắk đã hình thành không gian phát triển mới kéo dài từ khu vực cao nguyên Nam Trung Bộ đến ven biển Nam Trung Bộ. Sự thay đổi này tạo nên cấu trúc tài nguyên nước đa dạng, gồm hệ thống sông suối vùng cao, hồ chứa thủy lợi – thủy điện, nước dưới đất, đầm phá ven biển và các khu vực thường xuyên chịu tác động của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn và thiên tai cực đoan. Đây được xem là cơ hội lớn để phát triển nông nghiệp, thủy sản, năng lượng tái tạo, du lịch và kinh tế dịch vụ, song cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước theo hướng tích hợp, liên vùng và bền vững.

Hiện toàn tỉnh có 1.208 công trình thủy lợi, trong đó có 676 đập và hồ chứa với tổng dung tích khoảng 800 triệu m³. Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong cấp nước cho sản xuất và dân sinh, tuy nhiên nhiều công trình đã xuống cấp, bồi lắng và không còn đáp ứng được yêu cầu thiết kế. Tổng lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.800 – 2.100 mm nhưng phân bố không đều giữa các vùng và các mùa trong năm. Mùa mưa tập trung trong thời gian ngắn, trong khi mùa khô kéo dài từ 5 – 6 tháng khiến việc tích trữ, điều tiết và bảo đảm nguồn nước gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, nước dưới đất vẫn là nguồn cấp nước quan trọng đối với nhiều vùng sâu, vùng xa nhưng đang chịu áp lực khai thác ngày càng lớn.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết tài nguyên nước hiện giữ vai trò nền tảng đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nguồn nước đang phục vụ trực tiếp cho khoảng 791 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có khoảng 470 nghìn ha cây lâu năm, hơn 106 nghìn ha đất trồng lúa cùng diện tích lớn cây ăn quả và cây hàng năm khác. Đồng thời, nguồn nước cũng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho khoảng 2,3 triệu người và phục vụ phát triển công nghiệp, thủy điện, du lịch, dịch vụ.
Tuy nhiên, tài nguyên nước của tỉnh đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng hạn hán, thiếu nước diễn biến ngày càng phức tạp với diện tích bị ảnh hưởng trung bình hơn 30 nghìn ha mỗi năm. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nước tại một số lưu vực sông, hồ chứa có xu hướng suy giảm do nước thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi, hoạt động khai thác khoáng sản và việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chưa hợp lý.
Ngoài ra, nhiều khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng dân cư phân tán vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn nước sinh hoạt ổn định do địa hình chia cắt, nguồn nước phân bố không đều và chi phí đầu tư hệ thống cấp nước lớn. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp chế biến, du lịch và chuyển đổi cơ cấu sản xuất đang khiến nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh, tạo áp lực lớn lên an ninh nguồn nước của địa phương.
Trước những thách thức về tài nguyên nước, tỉnh Đắk Lắk định hướng quản lý và sử dụng nước theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; ưu tiên phát triển nông nghiệp xanh, mở rộng các mô hình tưới tiết kiệm nước, ứng dụng công nghệ số và nâng cấp hệ thống thủy lợi, hồ chứa. Đồng thời, tỉnh thúc đẩy các mô hình cấp nước nông thôn kết hợp năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước, thu gom nước mưa, bảo vệ rừng đầu nguồn và phát triển các ngành dịch vụ gắn với tài nguyên nước như du lịch sinh thái, du lịch sức khỏe, nước khoáng và nước nóng.
Thông qua hội thảo, tỉnh Đắk Lắk mong muốn tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và nhà đầu tư để từng bước hình thành các mô hình quản trị và sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, bền vững, có khả năng nhân rộng cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên trong giai đoạn tới.
Còn theo TS Triệu Đức Huy – Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại các vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang ngày càng nghiêm trọng do mùa khô kéo dài, nguồn nước phân bố không đều và hạ tầng cấp nước còn nhiều hạn chế. Việc đầu tư công trình cấp nước tại các khu vực này gặp khó khăn bởi địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí vận hành cao và thiếu nhân lực quản lý, bảo trì.

Để bảo đảm an sinh và thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cần lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp với từng địa bàn, ưu tiên tính bền vững và khả năng vận hành lâu dài. Đặc biệt, việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, giám sát và vận hành công trình sẽ giúp nâng cao hiệu quả khai thác nguồn nước.
TS Triệu Đức Huy cho rằng, nước dưới đất đóng vai trò là nguồn chiến lược đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong mùa khô bởi có khả năng khai thác ổn định nếu được khảo sát đúng cách. Nguồn nước này phù hợp với các trạm cấp nước quy mô nhỏ, cụm dân cư hoặc các điểm công cộng, đồng thời có thể kết hợp bơm điện lưới hoặc năng lượng mặt trời để giảm chi phí vận hành.
Theo kết quả Dự án điều tra, tìm kiếm nguồn nước tại các vùng núi cao và khan hiếm nước, đến nay đã có 39/40 tỉnh triển khai thực hiện; 277/286 vùng được xác định đủ điều kiện khai thác nước với tổng lưu lượng khoảng 145.888 m3/ngày đêm, có khả năng cung cấp nước cho khoảng 1,46 triệu người dân. Dự án cũng triển khai 678 công trình lỗ khoan phục vụ tìm kiếm và khai thác nước dưới đất. TS Triệu Đức Huy nhận định, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, ưu tiên đầu tư tại các khu vực thiếu nước nghiêm trọng, đồng thời phát triển các mô hình cấp nước đa nguồn kết hợp giám sát trực tuyến nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm cấp nước bền vững cho người dân vùng núi cao, vùng khan hiếm nước..
Tích hợp tài nguyên nước với năng lượng xanh và kinh tế tuần hoàn
Tại Phiên 2 của Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi những giải pháp tích hợp giữa tài nguyên nước, năng lượng tái tạo và bảo vệ môi trường nông thôn.
Tham luận “Tích hợp năng lượng mặt trời trong hệ thống cấp nước nông thôn và thủy lợi” tại Hội thảo, PGS.TS Dương Hồng Sơn - Viện Khoa học Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cho biết, Tây Nguyên đang đối mặt với nguy cơ mất an ninh nguồn nước ngày càng nghiêm trọng dưới tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm rừng đầu nguồn và nhu cầu sử dụng nước gia tăng nhanh trong sản xuất và sinh hoạt.

Theo ông Sơn, Tây Nguyên hiện thuộc phạm vi 4 tỉnh gồm Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng, có diện tích hơn 54.500km² với dân số khoảng 6,2 triệu người. Khu vực này có 4 hệ thống sông lớn gồm sông Ba, Sê San, Srêpốk và thượng nguồn sông Đồng Nai, với tổng lượng dòng chảy mặt khoảng 56 tỷ m³/năm và trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất khoảng 6,75 tỷ m³/năm. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều theo mùa, chủ yếu tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau thường xuyên xảy ra thiếu nước nghiêm trọng.
Mặc dù lượng mưa trung bình năm của khu vực dao động từ 1.600 - 2.500mm, song khả năng tích trữ và điều tiết nước còn hạn chế. Cùng với đó, tình trạng suy giảm rừng đầu nguồn, khai thác nước ngầm quá mức và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cho nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và sinh hoạt đang tạo áp lực lớn đối với tài nguyên nước Tây Nguyên.
PGS.TS Dương Hồng Sơn cho biết, trong những năm gần đây, hạn hán tại Tây Nguyên diễn biến ngày càng gay gắt, gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống người dân. Điển hình như năm 2016, tỉnh Đắk Lắk có gần 37.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn hán, thiệt hại khoảng 1.110 tỷ đồng và hơn 21.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Tại Gia Lai, hơn 11.500 ha cây trồng bị ảnh hưởng trong năm 2016 và hơn 9.000 ha vào năm 2020; nhiều hồ đập tiếp tục khô cạn trong năm 2024. Riêng tỉnh Đắk Nông, năm 2020 có khoảng 24.900 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn hán.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nếu không có giải pháp đồng bộ, đến năm 2030 khu vực Tây Nguyên có nguy cơ thiếu hụt khoảng 5,5 tỷ m³ nước mỗi năm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân mà còn tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh tài nguyên nước quốc gia.
Trước thực trạng trên, PGS.TS Dương Hồng Sơn nhấn mạnh sự cần thiết phải triển khai các giải pháp tổng thể về trữ nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển bền vững vùng Tây Nguyên. Theo đó, cần phát triển hệ thống trữ nước đa quy mô từ các hồ chứa lớn, vừa và nhỏ đến các mô hình ao hồ hộ gia đình và thu gom nước mưa; đồng thời kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và phi công trình nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước.
Các giải pháp trọng tâm được đề xuất gồm tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cấp hồ chứa, đập dâng nhằm tăng khả năng tích nước mùa mưa và điều tiết cấp nước mùa khô; đẩy mạnh nạo vét ao hồ, khơi thông kênh mương để tăng khả năng giữ nước tự nhiên và giảm thất thoát nước. Bên cạnh đó, cần mở rộng các mô hình tưới tiết kiệm như tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước của từng địa phương.
Ngoài ra, các chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của việc vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông nhằm điều phối hiệu quả nguồn nước giữa các vùng; đồng thời tăng cường bảo vệ và phục hồi rừng đầu nguồn để nâng cao khả năng giữ nước tự nhiên, tăng bổ cập nước ngầm và giảm nguy cơ hạn hán trong mùa khô. Việc kiểm soát khai thác nước dưới đất và bảo vệ chất lượng nguồn nước cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước bền vững cho khu vực Tây Nguyên trong dài hạn.
TS. Lê Thị Mai Vân - Viện Quy hoạch Thủy lợi cho rằng việc xây dựng mô hình quản trị thông minh theo hướng chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn cho hệ thống thủy lợi là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh tài nguyên nước đang chịu áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và gia tăng nhu cầu sử dụng nước.
Theo bà Vân, hệ thống thủy lợi hiện giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên hiệu quả khai thác vẫn còn nhiều hạn chế. Ngành nông nghiệp hiện sử dụng khoảng 82% tổng lượng nước, tương đương khoảng 65 tỷ m3/năm, nhưng hiệu quả sử dụng còn thấp khi diện tích tưới thực tế chỉ đạt khoảng 68% so với thiết kế. Trong khi đó, nhiều hệ thống thủy nông và lưu vực sông lớn như Bắc Hưng Hải, Tô Lịch, Nhuệ, Ngũ Huyện Khê… đang đối mặt tình trạng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng ngày càng nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số khiến nhu cầu sử dụng nước dự báo đến năm 2030 sẽ đạt khoảng 122 tỷ m3/năm, tăng khoảng 1,5 lần so với hiện nay. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tài nguyên nước Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “quá thừa, quá thiếu và quá bẩn”, phản ánh tình trạng phân bố nước không đồng đều, khai thác thiếu bền vững và suy giảm chất lượng nguồn nước.
TS. Lê Thị Mai Vân nhận định mô hình quản lý thủy lợi hiện nay vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống, tập trung vào cấp – tiêu nước, thiếu sự gắn kết giữa quản trị tài nguyên nước, môi trường, vận hành công trình và dữ liệu số. Công tác quản lý còn phân tán, tiêu hao nhiều năng lượng, chưa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh và phát thải thấp; việc tái sử dụng nước và tận dụng dòng chảy hồi quy còn hạn chế. Đồng thời, Việt Nam hiện chưa có mô hình quản trị thông minh tích hợp giữa tài nguyên nước, môi trường, công trình và nền tảng số.
Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Vân cho biết nhiều quốc gia đã chuyển sang mô hình quản trị tổng hợp theo hướng xanh – tuần hoàn – thông minh. Các công nghệ như Smart Water ứng dụng IoT, AI, cảm biến và SCADA cho phép giám sát, vận hành theo thời gian thực, giúp giảm thất thoát nước và tăng khả năng tái sử dụng nước thải. Công nghệ Digital Twin giúp mô phỏng vận hành công trình, dự báo lũ, hạn và tối ưu quản lý; trong khi hệ thống hỗ trợ ra quyết định DSS tích hợp AI và mô hình thủy văn giúp nâng cao hiệu quả điều hành hồ chứa và phân phối nước.
Nhiều quốc gia cũng thúc đẩy các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi đất ngập nước, thu gom nước mưa, trồng rừng và phát triển hồ chứa tự nhiên để cải thiện môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.
Theo TS. Lê Thị Mai Vân, xu hướng tất yếu hiện nay là chuyển từ khai thác tuyến tính sang quản trị tổng thể theo hướng xanh – tuần hoàn – thông minh. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình “Thủy lợi xanh”, trong đó hệ thống thủy lợi được xem là một hệ sinh thái tài nguyên tuần hoàn được quản trị thông minh trên nền tảng số. Mô hình này dựa trên 4 trụ cột gồm: Sử dụng hiệu quả và tái sử dụng tài nguyên nước; giảm ô nhiễm và phát thải; vận hành thông minh trên nền tảng số; khai thác đa mục tiêu gắn với bảo vệ môi trường.
Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thủy lợi, thiết lập hệ thống tuần hoàn nước, giám sát môi trường, xây dựng bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi xanh và nền tảng hỗ trợ vận hành, ra quyết định. Các chỉ số tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng nước, hiệu quả vận hành công trình, giảm ô nhiễm và phát thải, hiệu quả năng lượng cũng như mức độ ứng dụng chuyển đổi số và vận hành thông minh trong toàn hệ thống thủy lợi.
Trong tham luận về phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn, ông Nguyễn Trường Sơn - Ủy viên BCH Hội, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kiến Tạo Xanh Group nhấn mạnh định hướng đầu tư vào hai lĩnh vực chiến lược gồm công nghệ xanh và công nghệ số nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề về môi trường, năng lượng, nước sạch và quản trị tài nguyên trong giai đoạn mới.
Theo đó, doanh nghiệp tập trung phát triển các giải pháp xử lý nước sạch, nước thải phục vụ sinh hoạt và sản xuất; điện năng lượng tái tạo từ mặt trời, điện gió và điện sinh khối; mô hình nhà vệ sinh sạch – xanh – tuần hoàn; cùng các sản phẩm sinh học phục vụ chăn nuôi, xử lý chất thải và bảo vệ hệ sinh thái. Song song với đó là chiến lược số hóa dữ liệu môi trường, truy xuất nguồn gốc, kiểm đếm carbon, giao dịch tín chỉ carbon và quản trị hệ thống nhà vệ sinh xanh bằng công nghệ số.

Đối với lĩnh vực năng lượng tái tạo, ông Sơn đánh giá điện mặt trời là giải pháp phù hợp cho cả hộ gia đình, hợp tác xã và doanh nghiệp nhờ khả năng tiết giảm chi phí, thân thiện môi trường và tuổi thọ cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng lưu ý các hạn chế như phụ thuộc thời tiết, yêu cầu diện tích lắp đặt lớn và phát sinh chất thải pin sau sử dụng. Trong khi đó, điện gió được xem là giải pháp phù hợp cho vùng ven biển, hải đảo và khu vực chưa có điện lưới nhờ ưu điểm ít phát thải, độ bền cao và dễ bảo trì. Với điện sinh khối, doanh nghiệp hướng tới tận dụng rác thải, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi để sản xuất điện, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Một trong những nội dung trọng tâm được KTX Group nhấn mạnh là vấn đề nước sạch và xử lý nước thải. Theo doanh nghiệp, hiện nay thế giới vẫn còn hơn 2 tỷ người chưa được tiếp cận nước uống an toàn và khoảng 4,2 tỷ người thiếu điều kiện vệ sinh đạt chuẩn. Trước thực trạng đó, KTX Group cung cấp nhiều giải pháp xử lý nước như công nghệ truyền thống, RO, Nano Gốm, CDI và QFLOW nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng từ sinh hoạt đến sản xuất công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, các hệ thống xử lý nước thải được thiết kế theo hướng tái sử dụng 70–80% lượng nước sau xử lý để tiết kiệm tài nguyên và giảm áp lực lên môi trường.
Ở lĩnh vực quản lý chất thải, doanh nghiệp định hướng phân loại rác tại nguồn gồm rác hữu cơ, vô cơ và rác tái chế để tối ưu công tác thu gom, xử lý. Rác hữu cơ được xử lý bằng công nghệ sinh học, trong khi phụ phẩm nông nghiệp và rác thải công nghiệp có thể tái chế hoặc chuyển hóa thành nhiên liệu phục vụ điện sinh khối.
Đáng chú ý, KTX Group dành nhiều sự quan tâm cho mô hình nhà vệ sinh xanh – sạch – bền vững. Theo doanh nghiệp, nhà vệ sinh là một trong ba trụ cột của xã hội văn minh bên cạnh nước sạch và thực phẩm sạch, nhưng hiện vẫn bị xem là hạng mục “phụ”, dẫn đến tình trạng thiết kế sai, vận hành sai và lạm dụng hóa chất gây ô nhiễm môi trường. Để khắc phục, KTX Group đề xuất xây dựng bộ nhận diện và bộ tiêu chuẩn cho từng loại hình nhà vệ sinh tại trường học, bệnh viện, công sở, gia đình và khu công cộng. Các giải pháp được triển khai theo hướng sử dụng vật liệu xanh, hạn chế hóa chất, tiết kiệm điện – nước và ứng dụng công nghệ số trong quản trị vận hành.
Ông Sơn khẳng định, giải pháp xanh không còn là “lựa chọn” mà là “trách nhiệm” đối với cộng đồng và môi trường. Doanh nghiệp cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, các tổ chức, nhà khoa học và người dân trong việc phát triển hệ sinh thái xanh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững và chương trình xây dựng nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2026 - 2050.
Khai thác tiềm năng kinh tế từ tài nguyên nước
Tại Phiên 3 với chủ đề “Định hướng phát triển và xúc tiến đầu tư từ tài nguyên nước”, nhiều đại biểu cho rằng khu vực miền Trung – Tây Nguyên còn nhiều dư địa để phát triển các mô hình kinh tế xanh gắn với tài nguyên nước.
Chia sẻ tại Hội thảo, PGS. TS Nguyễn Văn Lâm - Chủ tịch Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam nhấn mạnh, miền Trung – Tây Nguyên được đánh giá là khu vực giàu tiềm năng nước khoáng, nước nóng thiên nhiên hàng đầu cả nước với nguồn tài nguyên đa dạng về thành phần hóa học, nhiệt độ và công năng sử dụng. Tuy nhiên, để biến “món quà từ lòng đất” thành động lực phát triển kinh tế xanh, du lịch nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe, cần có chiến lược khai thác tổng thể, đồng bộ và bền vững.

Đặc biệt, Việt Nam hiện đã phát hiện hơn 400 nguồn nước khoáng, nước nóng thiên nhiên. Riêng khu vực miền Trung – Tây Nguyên có 94 nguồn, chiếm khoảng 23,3% tổng số nguồn của cả nước; trong đó Tây Nguyên có 26 nguồn.
Nhiều địa phương sở hữu nguồn nước khoáng quý có giá trị cao về du lịch, nghỉ dưỡng và chữa bệnh. Quảng Ngãi hiện có 27 nguồn nước khoáng với nhiệt độ phần lớn trên 50°C; Gia Lai có nhiều nguồn nhiệt độ lên tới 70-80°C như Hội Vân, Vĩnh Thịnh; Khánh Hòa có 29 nguồn nước khoáng, nước nóng thiên nhiên, nhiều nguồn đã được đưa vào khai thác du lịch và đóng chai; Lâm Đồng nổi tiếng với nguồn Vĩnh Hảo cùng nhiều nguồn nước khoáng carbonic, silic-fluor quý hiếm.
Không chỉ phong phú về số lượng, các nguồn nước khoáng tại khu vực này còn đa dạng về thành phần hóa học, phù hợp cho nhiều mục đích như đóng chai giải khát, ngâm tắm chữa bệnh, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và khai thác địa nhiệt. Ngoài ra, miền Trung – Tây Nguyên còn có tiềm năng lớn về bùn khoáng phục vụ du lịch trị liệu và phục hồi sức khỏe cộng đồng.
Dù giàu tiềm năng, việc khai thác nước khoáng, nước nóng thiên nhiên hiện vẫn còn nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch đồng bộ. Nhiều nguồn chưa được đầu tư bài bản; công nghệ khai thác còn lạc hậu; việc quan trắc, bảo vệ nguồn nước và xử lý môi trường chưa được quan tâm đúng mức.
Do vậy, để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá này, miền Trung – Tây Nguyên cần sớm xây dựng chiến lược khai thác tổng hợp theo hướng kinh tế xanh và phát triển bền vững. Trong đó, ưu tiên mô hình kết hợp đóng chai nước khoáng với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh.
Nhiều nguồn nước khoáng như Thạch Bích, Hội Vân, Phú Sen, Đảnh Thạnh, Vĩnh Hảo hay Đắk Mol được đề xuất định hướng khai thác tổng hợp đến năm 2030 nhằm phát huy đồng thời giá trị kinh tế, du lịch và y học.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh khai thác tiềm năng địa nhiệt tại các nguồn nước nóng có nhiệt độ cao để phục vụ phát điện, sấy nông sản, nuôi trồng thủy sản và cung cấp nhiệt cho sản xuất công nghiệp. Đây được xem là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu.
PGS. TS Nguyễn Văn Lâm - Chủ tịch Hội cũng kiến nghị tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý và cộng đồng địa phương; đồng thời sớm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn về khai thác và sử dụng bùn khoáng nhằm bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này.
Tại hội thảo về tài nguyên nước khu vực miền Trung – Tây Nguyên, đại diện K-water – Tổng công ty Tài nguyên nước Hàn Quốc cho biết, doanh nghiệp đang thúc đẩy hàng loạt dự án hạ tầng nước quy mô lớn tại Việt Nam, hướng tới xây dựng mô hình quản trị ngành nước thông minh bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo K-water, trong bối cảnh nhu cầu cấp nước sạch và xử lý nước thải tại Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các khu công nghiệp và đô thị lớn, doanh nghiệp đang mở rộng đầu tư vào các dự án vận hành – bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải (O&M), đồng thời thúc đẩy chuyển giao công nghệ và ứng dụng AI trong quản lý, vận hành nhà máy nước.

Đại diện K-water cho biết, dự án O&M nước thải tại Việt Nam sẽ ưu tiên phục vụ các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nước như dệt nhuộm, gia công kim loại, chế biến thực phẩm… Đây đều là những lĩnh vực phát sinh lượng nước thải lớn, đòi hỏi công nghệ xử lý hiện đại, ổn định và tiết kiệm năng lượng.
Theo lộ trình dự kiến, tháng 6/2026, K-water sẽ hoàn tất các thủ tục nội bộ và thông qua quyết định đầu tư; đến tháng 9/2026 sẽ hoàn tất việc mua cổ phần và chính thức khởi động dự án vận hành – bảo dưỡng nước thải tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, K-water cũng đang triển khai Dự án cấp nước MHS với quy mô lớn và định hướng vận hành lâu dài đến năm 2066. Dự án bao gồm hai trạm bơm nước thô có tổng diện tích khoảng 5.000 m², một nhà máy xử lý nước công suất thiết kế 86.000 m³/ngày cùng hệ thống đường ống dài hơn 35 km.
Theo kế hoạch, dự án sẽ được triển khai theo nhiều giai đoạn nhằm từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nước mua ngoài. Cụ thể, giai đoạn 1 vào năm 2027 đạt công suất 30.000 m³/ngày; giai đoạn 2 vào năm 2031 nâng lên 60.000 m³/ngày và giai đoạn 3 hoàn thành vào năm 2035 với công suất khoảng 80.000 m³/ngày.
Đại diện K-water nhấn mạnh, điểm đáng chú ý trong chiến lược phát triển tại Việt Nam là việc thúc đẩy mô hình “nhà máy nước AI”. Theo đó, doanh nghiệp sẽ từng bước đưa công nghệ trí tuệ nhân tạo vào toàn bộ quá trình vận hành nhà máy nước nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý và giảm chi phí vận hành.
Cụ thể, giai đoạn đầu sẽ tập trung tự động hóa các công đoạn như châm hóa chất và khử trùng bằng Clo; giai đoạn tiếp theo tích hợp hệ thống quản lý năng lượng nhằm tối ưu hoạt động bơm và tiết kiệm điện năng. Ở cấp độ cao hơn, hệ thống sẽ ứng dụng công nghệ giám sát thời gian thực, phân tích dữ liệu và dự báo sự cố thông qua hệ thống CCTV thông minh và nền tảng quản lý dự báo (PMS).
Theo K-water, doanh nghiệp dự kiến triển khai thí điểm mô hình nhà máy nước ứng dụng AI tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh trước khi mở rộng ra các địa phương khác. Đại diện doanh nghiệp đánh giá, việc ứng dụng AI trong ngành nước không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, giảm chi phí vận hành và tăng khả năng thích ứng trước áp lực đô thị hóa và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng tại Việt Nam.
Kết thúc Hội thảo, Ban Tổ chức khẳng định các tham luận, kiến nghị và giải pháp được đưa ra sẽ là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách quản lý tài nguyên nước, đồng thời thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp trong triển khai các mô hình phát triển bền vững gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh tại miền Trung – Tây Nguyên.
Một số hình ảnh tại Hội thảo:














