Bài 6: Khi doanh nghiệp và cộng đồng trở thành chủ thể bảo vệ nguồn nước

An ninh nguồn nước - Ngày đăng : 15:49, 17/09/2026

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán, thiếu nước và ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng, bảo đảm an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên không thể chỉ trông chờ vào nguồn lực Nhà nước. Doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân và các tổ chức xã hội cần được nhìn nhận là những chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ, sử dụng và giám sát nguồn nước. Từ đầu tư công nghệ tiết kiệm nước, tái sử dụng nước, phát triển nông nghiệp xanh đến bảo vệ rừng đầu nguồn và giám sát cộng đồng, sự tham gia của xã hội đang mở ra một hướng tiếp cận mới cho bài toán an ninh nguồn nước của khu vực.
An ninh nguồn nước

Bài 6: Khi doanh nghiệp và cộng đồng trở thành chủ thể bảo vệ nguồn nước

Minh Anh {Ngày xuất bản}

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hạn hán, thiếu nước và ô nhiễm nguồn nước ngày càng gia tăng, bảo đảm an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên không thể chỉ trông chờ vào nguồn lực Nhà nước. Doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân và các tổ chức xã hội cần được nhìn nhận là những chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ, sử dụng và giám sát nguồn nước. Từ đầu tư công nghệ tiết kiệm nước, tái sử dụng nước, phát triển nông nghiệp xanh đến bảo vệ rừng đầu nguồn và giám sát cộng đồng, sự tham gia của xã hội đang mở ra một hướng tiếp cận mới cho bài toán an ninh nguồn nước của khu vực.

bai-6-1-.png

Tài nguyên nước không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước

Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước một nghịch lý ngày càng rõ nét. Đây là khu vực có nhiều lưu vực sông lớn, hệ thống hồ chứa, thủy điện, nguồn nước dưới đất và những vùng sinh thủy quan trọng, nhưng cũng là nơi thường xuyên chịu tác động của hạn hán, thiếu nước, lũ lụt, sạt lở và các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Theo báo cáo dẫn đề tại Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên” tổ chức tại Buôn Ma Thuột tháng 5/2026, khoảng 60 – 80% lượng dòng chảy năm của khu vực tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô có thể kéo dài từ 6 – 8 tháng. Nhu cầu nước cho nông nghiệp, công nghiệp, đô thị, du lịch và sinh hoạt tiếp tục gia tăng, tạo sức ép ngày càng lớn lên cả nguồn nước mặt và nước dưới đất.

bai-6-2-.png

Đáng chú ý, áp lực đối với nguồn nước không chỉ đến từ tự nhiên. Tình trạng khai thác nước dưới đất quá mức, suy giảm rừng đầu nguồn, ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, công nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng đang làm suy giảm khả năng phục hồi của các hệ thống nước.

Trong điều kiện đó, nếu chỉ coi bảo vệ nguồn nước là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước thì khó có thể giải quyết căn cơ những thách thức đang đặt ra.

Tại Hội thảo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, nhấn mạnh tài nguyên nước là nguồn lực thiết yếu của sự sống, giữ vai trò nền tảng đối với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh môi trường và an ninh quốc gia. Theo ông, định hướng quản lý hiện nay cần chuyển từ tư duy “khai thác” sang “quản trị tổng hợp tài nguyên nước”, từ phát triển đơn ngành sang phát triển tích hợp đa ngành, đa mục tiêu và đa giá trị.

Đây là sự thay đổi không chỉ về cách thức quản lý mà còn về cách nhìn nhận trách nhiệm đối với nguồn nước.

hien.png

Bởi nước không thuộc riêng một ngành hay một chủ thể nào. Nông dân cần nước để sản xuất; doanh nghiệp cần nước cho hoạt động kinh doanh; đô thị cần nước cho sinh hoạt; ngành năng lượng cần nước để phát điện; các hệ sinh thái cần nước để duy trì sự sống. Mỗi hoạt động sử dụng nước đều đồng thời tạo ra tác động trở lại đối với nguồn nước.

Vì vậy, bảo đảm an ninh nguồn nước phải trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội.

Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch, điều phối và giám sát. Nhà khoa học cung cấp dữ liệu, tri thức và giải pháp công nghệ. Doanh nghiệp có nguồn lực đầu tư, khả năng đổi mới công nghệ và tổ chức sản xuất. Hợp tác xã có khả năng tập hợp người sản xuất, thay đổi phương thức sử dụng nước. Người dân và cộng đồng là lực lượng trực tiếp sử dụng, bảo vệ và giám sát nguồn nước tại địa bàn.

Nếu những chủ thể này được kết nối trong một cơ chế hợp tác hiệu quả, nguồn nước sẽ không còn được nhìn nhận đơn thuần là đối tượng quản lý mà trở thành một nguồn lực chung cần được bảo vệ và sử dụng có trách nhiệm.

Tại Hội thảo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển cũng cho rằng tài nguyên nước cần được nhìn nhận không chỉ là nguồn tài nguyên khai thác đơn thuần mà phải trở thành nguồn lực phát triển chiến lược, kết nối kinh tế, xã hội, môi trường và sinh kế cộng đồng. Hội Nước và Môi trường Việt Nam mong muốn phát huy vai trò cầu nối giữa quản lý, khoa học, doanh nghiệp và địa phương, thúc đẩy các sáng kiến, chương trình hợp tác và mô hình phát triển xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Quan điểm này cho thấy một hướng đi quan trọng: Muốn bảo vệ nguồn nước bền vững phải huy động được nguồn lực của toàn xã hội, trong đó doanh nghiệp và cộng đồng không chỉ là đối tượng thực hiện chính sách mà phải trở thành chủ thể của quá trình quản trị.

Doanh nghiệp từ đối tượng sử dụng nước thành lực lượng bảo vệ nguồn nước

Trong số các chủ thể ngoài Nhà nước, doanh nghiệp có một vị trí đặc biệt.

Doanh nghiệp vừa sử dụng nước, vừa có khả năng tạo ra những thay đổi rất lớn về hiệu quả sử dụng tài nguyên. Một doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu có thể tiêu tốn lượng nước lớn, phát sinh nhiều nước thải và gây áp lực lên nguồn nước. Nhưng cũng chính doanh nghiệp đó, nếu chuyển đổi công nghệ, tuần hoàn nước, tái sử dụng nước và đầu tư xử lý nước thải, có thể giảm đáng kể lượng nước khai thác và lượng chất thải đưa ra môi trường.

Vấn đề vì thế không chỉ là doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu nước mà còn là doanh nghiệp sử dụng nước hiệu quả đến đâu và trả lại cho hệ thống nước những gì sau quá trình sản xuất.

bai-6-10-.png

Tại Hội thảo, ông Nguyễn Trường Sơn, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kiến Tạo Xanh Group, cho biết doanh nghiệp đang định hướng đầu tư vào hai lĩnh vực chiến lược là công nghệ xanh và công nghệ số, tập trung giải quyết các vấn đề về môi trường, năng lượng, nước sạch và quản trị tài nguyên. Trong lĩnh vực nước, doanh nghiệp phát triển các giải pháp xử lý nước sạch, nước thải cho sinh hoạt và sản xuất; đặc biệt hướng tới các hệ thống có khả năng tái sử dụng 70 – 80% lượng nước sau xử lý.

Đây là một ví dụ cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn có thể chuyển từ tư duy “xử lý chất thải để đáp ứng yêu cầu” sang tư duy “biến chất thải và nước đã qua sử dụng thành một phần của chu trình tài nguyên”. Kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực nước thực chất bắt đầu từ sự thay đổi đó.

Một cơ sở chế biến nông sản có thể tuần hoàn nước trong sản xuất. Một khu công nghiệp có thể tăng tỷ lệ tái sử dụng nước sau xử lý. Một doanh nghiệp cấp nước có thể đầu tư giảm thất thoát trên mạng lưới. Một doanh nghiệp nông nghiệp có thể ứng dụng tưới nhỏ giọt, tưới chính xác dựa trên dữ liệu độ ẩm đất và dự báo thời tiết.

Mỗi giải pháp, nếu được nhân rộng, đều có thể tạo ra tác động lớn đối với an ninh nguồn nước.

Đáng chú ý, tại Hội thảo, đại diện K-water, Tổng công ty Tài nguyên nước Hàn Quốc, cũng chia sẻ định hướng thúc đẩy mô hình quản trị ngành nước thông minh bằng trí tuệ nhân tạo. Doanh nghiệp đang nghiên cứu, triển khai các giải pháp tự động hóa, quản lý năng lượng, giám sát thời gian thực, phân tích dữ liệu và dự báo sự cố trong vận hành nhà máy nước.

Những mô hình như vậy cho thấy công nghệ đang mở ra một không gian mới cho doanh nghiệp tham gia bảo đảm an ninh nguồn nước.

Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu được nhìn nhận là bên khai thác, sử dụng hoặc cung cấp dịch vụ về nước, thì trong tương lai, doanh nghiệp có thể trở thành nhà đầu tư công nghệ, nhà cung cấp giải pháp, đơn vị vận hành thông minh và đối tác của Nhà nước trong quản trị nguồn nước.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp thực sự tham gia sâu hơn, chính sách cũng cần tạo ra động lực tương xứng.

Đầu tư công nghệ tiết kiệm nước phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí. Đầu tư tái sử dụng nước phải có cơ chế khuyến khích phù hợp. Các dự án xử lý nước thải, cấp nước nông thôn, giảm thất thoát, quan trắc và chuyển đổi số ngành nước cần có cơ chế huy động nguồn vốn xã hội.

Nói cách khác, bảo vệ nguồn nước phải trở thành một lĩnh vực có thể đầu tư, có thể tạo giá trị và có thể tạo ra lợi ích lâu dài cho cả doanh nghiệp và cộng đồng.

Đây cũng là lý do tại Hội thảo, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk mong muốn tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và nhà đầu tư để từng bước hình thành những mô hình quản trị, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả, bền vững và có khả năng nhân rộng trong khu vực.

Trong bối cảnh miền Trung – Tây Nguyên đang cần một lượng lớn nguồn lực để nâng cấp hạ tầng nước, chuyển đổi công nghệ và thích ứng với biến đổi khí hậu, việc thu hút khu vực tư nhân tham gia không chỉ là giải pháp về vốn. Quan trọng hơn, đó là cách huy động công nghệ, kinh nghiệm quản trị và năng lực đổi mới của doanh nghiệp vào bài toán nguồn nước.

Từ hợp tác xã, người dân đến sức mạnh cộng đồng

Nếu doanh nghiệp có khả năng tạo ra những thay đổi ở quy mô đầu tư và công nghệ, thì hợp tác xã, người dân và cộng đồng lại giữ vai trò đặc biệt trong việc thay đổi cách sử dụng nước ở cơ sở.

bai-6-6-.png

Từ góc nhìn của một chuyên gia nông nghiệp và người từng đứng đầu ngành, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng muốn bảo đảm an ninh nguồn nước phải nhìn cả hệ thống từ sinh thủy, tích thủy đến điều hành và sử dụng hiệu quả.

Điểm đầu tiên ông nhấn mạnh là rừng.

Theo ông, độ che phủ rừng toàn vùng khoảng 46%, nhưng quan trọng không chỉ là tỷ lệ che phủ mà còn là chất lượng rừng. Muốn tăng khả năng sinh thủy và điều hòa nguồn nước, phải phát triển đầy đủ các tầng thực vật, nâng chất lượng hệ sinh thái chứ không chỉ nhìn vào diện tích thống kê.

Thông điệp này rất đáng chú ý. Một khu rừng nghèo, thảm thực vật suy giảm, đất bị nén hoặc xói mòn không thể thực hiện chức năng giữ nước giống như một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh. Vì vậy, “trồng rừng” và “giữ nước” thực chất là hai phần của cùng một chiến lược.

Sau sinh thủy là tích thủy.

Ông Nguyễn Xuân Cường cho rằng Việt Nam có lượng mưa trung bình tương đối lớn nhưng nhiều khu vực vẫn thiếu nước vào mùa khô, cho thấy năng lực tích trữ còn hạn chế. Do đó cần tổ chức tích nước từ quy mô hộ gia đình, tiểu vùng đến toàn lưu vực, đồng thời vận hành khoa học hệ thống liên hồ

Nhưng ông cũng nhấn mạnh một vấn đề căn bản khác: phải giảm lượng nước cần dùng. Công nghệ tưới tiết kiệm, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ và nâng cao giá trị sản phẩm là hướng đi cần thiết. Thay vì tiếp tục tăng diện tích và sản lượng bằng mọi giá, cần tăng giá trị trên cùng một đơn vị đất và nước.

Điều này đặc biệt rõ ở Tây Nguyên, nơi sản xuất nông nghiệp phụ thuộc lớn vào nguồn nước trong mùa khô.

Theo báo cáo tại Hội thảo, khu vực Tây Nguyên hiện có khoảng 640.000 – 700.000ha cà phê và hơn 80.000ha hồ tiêu, cùng diện tích lớn cao su và cây ăn quả. Riêng cà phê cần khoảng 600 – 800 m³ nước/ha/lần tưới và thường phải tưới 3 – 5 lần trong mùa khô. Tổng nhu cầu nước tưới cho khoảng 700.000 ha cà phê có thể lên tới gần 2 tỷ m³ mỗi mùa khô.

bai-6-7-.png

Những con số này cho thấy nếu phương thức sản xuất không thay đổi, áp lực lên nguồn nước sẽ ngày càng lớn.

Trong điều kiện biến đổi khí hậu, sản xuất nông nghiệp không thể tiếp tục dựa vào tư duy “có nước thì tưới”. Nông dân cần biết nguồn nước còn bao nhiêu, đất cần bao nhiêu nước, thời điểm nào cần tưới và khi nào có thể giảm tưới. Đó chính là nơi hợp tác xã có thể phát huy vai trò.

Một hộ sản xuất riêng lẻ rất khó đầu tư hệ thống quan trắc, dữ liệu thời tiết, công nghệ tưới chính xác hoặc các giải pháp tiết kiệm nước. Nhưng một hợp tác xã có thể tổ chức sản xuất theo quy trình chung, kết nối với doanh nghiệp công nghệ, nhà khoa học và các chương trình hỗ trợ vốn.

Hợp tác xã cũng có thể trở thành đầu mối phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệm, tổ chức dùng chung hạ tầng, xây dựng quy trình sản xuất phù hợp với khả năng cung cấp nước của từng vùng.

Nói cách khác, hợp tác xã không chỉ là một tổ chức kinh tế mà hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong quản trị nguồn nước ở nông thôn.

Tại Hội thảo, PGS.TS Dương Hồng Sơn, Viện Khoa học Tài nguyên nước, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, nhấn mạnh sự cần thiết phải triển khai các giải pháp tổng thể về trữ nước cho Tây Nguyên. Theo ông, cần phát triển hệ thống trữ nước đa quy mô, từ hồ chứa lớn, vừa và nhỏ đến ao hồ hộ gia đình và thu gom nước mưa; đồng thời kết hợp giải pháp công trình với các giải pháp phi công trình, mở rộng tưới tiết kiệm và chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước.

bai-6-3-.png

Những giải pháp đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi người sản xuất trực tiếp tham gia.

Một hệ thống tưới tiết kiệm có thể được Nhà nước hỗ trợ đầu tư, doanh nghiệp cung cấp công nghệ, nhà khoa học hướng dẫn kỹ thuật, nhưng người quyết định sử dụng hiệu quả hệ thống đó mỗi ngày vẫn là người nông dân.

Cũng tương tự, việc bảo vệ rừng đầu nguồn không thể chỉ được thực hiện bằng các quyết định hành chính. Người dân sống trong và xung quanh khu vực rừng phải có sinh kế phù hợp và có lợi ích gắn với việc bảo vệ tài nguyên.

Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với miền Trung – Tây Nguyên, nơi rừng đầu nguồn có vai trò giữ nước, điều tiết dòng chảy, bổ cập nước dưới đất và giảm nguy cơ hạn hán.

Bên cạnh người sản xuất, cộng đồng dân cư cũng cần được nhìn nhận như một lực lượng giám sát nguồn nước.

Người dân là những người trực tiếp nhìn thấy sự thay đổi của dòng sông, con suối, ao hồ và giếng nước. Họ có thể phát hiện sớm tình trạng ô nhiễm, suy giảm mực nước hoặc những bất thường tại địa bàn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, thông tin từ cộng đồng hoàn toàn có thể được kết nối với hệ thống quản lý thông qua các nền tảng phản ánh hiện trường, bản đồ nguồn nước, ứng dụng cảnh báo ô nhiễm và các hệ thống giám sát trực tuyến.

Khi đó, người dân không còn chỉ là đối tượng được tuyên truyền “hãy tiết kiệm và bảo vệ nước”, mà trở thành một chủ thể tham gia giám sát và quản trị tài nguyên nước.

Đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu xây dựng một nền quản trị hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu.

bai-6-4-.png

TS Triệu Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, cho rằng tình trạng thiếu nước sinh hoạt tại các vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang ngày càng nghiêm trọng do mùa khô kéo dài, nguồn nước phân bố không đều và hạ tầng cấp nước còn hạn chế. Theo ông, cần lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp với từng địa bàn, ưu tiên tính bền vững và khả năng vận hành lâu dài; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, giám sát và vận hành công trình.

Điều này đặt ra một yêu cầu quan trọng: Khi đầu tư công trình cấp nước cho cộng đồng, cần tính đến cả “vòng đời” của công trình, từ thiết kế, vận hành, bảo trì đến sự tham gia của người dân.

Một công trình được xây dựng nhưng không có người vận hành, không có kinh phí bảo trì hoặc không phù hợp với tập quán sử dụng nước của cộng đồng sẽ khó phát huy hiệu quả lâu dài.

Vì vậy, giải bài toán nước cho cộng đồng phải bắt đầu từ chính cộng đồng.

Từ trách nhiệm riêng lẻ đến cơ chế đồng hành lâu dài

Thực tế cho thấy, doanh nghiệp và cộng đồng đã có nhiều hoạt động tham gia bảo vệ nguồn nước, nhưng phần lớn vẫn mang tính riêng lẻ. Nơi có doanh nghiệp mạnh thì có đầu tư công nghệ; nơi có hợp tác xã tốt thì có mô hình tiết kiệm nước; nơi cộng đồng được tổ chức tốt thì việc bảo vệ nguồn sinh thủy đạt hiệu quả cao.

bai-6-5-.png

Vấn đề hiện nay là làm thế nào kết nối những sáng kiến đó thành một hệ thống.

Đây là điểm cần được đặt ra trong quá trình hoàn thiện chính sách về an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên.

Trước hết, cần xác định rõ danh mục các lĩnh vực ưu tiên để huy động nguồn lực xã hội. Đó có thể là cấp nước nông thôn, giảm thất thoát nước, xử lý và tái sử dụng nước thải, quan trắc nguồn nước, chuyển đổi số, bảo vệ rừng đầu nguồn, phục hồi hệ sinh thái nước và phát triển các mô hình nông nghiệp sử dụng nước tiết kiệm.

Thứ hai, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các dự án đầu tư trong lĩnh vực nước với cơ chế minh bạch và ổn định.

Thứ ba, cần thúc đẩy mô hình hợp tác công – tư, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch, đặt tiêu chuẩn và giám sát; doanh nghiệp tham gia đầu tư, công nghệ và vận hành; nhà khoa học cung cấp giải pháp; cộng đồng tham gia giám sát và thụ hưởng.

Thứ tư, cần hình thành cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng. Khi dữ liệu nguồn nước được cập nhật và chia sẻ đầy đủ, các quyết định về đầu tư, sản xuất và sử dụng nước sẽ có cơ sở khoa học hơn.

Đặc biệt, cần nhìn nhận lợi ích của doanh nghiệp và cộng đồng trong mối quan hệ với lợi ích của nguồn nước.

Một doanh nghiệp tiết kiệm được nước sẽ giảm chi phí sản xuất. Một hợp tác xã giảm lượng nước tưới sẽ giảm chi phí và tăng khả năng chống chịu trước hạn hán. Một cộng đồng bảo vệ được rừng đầu nguồn sẽ góp phần duy trì nguồn sinh thủy. Một địa phương giảm được ô nhiễm nguồn nước sẽ giảm chi phí xử lý và bảo vệ sức khỏe người dân.

Khi lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường cùng được đặt trong một bài toán, bảo vệ nguồn nước sẽ trở thành động lực phát triển chứ không còn được xem là chi phí. Đây chính là tinh thần của kinh tế tuần hoàn và phát triển xanh.

Như ông Nguyễn Trường Sơn chia sẻ tại Hội thảo, các giải pháp xanh không còn chỉ là một lựa chọn mà cần được nhìn nhận như một trách nhiệm đối với cộng đồng và môi trường. Doanh nghiệp cần tiếp tục đồng hành cùng cơ quan quản lý, các tổ chức, nhà khoa học và người dân để hình thành hệ sinh thái xanh, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững.

Nhìn rộng hơn, đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với toàn bộ hệ thống quản trị tài nguyên nước.

Không thể có an ninh nguồn nước nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích sản xuất trước mắt. Không thể có an ninh nguồn nước nếu người dân chỉ quan tâm đến nhu cầu sử dụng của gia đình mình. Không thể có an ninh nguồn nước nếu cộng đồng không được tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến nguồn nước mà họ phụ thuộc.

An ninh nguồn nước đòi hỏi một cách tiếp cận khác: Mỗi chủ thể đều có quyền tiếp cận nguồn nước nhưng đồng thời phải có trách nhiệm với nguồn nước.

Đó cũng là nền tảng để hình thành một “hợp đồng xã hội” mới đối với tài nguyên nước.

Trong hợp đồng đó, Nhà nước kiến tạo và điều phối; doanh nghiệp đầu tư và đổi mới; nhà khoa học cung cấp tri thức; hợp tác xã tổ chức lại sản xuất; người dân sử dụng tiết kiệm và giám sát; các tổ chức xã hội kết nối và thúc đẩy phản biện chính sách.

Khi những vai trò đó được kết nối, bảo vệ nguồn nước mới có thể chuyển từ những chương trình riêng lẻ thành một hệ thống hành động có chiều sâu.

Miền Trung – Tây Nguyên đang bước vào một giai đoạn phát triển với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Biến đổi khí hậu khiến nguồn nước khó dự báo hơn, trong khi nhu cầu sử dụng nước tiếp tục gia tăng. Vì vậy, bài toán an ninh nguồn nước không thể giải bằng một công trình đơn lẻ hay một chính sách riêng biệt.

Cần huy động cả nguồn lực Nhà nước và xã hội, cả công nghệ và tri thức địa phương, cả doanh nghiệp và cộng đồng.

Bởi cuối cùng, bảo vệ nguồn nước không phải là trách nhiệm của riêng ai. Đó là trách nhiệm chung của tất cả những chủ thể đang sống, sản xuất và phát triển dựa vào nguồn nước.

Và khi doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân cùng tham gia bảo vệ nguồn nước, tài nguyên nước sẽ không chỉ được nhìn nhận là nguồn lực cho phát triển hôm nay mà còn trở thành nền tảng cho khả năng chống chịu và phát triển bền vững của miền Trung – Tây Nguyên trong tương lai.

Minh Anh