An ninh nguồn nước

Bài 5: Giữ nước từ đất: Nông nghiệp tuần hoàn và lời giải sinh kế cho miền Trung - Tây Nguyên

Thu Trinh • 17/09/2026 06:00

Trong bối cảnh miền Trung - Tây Nguyên cùng lúc đối mặt với hạn hán, thiếu nước, mưa cực đoan và suy thoái đất, chuyển đổi mô hình nông nghiệp không còn đơn thuần là câu chuyện nâng cao năng suất. Từ ao trữ nước, tưới tiết kiệm, trồng xen cây lâu năm đến nông nghiệp tái sinh và tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ, nhiều mô hình đang cho thấy một hướng đi mới: giữ nước trong đất, giữ dinh dưỡng trong hệ sinh thái và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

ab5-bia.png

Trong bối cảnh miền Trung - Tây Nguyên cùng lúc đối mặt với hạn hán, thiếu nước, mưa cực đoan và suy thoái đất, chuyển đổi mô hình nông nghiệp không còn đơn thuần là câu chuyện nâng cao năng suất. Từ ao trữ nước, tưới tiết kiệm, trồng xen cây lâu năm đến nông nghiệp tái sinh và tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ, nhiều mô hình đang cho thấy một hướng đi mới: giữ nước trong đất, giữ dinh dưỡng trong hệ sinh thái và tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, miền Trung – Tây Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, sinh thái, quốc phòng – an ninh và phát triển liên vùng, đồng thời sở hữu tiềm năng lớn về nước mặt, nước dưới đất, thủy điện và các hệ sinh thái đặc thù. Nhưng nghịch lý của vùng là song hành với tiềm năng đó lại là những nguy cơ ngày càng rõ rệt về hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.

Không chỉ tiết kiệm, phải “giữ nước” trong hệ sinh thái

Đối với miền Trung - Tây Nguyên, bài toán nước của nông nghiệp đang thay đổi rất nhanh. Nếu trước đây vấn đề chủ yếu được nhìn nhận là thiếu công trình thủy lợi, thì hiện nay biến đổi khí hậu khiến nguồn nước trở nên khó dự báo hơn: mùa khô kéo dài, mưa phân bố thất thường, những trận mưa lớn có thể xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng nước lại không được giữ lại đủ lâu cho mùa khô.

ab5-bhien.png

Tại Tây Nguyên, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên và theo GS. Phạm Quý Nhân thì nhu cầu nước cho nông nghiệp ở miền Trung –Tây Nguyên đang tăng rất nhanh. Tây Nguyên hiện có khoảng 640.000–700.000 ha cà phê, hơn 80.000 ha hồ tiêu và diện tích lớn cao su, cây ăn quả. Riêng cây cà phê cần khoảng 600–800 m³ nước/ha cho mỗi lần tưới và mỗi mùa khô, loại cây này cần phải tưới 3–5 lần nâng tổng nhu cầu nước tưới cho khoảng 700.000 ha cà phê có thể xấp xỉ 2 tỷ m³ mỗi mùa khô. Trong khi đó, dòng chảy trung bình năm của lưu vực Đồng Nai khoảng 39,98 tỷ m³, Vu Gia - Thu Bồn khoảng 19,35 tỷ m³, Srêpốk khoảng 18,4 tỷ m³, Sê San khoảng 12,84 tỷ m³.

Riêng nước dưới đất, trữ lượng khai thác tại lưu vực Đồng Nai được nêu ở mức khoảng 3,024 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 1,37 tỷ m³/năm. Đã thế chỉ có khoảng 60–80% dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô có thể kéo dài từ 6–8 tháng.

Theo cơ quan chuyên môn, chỉ khoảng 26% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của vùng được bảo đảm nguồn nước từ các công trình thủy lợi chủ động; phần lớn diện tích còn lại vẫn phụ thuộc vào lượng mưa.

“

“Muốn bảo đảm an ninh nguồn nước phải nhìn cả hệ thống từ sinh thủy, tích thủy đến điều hành và sử dụng hiệu quả”

Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường

Từ góc nhìn của một chuyên gia nông nghiệp và người từng đứng đầu ngành, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng muốn bảo đảm an ninh nguồn nước phải nhìn cả hệ thống từ sinh thủy, tích thủy đến điều hành và sử dụng hiệu quả.

Ông Nguyễn Xuân Cường cho rằng Việt Nam có lượng mưa trung bình tương đối lớn nhưng nhiều khu vực vẫn thiếu nước vào mùa khô, cho thấy năng lực tích trữ còn hạn chế. Do đó cần tổ chức tích nước từ quy mô hộ gia đình, tiểu vùng đến toàn lưu vực, đồng thời vận hành khoa học hệ thống liên hồ

Nhưng ông cũng nhấn mạnh một vấn đề căn bản khác, đó là phải giảm lượng nước cần dùng. Công nghệ tưới tiết kiệm, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ và nâng cao giá trị sản phẩm là hướng đi cần thiết. Thay vì tiếp tục tăng diện tích và sản lượng bằng mọi giá, cần tăng giá trị trên cùng một đơn vị đất và nước.

Trong điều kiện đó, một trong những hướng thích ứng quan trọng là chuyển từ tư duy “tìm thêm nguồn nước” sang “giữ được nhiều nước hơn”.

ab5-nc.png

Trong tư duy truyền thống, người ta thường nhìn hồ chứa như nơi tích nước. Nhưng trong một lưu vực, “hồ chứa” lớn nhất thực ra có thể là chính lớp đất.

Đất khỏe, giàu hữu cơ, có thảm phủ và cấu trúc tốt sẽ tăng khả năng giữ ẩm và thấm nước. Đất thoái hóa, chai cứng hoặc để trống dễ tạo dòng chảy mặt, xói mòn và mất nước nhanh. Vì vậy, phục hồi đất không chỉ là câu chuyện nâng năng suất nông nghiệp. Đó còn là một giải pháp an ninh nguồn nước.

Các mô hình sản xuất phù hợp có thể kết hợp phân hữu cơ đã xử lý đúng kỹ thuật, cây che phủ, quản lý tàn dư thực vật, nông – lâm kết hợp và hạn chế để bề mặt đất trống. Khi đất giữ nước tốt hơn, cây cần ít nước tưới hơn; nước mưa có thêm thời gian thấm vào đất và bổ cập tầng nước dưới đất.

Đây chính là một dạng “hạ tầng xanh” ít được tính vào các kế hoạch thủy lợi nhưng có giá trị lâu dài.

Một mô hình đáng chú ý là ao trữ nước quy mô hộ gia đình. Tại Tây Nguyên, mô hình ao giữ nước chống chịu biến đổi khí hậu đã được triển khai nhằm giúp người dân chủ động tích nước trong mùa mưa và sử dụng vào mùa khô. Các hộ tham gia còn được tập huấn cách quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nước.

Nhưng ao chỉ là một mắt xích. Quan trọng hơn là phải giữ nước ngay trên đồng ruộng và trong đất.

TS Tống Ngọc Thanh - Tổng thư ký Hội Nước & Môi trường Việt Nam nhận định: Tình trạng khai thác mạnh nước dưới đất phục vụ tưới cây công nghiệp đang làm suy giảm mực nước tại Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng. Nhiều giếng có biểu hiện suy giảm lưu lượng hoặc cạn cục bộ trong mùa khô, trong khi suy giảm hệ sinh thái đầu nguồn cũng ảnh hưởng đến khả năng bổ cập tự nhiên.

Đây là một vòng luẩn quẩn: Thiếu nước → khoan sâu hơn → nước dưới đất giảm → mùa khô càng thiếu → tiếp tục khoan.

Nếu không có một chính sách kiểm soát đủ mạnh, giải pháp của từng hộ có thể trở thành rủi ro của toàn vùng. Chính vì vậy, tưới tiết kiệm không chỉ là một lựa chọn kinh tế. Đó là một biện pháp bảo vệ tài nguyên.

ab5-tong-ngoc-thanh.png

Các biện pháp như phủ gốc bằng phụ phẩm hữu cơ vừa tăng hàm lượng mùn, trồng cây che phủ, hạn chế đất trống và áp dụng tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa giúp giảm lượng nước thất thoát do bốc hơi và tăng khả năng giữ ẩm của đất.

Với cây cà phê, các nghiên cứu và mô hình thực tế tại Tây Nguyên cho thấy tưới tiết kiệm có thể giảm đáng kể lượng nước sử dụng. Hệ thống tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa tại gốc được ghi nhận có khả năng giảm khoảng 25-47,9% lượng nước so với tưới truyền thống, đồng thời giảm chi phí đầu vào và nâng hiệu quả sản xuất.

Đây là điểm rất quan trọng đối với an ninh nguồn nước: mỗi mét khối nước tiết kiệm được trong sản xuất nông nghiệp cũng chính là một phần nguồn nước được dành lại cho các nhu cầu khác của cộng đồng và hệ sinh thái.

Từ “tưới nhiều” sang “tưới đúng”

Trong nhiều năm, với người trồng cà phê Tây Nguyên, tưới nước vào mùa khô gần như là công việc bắt buộc để duy trì sinh trưởng, ra hoa và nuôi quả. Tuy nhiên, khi khí hậu ngày càng cực đoan, mùa khô kéo dài hơn, nhiệt độ tăng cao và nguồn nước trở nên khó dự báo, câu hỏi đặt ra không còn đơn giản là “có đủ nước để tưới hay không?”, mà phải chuyển thành: “Cây cần bao nhiêu nước, vào thời điểm nào và tưới thế nào để mỗi mét khối nước tạo ra nhiều giá trị nhất?”

Đó chính là sự thay đổi từ tư duy “tưới nhiều” sang “tưới đúng”.

Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), phần lớn diện tích cà phê trong vùng phải được tưới trong mùa khô để bảo đảm sinh trưởng và năng suất. Trong khi đó, các nghiên cứu và mô hình khuyến nông nhiều năm qua đã chỉ ra rằng phương thức tưới truyền thống có thể gây lãng phí nước, rửa trôi dinh dưỡng và làm tăng chi phí sản xuất trong khi tưới tiết kiệm kết hợp quản lý nước phù hợp có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Bởi vậy, hướng đi hiện nay là tưới theo nhu cầu thực tế của cây và điều kiện đất, kết hợp các giải pháp công nghệ để theo dõi độ ẩm và điều tiết lượng nước.

Đây cũng là hướng được các chương trình khuyến nông và nghiên cứu về cà phê Tây Nguyên thúc đẩy trong nhiều năm qua. Các hệ thống tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa tại gốc kết hợp quản lý thời điểm tưới được xem là những giải pháp giúp giảm lượng nước sử dụng nhưng vẫn duy trì năng suất.

ab5-tuoi.png

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của nông nghiệp thích ứng khí hậu là đưa quyết định tưới từ kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu.

Trước đây, người trồng thường căn cứ vào thời tiết, kinh nghiệm nhiều năm, biểu hiện của cây hoặc độ khô của lớp đất mặt để quyết định thời điểm tưới. Cách làm này có giá trị nhất định, nhưng trong điều kiện thời tiết ngày càng bất thường, những dấu hiệu bên ngoài đôi khi không phản ánh đầy đủ trạng thái nước trong vùng rễ.

Một vườn cà phê có thể nhìn bên ngoài vẫn xanh tốt nhưng đất ở tầng rễ đã thiếu ẩm. Ngược lại, sau một trận mưa, lớp đất mặt có thể ướt nhưng lượng nước thực tế cây có thể khai thác lại không đồng đều. Vì vậy, độ ẩm đất, thời tiết, lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm không khí và nhu cầu sinh lý của cây cần được đưa vào cùng một hệ thống dữ liệu.

Khi đó, thay vì đặt câu hỏi “hôm nay có nên tưới không?”, người sản xuất có thể tiến tới một câu hỏi chính xác hơn: “Với điều kiện đất và thời tiết hiện tại, cây cần bao nhiêu nước và tưới trong bao lâu?”

Một bước tiến đáng chú ý đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra là nghiên cứu, tích hợp hệ thống tưới nước thông minh ứng dụng IoT và AI phục vụ canh tác cà phê.

Đây là một bước chuyển quan trọng bởi trong điều kiện biến đổi khí hậu, kinh nghiệm của người nông dân vẫn rất cần thiết, nhưng kinh nghiệm cần được bổ sung bằng dữ liệu để thích ứng với những điều kiện thời tiết không còn ổn định như trước.

Đáng chú ý, mô hình tưới thông minh của Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng tới mục tiêu tiết kiệm 20-30% lượng nước, tăng năng suất 10-15% và giảm chi phí sản xuất 15-20%. Mục tiêu đặt ra còn bao gồm nâng năng suất cà phê từ khoảng 4 tấn/ha lên 5-6 tấn/ha và giảm 25% phát thải khí nhà kính từ hoạt động tưới tiêu.

Nói cách khác, một hệ thống tưới tốt không phải là hệ thống đưa được nhiều nước nhất đến vườn, mà là hệ thống tạo ra nhiều giá trị nhất trên mỗi đơn vị nước sử dụng.

Ý nghĩa lớn hơn của câu chuyện tưới đúng nằm ở chỗ: Khi hàng nghìn, hàng chục nghìn hộ sản xuất cùng giảm lượng nước sử dụng, tác động không còn dừng ở phạm vi từng trang trại mà là sự thay đổi đối với toàn bộ nhu cầu khai thác nước của vùng sản xuất.

Nếu mỗi hộ chỉ nhìn vào nhu cầu của riêng mình, trong mùa khô ai cũng có xu hướng tìm cách bảo đảm đủ nước cho vườn cây. Nhưng khi nguồn nước mặt và nước dưới đất cùng chịu áp lực, tổng nhu cầu của hàng nghìn hộ có thể tạo thành sức ép rất lớn lên các lưu vực sông, hồ chứa và tầng chứa nước.

Ngược lại, nếu sản xuất được tổ chức theo hướng sử dụng nước hiệu quả hơn, lượng nước cần khai thác có thể giảm xuống. Khi đó, tưới tiết kiệm không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng cà phê mà còn trở thành một công cụ của quản trị tài nguyên nước. Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với Tây Nguyên, nơi nông nghiệp, thủy điện, sinh hoạt và hệ sinh thái cùng phụ thuộc vào một nguồn tài nguyên nước có tính mùa vụ cao.

Phục hồi đất để giữ nước

Nếu hồ chứa giúp giữ nước trên bề mặt thì đất khỏe chính là một “kho chứa nước” tự nhiên. Đây cũng là lý do nông nghiệp tái sinh ngày càng được quan tâm tại Tây Nguyên.

Một trong những nguyên tắc của nông nghiệp tái sinh là tăng khả năng phục hồi của đất thông qua việc tăng chất hữu cơ, hạn chế tác động tiêu cực lên đất, đa dạng hóa cây trồng và giảm phụ thuộc vào đầu vào hóa học.

ab5-dat.png

Tại các vùng cà phê Tây Nguyên, một số mô hình đã áp dụng đồng thời các giải pháp như trồng xen, sử dụng phân hữu cơ từ phụ phẩm, tiết kiệm nước, tăng đa dạng sinh học và cải thiện chất lượng đất.

Khi đất có nhiều chất hữu cơ và lớp phủ thực vật được duy trì, nước mưa có điều kiện thấm xuống đất thay vì nhanh chóng chảy tràn trên bề mặt. Điều đó vừa giảm xói mòn trong những trận mưa lớn, vừa tăng lượng nước được lưu giữ trong đất cho cây sử dụng trong mùa khô.

Một cách làm khá đơn giản là không đốt bỏ cành, lá và cỏ trong vườn mà để lại làm lớp phủ. Khi phân hủy, vật chất hữu cơ trở thành nguồn mùn, góp phần cải thiện cấu trúc đất.

Các mô hình nông nghiệp tái sinh tại Tây Nguyên đã ghi nhận việc sử dụng phụ phẩm thực vật làm lớp phủ, kết hợp phân hữu cơ và cây trồng xen giúp cải thiện đất, giảm nhu cầu nước tưới và giảm chi phí đầu vào.

Như vậy, phục hồi đất không chỉ là giải pháp môi trường. Đó cũng là một giải pháp an ninh nguồn nước.

Trồng xen: Một cánh đồng, nhiều tầng sinh thái

Một hướng khác đang được khuyến khích tại các vùng cà phê Tây Nguyên là chuyển từ hệ thống độc canh sang hệ thống đa tầng, đa cây trồng.

Thay vì chỉ có cà phê, người dân có thể trồng xen cây ăn quả hoặc các loại cây phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.

Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, trồng xen cây ăn quả trong vườn cà phê có thể giúp điều hòa tiểu khí hậu, giảm áp lực nước tưới, cải thiện độ phì đất và đồng thời tạo thêm nguồn thu cho người dân.

ab5-van.png

Đây là mô hình đặc biệt phù hợp với bối cảnh thời tiết cực đoan bởi khi nhiệt độ tăng cao, tán cây giúp giảm bức xạ trực tiếp xuống mặt đất. Khi mưa lớn, hệ thống rễ và lớp phủ thực vật giúp giảm dòng chảy mặt. Khi hạn kéo dài, đất có khả năng giữ ẩm tốt hơn. Quan trọng hơn, người nông dân không còn phụ thuộc hoàn toàn vào một loại cây trồng.

Nếu cà phê gặp bất lợi do hạn hán hoặc biến động giá, cây ăn quả hoặc các sản phẩm xen canh có thể tạo thêm nguồn thu. Nói cách khác, đa dạng hóa hệ sinh thái cũng chính là đa dạng hóa sinh kế.

Biến phụ phẩm thành tài nguyên

Một đặc điểm rất đáng chú ý của nông nghiệp tuần hoàn là không coi chất thải nông nghiệp là điểm cuối của sản xuất.

Vỏ cà phê, rơm rạ, thân lá cây trồng, phân gia súc, phụ phẩm rau quả… nếu bị đốt hoặc thải bỏ sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm. Nhưng nếu được thu gom, xử lý đúng kỹ thuật, chúng có thể quay trở lại sản xuất dưới dạng phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, giá thể hoặc nguồn năng lượng.

Đây chính là vòng tuần hoàn: Cây trồng → phụ phẩm → xử lý → phân hữu cơ/thức ăn → trở lại đất → cây trồng.

Tại Đắk Lắk, kinh tế tuần hoàn trong sản xuất cà phê đang được quan tâm, trong đó phụ phẩm như vỏ cà phê có thể trở thành nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ. Một số chương trình khuyến nông tại Đắk Lắk, Lâm Đồng cũng đã hướng dẫn người dân ủ phân hữu cơ từ vỏ cà phê.

Đặc biệt, tại Lâm Đồng, các mô hình tuần hoàn đã cho thấy khả năng kết nối nhiều khâu sản xuất.

Trang trại Thiên Sinh ở Đơn Dương là một ví dụ: Đồng cỏ được sử dụng làm thức ăn cho bò; chất thải của bò được ủ làm phân hữu cơ cho rau, củ, quả; phụ phẩm từ thu hoạch và sơ chế rau tiếp tục được tận dụng làm thức ăn cho bò. Mô hình có quy mô 12 ha rau, củ, quả, 3 ha cỏ và chăn nuôi 38 con bò thịt, với doanh thu được báo cáo khoảng 3,6 tỷ đồng/năm.

ab5-nntuan-hoan.png

Một mô hình khác tại Dalat Hasfarm tận dụng phụ phẩm từ sản xuất hoa để băm nhỏ, phối trộn với phân bón và chế phẩm vi sinh, sau đó ủ thành phân hữu cơ phục vụ trở lại sản xuất. Theo báo cáo của ngành nông nghiệp Lâm Đồng, mô hình này tận dụng khoảng 35.000-36.000 m³ phụ phẩm mỗi năm.

Những mô hình này cho thấy kinh tế tuần hoàn không nhất thiết phải bắt đầu bằng công nghệ đắt tiền. Điểm cốt lõi là thiết kế lại dòng vật chất trong sản xuất: Cái thừa của khâu này phải trở thành đầu vào của khâu khác.

Một giá trị khác của kinh tế tuần hoàn là tạo ra nguồn thu mới từ chính những thứ trước đây bị bỏ đi.

Tại Lâm Đồng, phụ phẩm từ cà phê, chè, rau, hoa và gỗ rừng trồng tạo ra nguồn sinh khối lớn. Theo một khảo sát của ngành nông nghiệp Lâm Đồng, mỗi năm tỉnh phát sinh khoảng 1,73 triệu tấn phụ phẩm cây trồng; phần lớn đã được thu gom, tái sử dụng dưới các hình thức như làm thức ăn chăn nuôi, cày vùi vào đất, tủ gốc, làm giá thể hoặc ủ phân hữu cơ. Nếu hình thành được các tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp thu gom - xử lý phụ phẩm, người dân không chỉ giảm chi phí mua phân bón mà còn có thể bán phụ phẩm hoặc tham gia vào một chuỗi giá trị mới.

Đây là điểm cần được nhìn nhận trong chiến lược an ninh nguồn nước bởi khi người dân có sinh kế ổn định, họ sẽ có điều kiện đầu tư trở lại cho đất, nước, cây trồng và hạ tầng sản xuất. Sinh kế bền vững vì thế là một “lớp bảo vệ” của an ninh nguồn nước.

Từ thích ứng riêng lẻ đến hệ thống nông nghiệp chống chịu

Nhìn từ các mô hình đang được triển khai, có thể thấy nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu ở miền Trung - Tây Nguyên không thể chỉ dựa vào một giải pháp. Các giải pháp: Ao trữ nước chỉ giải quyết một phần bài toán; tưới tiết kiệm chỉ giúp giảm nhu cầu nước; phục hồi đất giúp giữ nước lâu hơn; trồng xen giúp giảm rủi ro sản xuất; tuần hoàn phụ phẩm giúp giảm chi phí và trả lại chất hữu cơ cho đất; đa dạng hóa sinh kế giúp người dân giảm phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhấ, khi kết nối với nhau sẽ tạo thành một hệ thống nông nghiệp có khả năng chống chịu.

ab5-he-thong.png

Những mô hình nông nghiệp tuần hoàn đang hình thành ở miền Trung – Tây Nguyên cho thấy, thích ứng với biến đổi khí hậu không nhất thiết phải bắt đầu từ những công trình lớn. Đôi khi, lời giải lại nằm ngay trên từng thửa đất: giữ thêm một phần nước trong đất, giữ lại chất hữu cơ, tận dụng phụ phẩm, giảm một lần tưới, thêm một tầng cây xanh và tạo thêm một nguồn thu cho người nông dân.

Điều đáng nói, các mô hình này không chỉ giúp giảm áp lực lên nguồn nước mà còn mở ra một cách tiếp cận khác đối với phát triển nông nghiệp: Không lấy thêm từ tự nhiên để bù đắp cho những thiếu hụt của sản xuất, mà tìm cách để chính hệ sinh thái tạo ra khả năng phục hồi và duy trì sinh kế.

Trong bối cảnh hạn hán, thiếu nước và thời tiết cực đoan ngày càng khó lường, đây có thể là hướng đi quan trọng để miền Trung – Tây Nguyên chuyển từ “chống chịu với thiên tai” sang “chủ động thích ứng”. Khi mỗi cánh đồng biết giữ nước, mỗi trang trại biết tuần hoàn tài nguyên và mỗi người nông dân có một sinh kế bền vững hơn, thì an ninh nguồn nước không còn là câu chuyện chỉ được giải quyết ở những hồ chứa hay trên những dòng sông, mà được bắt đầu ngay từ lòng đất.

Giữ nước từ đất, vì thế, không chỉ là giữ một nguồn tài nguyên. Đó là giữ sức sống của hệ sinh thái, giữ sinh kế của người dân và tạo nền tảng cho một miền Trung – Tây Nguyên có thể phát triển bền vững trong một khí hậu ngày càng cực đoan.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Bài 5: Giữ nước từ đất: Nông nghiệp tuần hoàn và lời giải sinh kế cho miền Trung - Tây Nguyên
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.