(Bài 5) Nước thải sau xử lý: Dùng vào đâu để không lãng phí nguồn nước?
Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước thải chảy ra sông, hồ, biển, trong khi đô thị vẫn thiếu nguồn nước. Tái sử dụng nước sau xử lý có thể tạo nguồn cung mới, nhưng cần tháo gỡ đồng bộ các rào cản về công nghệ, chi phí, cơ chế quản lý và thị trường.

Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước thải lặng lẽ chảy ra sông, hồ rồi ra biển, trong khi các đô thị vẫn loay hoay tìm thêm nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt. Nếu được xử lý đúng chuẩn cho từng mục đích sử dụng, dòng nước ấy không còn là “đầu ra” của đô thị mà có thể trở thành nguồn nước mới ngay trong lòng đô thị. Nhưng để tiềm năng thành hiện thực, Việt Nam phải cùng lúc giải được bốn bài toán: công nghệ, chi phí, cơ chế quản lý và thị trường tiêu thụ.
Trong chu trình đô thị, nước thải thường bị xem là điểm kết thúc để xả bỏ. Tuy nhiên, trước áp lực tăng dân số, biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, việc lãng phí nguồn nước sau một lần sử dụng đang thay đổi. Thực tế trên thế giới, nước tái sử dụng đã trở thành tài nguyên cho tưới cây, rửa đường, làm mát công nghiệp và bổ cấp nước ngầm theo nguyên tắc "đúng chất lượng cho đúng mục đích". Còn tại Việt Nam, đây không còn là ý tưởng xa lạ nhưng để biến nước thải thành nguồn cung thực sự, cần đồng bộ 4 yếu tố: Công nghệ phù hợp, chi phí chấp nhận được, hành lang pháp lý rõ ràng và sự sẵn sàng từ người dùng. Thiếu một mắt xích, tài nguyên này vẫn tiếp tục bị lãng phí ra sông.

Từ "xả bỏ" đến "thu hồi": Câu hỏi đã đổi chiều
Mỗi ngày, nước được khai thác, xử lý và đưa vào đô thị phục vụ sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ. Sau sử dụng, dòng nước mang theo chất hữu cơ, hóa chất và tác nhân gây bệnh rồi đi vào hệ thống thoát nước. Trong thời gian dài, nhiệm vụ của ngành nước chủ yếu là thu gom, xử lý và xả bỏ. Nhưng khi nhu cầu nước tăng, nguồn nước tự nhiên chịu sức ép lớn, câu hỏi đặt ra là: nước thải sau xử lý có thể quay lại phục vụ đô thị hay không?
Theo báo cáo Ngân hàng Thế giới công bố năm 2020, khoảng 80% lượng nước thải toàn cầu được xả ra môi trường mà chưa được xử lý đầy đủ. Nếu được quản lý theo hướng tuần hoàn, nước thải có thể trở thành nguồn cung nước, năng lượng, chất dinh dưỡng và tài nguyên khác. Đây vừa là thách thức môi trường, vừa là giá trị chưa được khai thác.

Sau xử lý phù hợp, nước có thể dùng để tưới cây xanh, rửa đường, làm mát thiết bị hoặc phục vụ một số công đoạn sản xuất không đòi hỏi chất lượng nước uống. Một số quy trình còn cho phép thu hồi nitơ, phốt pho; chất hữu cơ trong bùn có thể được xử lý kỵ khí để tạo khí sinh học, bổ sung năng lượng cho nhà máy. Như vậy, nước thải không chỉ có thể trả lại nguồn nước mà còn góp phần thu hồi dinh dưỡng và năng lượng.
Tuy nhiên, không phải mọi dòng thải đều phù hợp để thu hồi tài nguyên. Hiệu quả phụ thuộc thành phần ô nhiễm, quy mô, công nghệ và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Bùn thải cũng phải được đánh giá đặc tính, mức độ an toàn trước khi sử dụng. Vì thế, tuần hoàn nước không đồng nghĩa tận dụng bằng mọi giá, mà là lựa chọn giải pháp có lợi thực chất về môi trường và kinh tế.
Từ "đạt chuẩn xả thải" đến đủ điều kiện "tái sử dụng"
Đây là điểm dễ nhầm lẫn nhất. Tái sử dụng nước không có nghĩa là đưa nước sau xử lý trở lại mọi hoạt động. Nước đạt yêu cầu xả thải chưa chắc đáp ứng tiêu chuẩn cho tưới cây, làm mát công nghiệp hay bổ sung cho hồ cảnh quan, bởi mỗi mục đích sử dụng có yêu cầu chất lượng và mức kiểm soát rủi ro riêng.
Tại Việt Nam, TCVN 12526:2018 hướng dẫn đánh giá an toàn khi tái sử dụng nước không dùng để uống tại khu vực đô thị, với các thông số và phương pháp đánh giá cụ thể. Tiêu chuẩn này cho thấy một nguyên tắc nền tảng: tái sử dụng phải bắt đầu từ chất lượng nước và sự an toàn đối với con người, môi trường, chứ không phải từ mong muốn tận dụng bằng mọi giá. Nhưng đạt yêu cầu về chất lượng mới chỉ là điều kiện đầu tiên. Để nước thải thực sự trở thành nguồn tài nguyên, bài toán quy về ba điều kiện cần giải đồng thời: công nghệ phù hợp với yêu cầu của từng nhu cầu đầu ra; chi phí xử lý cân đối được với giá trị của nước thu hồi; và đầu ra ổn định, tức là có nơi sử dụng chắc chắn, lâu dài.
Khi đủ ba điều kiện, nước thải không còn chỉ là dòng nước cần xử lý trước khi xả bỏ, mà trở thành nguồn cung bổ sung, giúp giảm áp lực lên tài nguyên nước tự nhiên và nâng cao hiệu quả quản lý nước đô thị. Thiếu một trong ba, dòng nước sau xử lý vẫn tiếp tục đi ra sông.

Không phải mọi hoạt động đô thị đều cần nước đạt chất lượng ăn uống. Nếu được xử lý đạt yêu cầu, nước thải có thể tái sử dụng để tưới cây xanh, rửa đường, làm mát thiết bị hoặc phục vụ sản xuất, qua đó giảm khai thác nguồn nước mới và chi phí vận hành. Với các mục đích nhạy cảm hơn như bổ sung nước cho hồ cảnh quan hay phục hồi nguồn nước, cần đánh giá riêng về chất lượng và rủi ro đối với sức khỏe, hệ sinh thái. Nguyên tắc cốt lõi là sử dụng đúng chất lượng nước cho từng mục đích.
Từ nhu cầu thực tế đến những mô hình đầu tiên
Một số mô hình đang bước đầu nghiên cứu khả năng hiện thực hóa hướng đi này. Tại Khu công nghiệp Đình Vũ (DEEP C), Hải Phòng, hệ thống thí điểm có công suất thiết kế 1.000 m³/ngày đêm, sử dụng một phần nước từ nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất khoảng 6.000 m³/ngày đêm để xử lý nâng cao. Các phương án sử dụng gồm làm mát, tưới cây, rửa đường và phục vụ sản xuất.
Còn tại Khu công nghiệp Phố Nối, Hưng Yên, Chương trình 2030 Water Resources Group từng hỗ trợ nghiên cứu khả thi về tái sử dụng nước thải. Báo cáo năm 2022 cho biết nghiên cứu đã hoàn thành, tạo cơ sở xem xét mô hình hợp tác công – tư, nhưng chưa đủ căn cứ khẳng định dự án đã vận hành thương mại.

Hai trường hợp cho thấy tái sử dụng nước đã được đặt ra từ nhu cầu thực tế và bước đầu có cơ sở nghiên cứu. Tuy nhiên, để trở thành nguồn cung ổn định, các mô hình cần vượt qua những yêu cầu về công nghệ, chi phí, chất lượng nước và cơ chế vận hành.
Khoảng cách giữa xử lý được và tái sử dụng được
Thách thức không chỉ là làm sạch nước thải mà còn tổ chức được chuỗi cung ứng từ xử lý đến tiêu thụ. Một hệ thống hiệu quả cần công nghệ phù hợp, cơ chế kiểm soát chất lượng, mạng lưới phân phối và nhu cầu sử dụng ổn định. Nếu chi phí đầu tư, vận hành quá cao hoặc thiếu khách hàng lâu dài, công trình khó phát huy hiệu quả dù đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Theo GS.TS Trần Thị Việt Nga, chuyên gia về công nghệ xử lý nước và nước thải, cần gắn xử lý nước thải với mục tiêu tái sử dụng và thu hồi tài nguyên.
Các công nghệ như màng lọc kỵ khí AnMBR mở ra khả năng xử lý nước phục vụ tái sử dụng, đồng thời thu hồi khí sinh học và một số thành phần có ích. Tuy nhiên, để triển khai trên quy mô đô thị, công nghệ phải đi cùng phương án vận hành và đầu ra phù hợp.
GS.TS Trần Thị Việt Nga, chuyên gia về công nghệ xử lý nước và nước thải
Về môi trường, tái sử dụng nước giúp giảm lượng nước thải xả ra sông, hồ và áp lực lên nguồn nước đô thị. Dù vậy, nước đạt quy chuẩn xả thải không đồng nghĩa đủ điều kiện cho mọi mục đích tái sử dụng. Chất lượng nước cần đáp ứng yêu cầu cụ thể, được giám sát thường xuyên nhằm bảo đảm an toàn cho sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.
Mô hình này có lợi thế tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất tập trung hoặc khu đô thị mới, nơi có nguồn nước thải ổn định, nhu cầu lớn và khoảng cách vận chuyển hợp lý. Tuy nhiên, nước tái sử dụng không mặc nhiên rẻ hơn nước cấp thông thường, bởi chi phí còn phụ thuộc công nghệ, quy mô xử lý và mạng lưới phân phối riêng.
Để nước tái sử dụng trở thành nguồn cung thực sự, đô thị cần xác định nhu cầu đầu ra trước khi lựa chọn công nghệ, đồng thời làm rõ cơ chế quản lý chất lượng, giá nước và trách nhiệm của các bên. Mục tiêu không chỉ là xử lý nước thải đạt chuẩn mà còn tạo ra nguồn nước an toàn, đáp ứng nhu cầu thực tế và có hiệu quả kinh tế. Đây là điều kiện để tái sử dụng nước trở thành một cấu phần thiết thực trong hệ thống cấp thoát nước đô thị.

Từ xử lý được đến bán được: Bài toán vốn, chi phí và đầu ra
Công nghệ xử lý nước thải để đưa trở lại phục vụ sản xuất đã có những bước tiến cụ thể tại Việt Nam. Tuy nhiên, để nước tái sử dụng trở thành sản phẩm có thể mua bán, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời các bài toán về vốn đầu tư, chi phí vận hành, giá bán, đầu ra và trách nhiệm bảo đảm chất lượng.
Các chuyên gia đánh giá, nhóm khách hàng tiềm năng là các khu công nghiệp, nhà máy có nhu cầu nước lớn, ổn định, đặc biệt với những mục đích không yêu cầu chất lượng nước ăn uống. Nguồn cung và nhu cầu càng gần nhau, lợi thế tiết kiệm chi phí phân phối càng rõ. Muốn doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, cần có cam kết về sản lượng mua, mức giá, thời hạn hợp đồng và trách nhiệm khi nước không đạt yêu cầu. Nếu thiếu đầu ra ổn định, hệ thống có thể vận hành dưới công suất, khiến chi phí trên mỗi mét khối tăng cao.
Theo PGS.TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XIII, doanh nghiệp có cơ hội hình thành chuỗi tuần hoàn nước tại chỗ, qua đó giảm chi phí mua nước sạch và hạn chế lượng nước thải xả ra môi trường.
Nhu cầu này cũng mở ra thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ môi trường cung cấp giải pháp xử lý tiên tiến, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cho khu công nghiệp, khu đô thị và cơ sở sản xuất.
PGS.TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng
Nền tảng để thị trường đứng vững
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, niềm tin vào chất lượng nước là điều kiện quyết định khả năng mở rộng thị trường. Doanh nghiệp cần công khai mục đích sử dụng, chỉ tiêu chất lượng, kết quả quan trắc và quy trình ứng phó sự cố. Nước phục vụ làm mát, tưới cây không mặc nhiên phù hợp với mọi công đoạn sản xuất hoặc hoạt động có nguy cơ tiếp xúc trực tiếp với con người. Chất lượng phải được kiểm soát thường xuyên; trách nhiệm của đơn vị xử lý, nhà cung cấp và bên sử dụng cũng cần phân định rõ.
“Thị trường nước tái sử dụng vì thế không thể hình thành chỉ bằng việc đầu tư công nghệ. Giá thành cạnh tranh, đầu ra ổn định, chất lượng được kiểm chứng và trách nhiệm minh bạch phải song hành. Khi những điều kiện đó được đáp ứng, nước thải mới thực sự trở thành nguồn tài nguyên có giá trị, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, giảm áp lực lên nguồn nước tự nhiên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn”.
GS.TS Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội)
GS.TS Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), cho rằng, việc tái sử dụng nước thải tại Việt Nam đang từng bước chuyển từ các hoạt động đơn lẻ trong nội bộ doanh nghiệp sang một giải pháp chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi cung ứng.

Tái sử dụng nước không chỉ là bài toán công nghệ mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị tài nguyên đô thị. Khi nhu cầu nước gia tăng, nguồn nước tự nhiên chịu sức ép từ ô nhiễm, khai thác và biến đổi khí hậu, nước thải sau xử lý cần được nhìn nhận như một nguồn lực có thể thu hồi. Để hiện thực hóa tiềm năng này, công nghệ phải đi cùng hành lang pháp lý, quy hoạch hạ tầng và cơ chế bảo đảm an toàn.
Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và TCVN 12526:2018 về đánh giá an toàn tái sử dụng nước đô thị không dùng cho mục đích uống đã tạo nền tảng cho hướng đi này. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn về chất lượng nước theo từng mục đích sử dụng, chế độ quan trắc và trách nhiệm của các bên.
Tại hội thảo về tuần hoàn nước ngày 28/7/2026, PGS.TS. Nguyễn Việt Anh, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ vận hành đồng bộ. Khi tiêu chuẩn, cơ chế quản lý và trách nhiệm cung ứng chưa rõ ràng, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư quy mô lớn.
Theo PGS.TS. Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, những rào cản lớn nằm ở cơ chế pháp lý, chi phí công nghệ và nhận thức thị trường.

Đô thị có thể tạo ra nguồn nước mới từ nước đã qua sử dụng, nhưng đây là nguồn bổ sung, không thể thay thế hoàn toàn nước tự nhiên. Điều cốt lõi là chuyển nhà máy xử lý nước thải từ điểm cuối của hệ thống thoát nước thành một mắt xích trong chu trình tuần hoàn tài nguyên. Thước đo của quản trị nước hiệu quả không chỉ là cấp đủ nước hay xử lý nước thải đạt chuẩn, mà còn là khả năng đưa nguồn tài nguyên ấy trở lại phục vụ cuộc sống, giảm áp lực lên tự nhiên và tăng sức chống chịu cho đô thị trước những bất định của tương lai.
Thực hiện: Vũ Kiệt




