Môi trường - Tài nguyên

Nước sạch đô thị (Bài 2): Đường đi từ nhà máy đến vòi nước có an toàn?

Nguyễn Thành • 10:20 27/10/2026

Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước sạch từ các nhà máy với những bản kiểm nghiệm đạt quy chuẩn tuyệt đối. Thế nhưng, sau hàng chục kilômét di qua qua mạng lưới ống ngầm chằng chịt, tích trữ trong những bể ngầm, bồn téc chung cư rồi mới chảy ra vòi của từng hộ gia đình, liệu giọt nước ấy có còn giữ được chất lượng ban đầu? Bài toán an toàn nước đô thị không dừng lại ở công suất xử lý của các nhà máy, mà là một hành trình kỹ thuật - pháp lý phức tạp từ nguồn nước thô đến giọt nước cuối cùng đến tay người sử dụng.

thumb.png

Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước sạch từ các nhà máy với những bản kiểm nghiệm đạt quy chuẩn tuyệt đối. Thế nhưng, sau hàng chục kilômét đi qua mạng lưới ống ngầm chằng chịt, tích trữ trong những bể ngầm, bồn téc chung cư rồi mới chảy ra vòi của từng hộ gia đình, liệu giọt nước ấy có còn giữ được chất lượng ban đầu. Bài toán an toàn nước đô thị không dừng lại ở công suất xử lý của các nhà máy, mà là một hành trình kỹ thuật - pháp lý phức tạp từ nguồn nước thô đến giọt nước cuối cùng đến tay người sử dụng.

nguon-nuoc-do-thi-qua-lang-kinh-xanh.png

Hệ thống cấp nước đô thị tại Việt Nam đang chứng kiến sự dịch chuyển chiến lược mang tính bắt buộc về nguồn nước thô. Trước thực trạng suy giảm trữ lượng nghiêm trọng và nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng, asen, amoni tại các tầng nước ngầm ở những đại đô thị như Hà Nội, Hải Phòng hay khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Đồng bằng sông Cửu Long, định hướng quản lý hạ tầng hiện nay là giảm dần quy mô khai thác nước ngầm và chuyển sang phụ thuộc gần như toàn bộ vào nguồn nước mặt.

104244bds5.png
Nguồn nước mặt sông Hồng chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu và hoạt động xả thải sinh hoạt, công nghiệp xuyên suốt lưu vực.

Tuy nhiên, nguồn nước mặt từ các lưu vực sông huyết mạch như hệ thống sông Hồng, sông Đuống, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn hay sông Vu Gia - Thu Bồn đang chịu áp lực rất lớn. Việc kiểm soát chất lượng nước thô gặp nhiều thách thức do dư lượng hóa chất nông nghiệp, nước thải công nghiệp và đặc biệt là hàng triệu mét khối nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả thẳng ra lưu vực mỗi ngày.

Về mặt pháp lý, Luật Tài nguyên nước năm 2023 (Luật số 28/2023/QH15) đã thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ hơn trong việc bảo vệ hành lang nguồn nước và xác định rõ vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 17/01/2026) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 53/2024/NĐ-CP. Nghị định này siết chặt hơn nữa về cơ chế quan trắc, giám sát tự động đối với hoạt động khai thác nguồn nước. Phê duyệt và điều chỉnh lộ trình vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất tại các đô thị. Quy định kịch bản ứng phó khẩn cấp khi nguồn nước thô bị thiếu hụt hoặc đe dọa ô nhiễm.

ung-quoc-dung.png

Theo đó, khu vực khai thác nước thô bắt buộc phải thiết lập 3 đới bảo vệ nghiêm ngặt.

Theo bán kính tính từ công trình thu: Đới nghiêm ngặt (bán kính khoảng 500m) cấm tuyệt đối các hoạt động gây nguy cơ ô nhiễm; tiếp đến là Đới bảo vệ (bán kính khoảng 1.000m) và ngoài cùng là Đới quan sát (bán kính khoảng 1.500m) nhằm chủ động theo dõi, kiểm soát mọi biến động chất lượng nguồn nước từ xa.

so-do-vung-bao-ve-nguon-nuoc.png
Sơ đồ minh họa vùng bảo vệ, kiểm soát chất lượng nguồn nước.

Dù đã có quy định pháp lý, áp lực thực tế lên các nhà máy nước vẫn rất lớn khi chất lượng nước sông biến động theo mùa và phụ thuộc vào hoạt động xả thải của các cơ sở sản xuất trong toàn lưu vực.

18ccfe6b-122f-401f-9891-b4ad0218a683.jpeg

Để đưa nguồn nước mặt biến động về đạt tiêu chuẩn sử dụng, các nhà máy nước sạch đô thị vận hành quy trình xử lý đa tầng khép kín gồm các công đoạn cơ bản. Công tác kiểm soát chất lượng nước tại nhà máy hiện nay được điều chỉnh trực tiếp bởi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-1:2018/BYT do Bộ Y Tế ban hành.

quy-trinh-xu-ly-nuoc-sach-do-thi.png

Quy chuẩn này quy định 99 chỉ tiêu chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt, phân thành 3 nhóm (A, B, C) với tần suất thử nghiệm được quy định cụ thể:

Chỉ tiêu nhóm A (5 chỉ tiêu bắt buộc): Màu sắc, mùi vị, độ đục, độ pH, hàm lượng Clo dư tự do (hoặc chất khử trùng khác). Các chỉ tiêu này phải được đơn vị cấp nước tự kiểm tra nội kiểm với tần suất tối thiểu 01 lần/tuần.

Chỉ tiêu nhóm B (8 chỉ tiêu): Bao gồm vi sinh vật (Coliform, E.coli) và một số chỉ tiêu hóa lý như Nitrit, Nitrat, độ cứng... Kiểm tra với tần suất tối thiểu 01 lần/6 tháng.

Chỉ tiêu nhóm C (86 chỉ tiêu còn lại): Gồm các kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật, phóng xạ... Kiểm tra định kỳ tối thiểu 01 lần/12 tháng.

Bên cạnh kiểm tra thủ công, các đại nhà máy đều trang bị hệ thống trạm quan trắc tự động đo liên tục các thông số chỉ báo nhanh như pH, độ đục, Clo dư, TOC.

quy-trinh-ung-pho-su-co-o-nhiem-nuoc.png

Trong trường hợp phát hiện nguồn nước thô có biến động đột biến (như sự cố vỡ đường ống dẫn dầu, xả thải lén), các nhà máy vận hành kịch bản ứng phó khẩn cấp theo hướng dẫn của Thông tư số 26/2021/TT-BYT và các quy trình kỹ thuật ngành: tự động đóng van thu nước đầu vào, tăng liều lượng hóa chất keo tụ/sát trùng, sục rửa khẩn cấp hệ thống lọc hoặc dừng cấp nước toàn mạng để cô lập nguy cơ ô nhiễm.

diem-cuoi-co-an-toan-tuyet-doi_.png

Dù nước sạch rời cửa nhà máy luôn đạt 100% các chỉ tiêu quy định nhưng câu hỏi đặt ra khi nước chảy ra từ vòi tại hộ gia đình có còn giữ nguyên chất lượng đó hay không?

Thực tế kỹ thuật cho thấy chất lượng nước có xu hướng suy giảm trong quá trình lưu thông qua hệ thống truyền dẫn và phân phối. Mạng lưới ống ngầm xuống cấp và hiện tượng tụt áp. Hệ thống ống truyền dẫn tại nhiều đô thị cũ được lắp đặt từ nhiều năm trước bằng chất liệu ống gang, ống thép chưa qua tráng phủ hiện đại, hiện đã bị bám cặn vôi, gỉ sét và vôi hóa bên trong. Khi hiện tượng suy giảm áp lực nước (tụt áp) hoặc sự cố rò rỉ, vỡ ống, áp suất âm trong đường ống có thể hút các vi sinh vật, hóa chất độc hại từ mạch nước ngầm bẩn và bùn đất bên ngoài thẩm thấu ngược vào mạng lưới.

ba-nguyen-thi-binh-ben-bon-rua.png

Căn cứ quy định tại Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch (được sửa đổi, bổ sung bởi các Nghị định số 124/2011/NĐ-CP, 42/2017/NĐ-CP, 98/2019/NĐ-CP và 85/2024/NĐ-CP), trách nhiệm bảo đảm chất lượng nước của đơn vị cấp nước chính thức kết thúc tại điểm đồng hồ đo nước của người tiêu dùng. Toàn bộ hệ thống hạ tầng phía sau đồng hồ, bao gồm đường ống nội bộ, bể chứa ngầm và bồn téc trên mái thuộc trách nhiệm quản lý, vận hành của chủ sở hữu, Ban quản trị tòa nhà hoặc hộ gia đình.

Thực tế tại nhiều khu tập thể và chung cư cũ cho thấy, bể nước ngầm bằng bê tông qua hàng chục năm sử dụng đã thoái hóa, nứt vỡ. Việc nằm gần hệ thống rãnh thoát nước thải hoặc bể tự hoại tiềm ẩn nguy cơ rò rỉ, ngấm chéo vi sinh vật vào nguồn nước sạch sinh hoạt. Bên cạnh đó, do thiếu quy định ràng buộc và chế tài xử lý cụ thể về tần suất thau rửa định kỳ, không ít nơi bỏ quên công tác vệ sinh bể chứa từ 3 đến 5 năm, dẫn đến tình trạng tích tụ bùn lắng, rêu mốc tạo điều kiện cho vi sinh vật tái phát triển trước khi chảy xuống vòi sử dụng của người dân.

infografik-nuoc-sach-trong-gia-dinh.png

Do lo ngại hiện tượng “ô nhiễm thứ cấp” này, đa số người dân đô thị hiện nay không dám dùng nước máy đun sôi uống trực tiếp. Xu hướng chi tiêu phát sinh như mua máy lọc nước RO/Nano gia đình, thay lõi lọc định kỳ hoặc chi trả chi phí mua nước bình 19L phục vụ ăn uống.

giai-phap-nuoc-sach-tan-voi.png

Các đô thị cần triển khai đồng bộ giải pháp kỹ thuật - hạ tầng. Trước hết, cần bảo vệ triệt để nguồn nước thô từ lưu vực và quyết liệt thay thế hệ thống đường ống xuống cấp. Bảo vệ nguồn nước mặt từ đầu nguồn phải là nền tảng số một; đồng thời, các đô thị cần lập lộ trình thay thế dứt điểm các tuyến ống gang, thép cũ kỹ đã gỉ sét, thoái hóa, nguyên nhân chính gây ra hiện tượng tụt áp, rò rỉ và thẩm thấu ngược các chất độc hại vào mạng lưới.

chatgpt-image-oct-27-2026-07_27_24-am.png

Cùng với đó, việc số hóa hệ thống cấp nước và giảm tỷ lệ thất thoát thông qua công nghệ bản đồ số GIS, SCADA sẽ giúp tối ưu hóa áp lực dòng chảy, kiểm soát lưu lượng và chủ động vô hiệu hóa các điểm nghẽn kỹ thuật từ sớm.

giam-sat-nuoc-thoi-gian-thuc.png

Việc phủ rộng các trạm quan trắc tự động trên toàn tuyến truyền dẫn cho phép nhận diện tức thì các biến động bất thường về chất lượng nước, từ đó giúp nhà máy kịp thời điều chỉnh hóa chất xử lý hoặc cô lập sự cố trước khi dòng nước chạm đến tay người tiêu dùng.

dai-bieu-suy-tu-trong-phong-hop.png

Bàn về cơ chế vận hành, Thạc sĩ Nguyễn Hồng Dương - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bổ sung các công cụ quản lý cấp nước an toàn. Bản chất của cấp nước an toàn là một sơ đồ logic kéo dài liên tục: từ quản lý lưu vực nguồn nước thô, quy trình xử lý tại nhà máy, mạng lưới truyền dẫn, cho tới điểm tiêu thụ cuối cùng. Hệ thống này thiết lập các “rào chắn an toàn” đa tầng, giúp nguy cơ ô nhiễm giảm dần qua từng nấc kiểm soát trước khi chảy ra vòi người dân.

chan-dung-nu-chuyen-gia-ve-nuoc-sach.png

Ở góc nhìn chiến lược, GS.TS Trần Thị Việt Nga - Viện trưởng Viện Công nghệ Cao Việt - Nhật, Giảng viên Cao cấp Trường Đại học Xây dựng Hà Nội khẳng định, tư duy ngành nước đã dịch chuyển từ việc “mở rộng diện bao phủ” sang “bảo đảm cấp nước an toàn, ổn định một cách chủ động”.

Ngoài ra, cần nhanh chóng lấp đầy khoảng trống pháp lý và kiểm soát rủi ro sau đồng hồ, ban hành các chế tài bắt buộc về tần suất kiểm tra, thau rửa định kỳ đối với hệ thống bể chứa ngầm và bồn téc tại các khu chung cư, tập thể là những mắt xích trọng yếu nhưng lâu nay vẫn bị bỏ ngỏ.

Việc công khai minh bạch dữ liệu chất lượng nước trên các nền tảng số sẽ là chiếc cầu nối quan trọng để củng cố niềm tin cộng đồng. Khi các đơn vị cấp nước định kỳ công khai minh bạch các chỉ số kiểm định nhóm A, B, C, người dân không chỉ có cơ sở để giám sát chất lượng nguồn nước sử dụng hằng ngày mà còn từng bước thay đổi thói quen tiêu dùng, hướng tới sự an tâm tuyệt đối với nguồn nước sạch ngay tại vòi.

Bảo đảm an ninh nước sạch đô thị không thể dừng lại ở những con số đạt chuẩn trên bản kiểm nghiệm tại cửa nhà máy, mà phải được đo lường bằng độ an toàn thực tế của từng giọt nước khi chảy ra từ vòi tại mỗi hộ gia đình. Việt Nam cần đồng bộ trong quản trị hạ tầng - kỹ thuật, cho đến việc thiết lập chuỗi “rào chắn an toàn” đa tầng kéo dài từ lưu vực sông đến điểm tiêu thụ cuối cùng.

Nước sạch là an ninh dân sinh và là thước đo chất lượng sống của một đô thị hiện đại. Khi tư duy quản lý chuyển dịch từ ứng phó thụ động sang phòng ngừa chủ động, kết hợp với các công nghệ quan trắc tự động và hạ tầng số hóa, bài toán an toàn nước đô thị mới tìm thấy lời giải.

Bài liên quan
  • Bài 1: Khi nước trở thành bài toán của đô thị
    Một đô thị có thể có hàng triệu mét khối nước sạch mỗi ngày nhưng vẫn chưa thể được xem là “an toàn về nước” nếu nguồn nước thiếu ổn định, mạng lưới cấp nước chưa đồng bộ, nước thải chưa được thu gom, xử lý đầy đủ và hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ đô thị hóa.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Nước sạch đô thị (Bài 2): Đường đi từ nhà máy đến vòi nước có an toàn?
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.