Bài 2: Từ diễn đàn khoa học đến chương trình hành động bảo đảm an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên
Hải Đăng•09/09/2026 12:10
Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên” tại Buôn Ma Thuột ngày 23/5/2026 đã mở ra một cách tiếp cận mới đối với an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên.
Từ những cảnh báo về hạn hán, thiếu nước, suy giảm nước dưới đất đến các sáng kiến về trữ nước, thủy lợi xanh, chuyển đổi số, cấp nước đa nguồn và khai thác giá trị kinh tế của tài nguyên nước, Hội thảo – Tọa đàm tại Buôn Ma Thuột ngày 23/5/2026 đã mở ra một cách tiếp cận mới đối với an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên.
Khi những rủi ro khí hậu cực đoan tiếp tục gia tăng, vấn đề đặt ra sau diễn đàn không còn chỉ là “có giải pháp gì”, mà là làm thế nào chuyển các sáng kiến khoa học, khuyến nghị chính sách và ý tưởng đầu tư thành những chương trình hành động liên vùng, có dữ liệu, có nguồn lực và có khả năng triển khai thực tế.
Từ một hội thảo, hình thành một “bức tranh chung” về an ninh nguồn nước
Ngày 23/5/2026, tại Buôn Ma Thuột, Hội Nước và Môi trường Việt Nam phối hợp với Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia và UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo – Tọa đàm “Quản lý, sử dụng và xúc tiến đầu tư phát triển tài nguyên nước gắn với nông nghiệp, nông thôn mới và năng lượng xanh miền Trung – Tây Nguyên”. Diễn đàn quy tụ đại diện cơ quan quản lý, các nhà khoa học, chuyên gia tài nguyên nước, địa phương và doanh nghiệp, tạo nên một không gian trao đổi tương đối toàn diện về bài toán nước của một trong những vùng chịu sức ép lớn nhất từ biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan.
Toàn cảnh buổi Hội thảo – Tọa đàm
Nếu nhìn từ mục tiêu của chuyên đề “An ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan”, giá trị đáng chú ý nhất của Hội thảo nằm ở chỗ các tham luận đã không tiếp cận tài nguyên nước như một vấn đề riêng lẻ của ngành thủy lợi. Nước được đặt trong mối quan hệ với nông nghiệp, sinh kế, nông thôn mới, năng lượng, môi trường, chuyển đổi số, đầu tư và phát triển kinh tế xanh.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, nhấn mạnh: “Tài nguyên nước là nguồn lực thiết yếu của sự sống”, đồng thời giữ vai trò nền tảng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh môi trường và an ninh quốc gia. Từ cách nhìn này, ông cho rằng Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã thể hiện định hướng chuyển từ tư duy “khai thác” sang “quản trị tổng hợp tài nguyên nước”, từ phát triển đơn ngành sang phát triển tích hợp đa ngành, đa mục tiêu và đa giá trị.
Đây cũng chính là thông điệp xuyên suốt có thể rút ra từ Hội thảo - Toạ đàm tại Buôn Ma Thuột. Bởi với miền Trung – Tây Nguyên, bài toán an ninh nguồn nước không đơn giản là xây thêm hồ chứa hay tìm thêm nguồn nước dưới đất. Vấn đề nằm ở việc làm sao biết chính xác lượng nước hiện có, nước đang được phân bổ cho những mục đích nào, khả năng chịu tải của từng lưu vực đến đâu, khu vực nào có nguy cơ thiếu nước, thời điểm nào phải điều chỉnh sản xuất và nguồn lực nào cần được huy động trước khi khủng hoảng xảy ra.
Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, miền Trung – Tây Nguyên có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế, sinh thái, quốc phòng – an ninh và phát triển liên vùng, đồng thời sở hữu tiềm năng lớn về nước mặt, nước dưới đất, thủy điện và các hệ sinh thái đặc thù. Nhưng nghịch lý của vùng là song hành với tiềm năng đó lại là những nguy cơ ngày càng rõ rệt về hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, ô nhiễm và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.
Quan điểm này được cụ thể hóa qua báo cáo của GS. Phạm Quý Nhân, Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam. Theo báo cáo dẫn đề “Tài nguyên nước miền Trung – Tây Nguyên: Thực trạng, thách thức và định hướng phát triển bền vững”, khu vực sở hữu nhiều lưu vực sông quan trọng như Vu Gia – Thu Bồn, Trà Khúc, Ba, Sê San, Srêpốk và Đồng Nai, đồng thời là vùng sinh thủy quan trọng với rừng đầu nguồn và các tầng chứa nước bazan.
Một số lưu vực có tổng lượng dòng chảy trung bình năm lớn, trong đó lưu vực Đồng Nai khoảng 39,98 tỷ m³/năm, Vu Gia – Thu Bồn khoảng 19,35 tỷ m³/năm, Srêpốk khoảng 18,4 tỷ m³/năm và Sê San khoảng 12,84 tỷ m³/năm. Nhưng nguồn nước lại phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Khoảng 60–80% lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô kéo dài nhiều tháng. Chính sự lệch pha giữa “nước thừa” và “nước thiếu” khiến an ninh nguồn nước trở thành bài toán điều phối và quản trị, chứ không đơn thuần là bài toán về tổng lượng nước.
Đáng chú ý, những cảnh báo này vẫn có ý nghĩa thời sự sau Hội thảo. Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước mùa mưa năm 2026 của Trung tâm Cảnh báo và Dự báo tài nguyên nước được công bố tháng 6/2026 tiếp tục theo dõi cả nước mặt, nước dưới đất và chất lượng nước tại Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Quảng Ngãi. Đối với phía Tây Đắk Lắk, tổng lượng nước mùa khô 2025–2026 trên sông Ea Krông Nô tại trạm Đức Xuyên khoảng 343,6 triệu m³, thấp hơn mùa khô trước; trong khi một số tầng chứa nước dưới đất có xu thế dâng trong mùa mưa nhưng vẫn cần tiếp tục quan trắc.
“
Điều đó cho thấy Hội thảo tại Buôn Ma Thuột không phải là một diễn đàn chỉ để tổng kết những vấn đề đã xảy ra. Các cảnh báo được đưa ra tại đây tiếp tục đặt nền móng cho yêu cầu quản trị nguồn nước theo thời gian thực, dựa trên dữ liệu và dự báo.
Từ "cảnh báo hạn hán" đến yêu cầu "chủ động nguồn nước"
Từ Hội thảo, một trong những kết quả quan trọng là sự thống nhất khá rõ về việc phải chuyển từ tư duy ứng phó khi hạn hán xảy ra sang chủ động quản trị rủi ro trước khi thiếu nước trở thành khủng hoảng.
Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia cho rằng, hạn hán, thiếu nước đã trở thành một trong những thách thức lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh tại miền Trung – Tây Nguyên. Tây Nguyên được đánh giá là khu vực có nguy cơ hạn hán cao, trong khi địa hình dốc, mùa mưa ngắn và khả năng tích trữ nước còn hạn chế.
Riêng mùa khô năm 2024, Đắk Lắk có hơn 27.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi hạn và thiếu nước, thiệt hại ước tính hơn 155 tỷ đồng. Đáng chú ý, nguyên nhân không chỉ nằm ở suy giảm lượng mưa, El Niño hay biến đổi khí hậu, mà còn liên quan tới khai thác nước quá mức, ô nhiễm nguồn nước, phát triển thiếu quy hoạch và suy giảm rừng đầu nguồn.
Từ thực tế đó, đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia đưa ra một nhóm giải pháp có thể xem là “khung hành động” đầu tiên sau Hội thảo: Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm hạn hán và thiếu nước; kiểm kê nguồn nước; đánh giá nhu cầu sử dụng nước; xây dựng kịch bản nguồn nước cho từng lưu vực, từng địa phương; đầu tư các công trình tích trữ, điều tiết; nâng cao hiệu quả vận hành liên hồ chứa; sử dụng nước tiết kiệm; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông.
Đây là hướng tiếp cận càng có ý nghĩa khi bước sang nửa cuối năm 2026, cơ quan chuyên môn đã cảnh báo về khả năng El Niño có thể đạt cường độ rất mạnh vào cuối năm. Nếu kịch bản này xảy ra, Việt Nam có thể đối mặt nền nhiệt cao hơn trung bình nhiều năm và lượng mưa thiếu hụt trên diện rộng, đặc biệt tại Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan chuyên môn vì vậy đã phải xây dựng các kịch bản ứng phó sớm để bảo đảm nguồn nước cho sản xuất và dân sinh.
Như vậy, một trong những “đầu việc” rõ ràng nhất sau Hội thảo là biến dự báo thành công cụ điều hành. Nếu dữ liệu về lượng mưa, dòng chảy, mực nước hồ, nước dưới đất, nhu cầu tưới và nhu cầu dân sinh được cập nhật thường xuyên, địa phương có thể điều chỉnh mùa vụ, cơ cấu cây trồng, lịch cấp nước và phương án vận hành hồ trước khi nguồn nước xuống dưới ngưỡng an toàn.
Ở cấp địa phương, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho biết sau khi mở rộng không gian phát triển trên cơ sở hợp nhất với Phú Yên, địa phương hình thành một không gian tài nguyên nước rất đa dạng, từ hệ thống sông suối vùng cao, hồ chứa thủy lợi – thủy điện, nước dưới đất đến đầm phá ven biển và các khu vực thường xuyên chịu hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.
Đắk Lắk hiện có 1.208 công trình thủy lợi, trong đó 676 đập và hồ chứa với tổng dung tích khoảng 800 triệu m³. Tuy nhiên, nhiều công trình đã xuống cấp, bồi lắng và không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu thiết kế. Trong khi đó, mùa mưa tập trung trong thời gian ngắn còn mùa khô kéo dài 5–6 tháng.
Từ thực trạng này, địa phương xác định hướng quản lý tài nguyên nước phải gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp xanh, tưới tiết kiệm, ứng dụng công nghệ số, nâng cấp hồ chứa và thủy lợi. Đặc biệt, các mô hình cấp nước nông thôn kết hợp năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước, thu gom nước mưa và bảo vệ rừng đầu nguồn được đặt ra như những hướng đi có thể triển khai.
“
Đây là một bước chuyển quan trọng: Thay vì chỉ nhìn hồ chứa như công trình cấp nước, hồ chứa phải trở thành một mắt xích trong hệ thống điều tiết tổng hợp; thay vì coi nước dưới đất là nguồn dự trữ vô hạn, phải coi đây là nguồn chiến lược cần được kiểm soát khai thác; và thay vì xem nước mưa là nguồn gây ngập, cần từng bước coi nước mưa là nguồn tài nguyên cần được thu gom và lưu giữ.
Những sáng kiến mở đường cho liên kết vùng
Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Hội thảo là các giải pháp không dừng ở quy mô công trình mà đã mở rộng sang các mô hình quản trị, công nghệ và đầu tư.
TS Triệu Đức Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, tập trung vào một vấn đề rất cụ thể: Bảo đảm nước sinh hoạt cho vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những khu vực dân cư phân tán. Đây là những nơi bài toán nước không thể giải quyết bằng một mô hình cấp nước duy nhất bởi địa hình chia cắt, dân cư thưa, chi phí đầu tư và vận hành lớn.
Theo TS Triệu Đức Huy, nước dưới đất có thể trở thành nguồn chiến lược cho những khu vực này trong mùa khô nếu được điều tra, đánh giá và khai thác đúng cách. Các trạm cấp nước quy mô nhỏ, cụm dân cư hoặc điểm công cộng có thể kết hợp bơm điện lưới với năng lượng mặt trời để giảm chi phí vận hành.
Kết quả Dự án điều tra, tìm kiếm nguồn nước tại các vùng núi cao và khan hiếm nước cho thấy 39/40 tỉnh đã triển khai, 277/286 vùng được xác định đủ điều kiện khai thác với tổng lưu lượng khoảng 145.888 m³/ngày đêm, có khả năng cung cấp nước cho khoảng 1,46 triệu người. Đây là một nguồn lực khoa học đáng kể để chuyển từ tư duy “đi tìm nước khi thiếu” sang chủ động xây dựng bản đồ nguồn nước chiến lược cho từng cộng đồng.
Một sáng kiến khác có ý nghĩa dài hạn là mô hình “Thủy lợi xanh” được TS Lê Thị Mai Vân, Viện Quy hoạch Thủy lợi, đề xuất. Theo bà, hệ thống thủy lợi cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái tài nguyên tuần hoàn, được quản trị thông minh trên nền tảng số.
Mô hình này dựa trên 4 trụ cột: sử dụng hiệu quả và tái sử dụng tài nguyên nước; giảm ô nhiễm và phát thải; vận hành thông minh trên nền tảng số; khai thác đa mục tiêu gắn với bảo vệ môi trường.
Điểm đáng chú ý của sáng kiến này là kết nối được những yếu tố vốn thường được quản lý riêng rẽ. Nước, công trình, môi trường, năng lượng và dữ liệu được đặt trong cùng một hệ thống. Các công nghệ như IoT, AI, cảm biến, SCADA, Digital Twin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định có thể giúp chuyển việc điều hành từ kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu.
Trong bối cảnh miền Trung – Tây Nguyên thường xuyên đứng trước hai trạng thái cực đoan là thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô, cách tiếp cận này đặc biệt có giá trị. Một hồ chứa không chỉ có nhiệm vụ tích nước mà còn phải được tính toán để phục vụ nhiều mục tiêu; một hệ thống thủy lợi không chỉ cấp nước mà còn phải giảm thất thoát, tái sử dụng nước, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Trường Sơn, Ủy viên BCH Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Kiến Tạo Xanh Group, đưa ra định hướng đầu tư vào công nghệ xanh và công nghệ số để giải quyết đồng thời các vấn đề về nước sạch, nước thải, năng lượng và quản trị tài nguyên.
“
Những đề xuất trên đã cho thấy một hướng liên kết mới: Bảo đảm an ninh nguồn nước không nhất thiết chỉ dựa vào ngân sách nhà nước. Nếu hình thành được cơ chế phù hợp, doanh nghiệp có thể tham gia vào đầu tư cấp nước, xử lý nước thải, tái sử dụng nước, năng lượng cho các công trình cấp nước và số hóa quản lý. Từ diễn đàn khoa học, vấn đề vì vậy đã bắt đầu chuyển sang câu chuyện của thị trường và đầu tư.
Từ điểm xuất phát đến chương trình hành động liên vùng
Nếu coi Hội thảo tại Buôn Ma Thuột là điểm xuất phát, bước tiếp theo quan trọng nhất là thiết lập được cơ chế liên kết vùng thực chất. Đây là yêu cầu tất yếu bởi nước không tuân theo địa giới hành chính.
Các lưu vực sông Ba, Sê San, Srêpốk, Đồng Nai, Vu Gia – Thu Bồn hay Trà Khúc đều có mối liên hệ giữa thượng nguồn và hạ du. Một quyết định khai thác, tích nước, chuyển nước hoặc sử dụng nước ở thượng nguồn có thể tạo ra tác động đối với khu vực phía dưới. Vì vậy, quản lý theo từng địa phương riêng biệt sẽ khó giải quyết được các xung đột về nước trong tương lai.
Luật Tài nguyên nước số 28/2023/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, đã xác lập khuôn khổ pháp lý mới cho quản lý tài nguyên nước. Tinh thần quản lý tổng hợp, thống nhất theo lưu vực sông vì vậy cần được cụ thể hóa thành cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và điều phối nguồn nước giữa các địa phương.
Đây cũng là điểm mà Hội Nước và Môi trường Việt Nam có thể tiếp tục phát huy vai trò cầu nối. Ngay tại Hội thảo, ông Chu Phạm Ngọc Hiển khẳng định Hội mong muốn tạo diễn đàn để cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương cùng trao đổi, đề xuất giải pháp; đồng thời thúc đẩy kết nối đầu tư, hình thành các chương trình hợp tác và dự án ưu tiên phù hợp với thực tiễn miền Trung – Tây Nguyên.
Ở cấp quốc gia, yêu cầu biến các khuyến nghị thành chương trình hành động cũng đang được đặt ra. Trong các nhiệm vụ triển khai năm 2026, Chính phủ xác định việc hoàn thiện Đề án bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước là một nhiệm vụ quan trọng, với Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì và các địa phương, bộ ngành liên quan phối hợp thực hiện.
Đồng thời, định hướng xây dựng các hồ chứa lớn tại Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và các khu vực có nguy cơ thiếu nước cũng được đưa vào nhóm nhiệm vụ cần triển khai trong giai đoạn tới. Điều này mở ra cơ hội để các đề xuất từ Hội thảo tại Buôn Ma Thuột được kết nối với các chương trình, đề án cấp quốc gia thay vì dừng lại ở phạm vi hội thảo.
Một hướng liên kết khác được PGS.TS Nguyễn Văn Lâm, Chủ tịch Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam, đề cập là khai thác giá trị kinh tế của nước khoáng, nước nóng và địa nhiệt. Miền Trung – Tây Nguyên có 94 nguồn nước khoáng, nước nóng thiên nhiên trong tổng số hơn 400 nguồn được phát hiện trên cả nước. Theo ông, nguồn tài nguyên này có thể được phát triển theo hướng kết hợp đóng chai với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; đồng thời nghiên cứu sử dụng địa nhiệt cho phát điện, sấy nông sản, nuôi trồng thủy sản và sản xuất công nghiệp.
Quan điểm này giúp mở rộng khái niệm “an ninh nguồn nước”. Bảo vệ nguồn nước không chỉ nhằm bảo đảm đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất mà còn phải bảo vệ được giá trị kinh tế, sinh thái và văn hóa mà nguồn nước tạo ra. Khi nguồn nước trở thành một phần của chuỗi giá trị địa phương, cộng đồng và doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để bảo vệ tài nguyên.
Từ các tham luận tại Hội thảo Buôn Ma Thuột có thể hình dung một chương trình hành động liên vùng theo nhiều lớp: Trước hết là xây dựng và liên thông cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; tiếp đó là thiết lập hệ thống dự báo, cảnh báo và kịch bản nguồn nước; đồng thời đầu tư các công trình trữ và điều tiết phù hợp; chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo khả năng nguồn nước; kiểm soát khai thác nước dưới đất; phục hồi rừng đầu nguồn; phát triển cấp nước đa nguồn cho vùng khó khăn; đẩy mạnh tái sử dụng nước và thủy lợi xanh; cuối cùng là hình thành danh mục dự án ưu tiên để thu hút doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội.
Quan trọng hơn, mỗi nhóm giải pháp cần có một cơ quan chịu trách nhiệm, một nguồn lực tài chính, một mốc thời gian và một hệ thống chỉ số để đánh giá kết quả. Nếu không có những điều kiện đó, các khuyến nghị rất dễ dừng lại ở cấp độ ý tưởng.
“
Hội thảo tại Buôn Ma Thuột vì vậy có thể được nhìn nhận như một “điểm nối” giữa khoa học và chính sách, giữa quản lý nhà nước và thị trường, giữa nhu cầu cấp bách trước mắt với chiến lược dài hạn. Những sáng kiến về trữ nước đa quy mô, cấp nước đa nguồn, thủy lợi xanh, AI, năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước hay khai thác giá trị nước khoáng đều có thể trở thành những mảnh ghép của một chương trình lớn hơn về an ninh nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm cho các cực đoan về nước ngày càng khó dự đoán, yêu cầu cấp thiết không phải là chờ đến khi hồ cạn mới tìm nước, hay chờ đến khi lũ xảy ra mới vận hành hồ. Cách tiếp cận cần chuyển sang quản trị rủi ro: biết trước nguy cơ, có dữ liệu để dự báo, có kịch bản để lựa chọn, có công trình để điều tiết, có công nghệ để giám sát và có cơ chế liên vùng để phối hợp.
Bản tin cảnh báo nguồn nước mùa mưa 2026 hiện đã cho thấy các cơ quan chuyên môn đang từng bước xây dựng hệ thống theo dõi đồng thời nước mặt, nước dưới đất và chất lượng nước, kèm các khuyến nghị phục vụ quản lý, khai thác và sử dụng nước. Đây chính là nền tảng để các địa phương tiến thêm một bước: từ “có dữ liệu” sang “dùng dữ liệu để ra quyết định”.
Và đó cũng là thước đo quan trọng nhất cho giá trị của Hội thảo này. Một diễn đàn khoa học chỉ thực sự tạo ra giá trị khi những cảnh báo được chuyển thành chính sách, những sáng kiến được chuyển thành mô hình, những mô hình được chuyển thành dự án và các dự án được kết nối thành chương trình hành động.
Đối với miền Trung – Tây Nguyên, nơi mùa khô có thể kéo dài nhiều tháng, nơi nguồn nước phân bố không đều và nơi biến đổi khí hậu ngày càng làm gia tăng những bất định về mưa, hạn và lũ, thời gian để chuyển từ “ứng phó” sang “chủ động” không còn nhiều.
Từ Buôn Ma Thuột, thông điệp đó đã được đặt lên bàn. Chặng đường tiếp theo là biến sự đồng thuận giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương thành những hành động cụ thể để bảo đảm rằng nguồn nước không chỉ đủ cho hôm nay, mà còn đủ sức chống chịu trước những biến động khí hậu ngày càng khắc nghiệt của ngày mai.
Biến đổi khí hậu, suy giảm rừng đầu nguồn và nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng đang khiến Tây Nguyên đối mặt với nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng trong mùa khô.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Một đô thị có thể có hàng triệu mét khối nước sạch mỗi ngày nhưng vẫn chưa thể được xem là “an toàn về nước” nếu nguồn nước thiếu ổn định, mạng lưới cấp nước chưa đồng bộ, nước thải chưa được thu gom, xử lý đầy đủ và hệ thống thoát nước không theo kịp tốc độ đô thị hóa.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến mưa cực đoan và ngập lụt đô thị ngày càng khó lường, tư duy chống ngập không thể chỉ dừng ở việc mở rộng cống thoát nước hay tăng công suất trạm bơm.
Những trận mưa lớn liên tiếp đầu tháng 10 khiến nhiều tuyến đường tại TP.HCM ngập nước, giao thông gặp khó khăn. Trước thực trạng ngập úng tái diễn tại nhiều khu vực, thành phố dự kiến triển khai 87 dự án chống ngập trong giai đoạn 2026-2030, với tổng nguồn vốn khoảng 140.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, để giải quyết căn cơ bài toán này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng đầu tư hạ tầng mà còn phải khắc phục những điểm nghẽn trong toàn bộ hệ thống thoát nước đô thị.
Tình trạng ngập úng tái diễn tại nhiều đô thị, cùng những bất cập trong cấp nước và xử lý nước thải đang đặt ra yêu cầu Thanh Hóa phải đồng bộ lại hạ tầng kỹ thuật với quá trình phát triển đô thị, trong đó giải pháp thoát nước, chống ngập cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch.
UBND TP Hồ Chí Minh đã phê duyệt dự án Cải thiện hệ thống thoát nước, nước thải và thích ứng với biến đổi khí hậu tại lưu vực Tây Sài Gòn (CRUS2), với tổng mức đầu tư khoảng 7.688 tỷ đồng, nhằm giảm ngập, ô nhiễm môi trường và nâng cao khả năng thích ứng của đô thị trước tác động của biến đổi khí hậu.
Miền Trung – Tây Nguyên đang đối mặt nghịch lý nguồn nước: có nơi thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô nhưng lại hứng chịu lũ lụt, sạt lở khi mưa cực đoan. Biến đổi khí hậu khiến ranh giới thừa – thiếu nước ngày càng khó lường, bộc lộ những giới hạn của cách ứng phó bị động. Từ những phân tích về nguồn nước, hạ tầng, dữ liệu và cơ chế quản lý, chuyên đề đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang quản trị chủ động theo lưu vực, dựa trên dữ liệu, thể chế và năng lực thích ứng.
Quản trị nước đô thị không thể chỉ dừng ở mở rộng cấp nước, xử lý nước thải hay chống ngập riêng lẻ, mà cần một chiến lược đồng bộ từ quy hoạch, bảo vệ nguồn nước đến sử dụng và tuần hoàn tài nguyên. Khi đô thị hóa và biến đổi khí hậu gia tăng sức ép, hiệu quả quản trị nước chính là thước đo tầm nhìn quy hoạch và chất lượng phát triển đô thị.
Sạt lở bờ sông Vàm Cỏ Tây đoạn qua xã Thạnh Phước, tỉnh Tây Ninh, diễn biến nghiêm trọng với chiều dài khoảng 125 m, đe dọa nhà dân và công trình tôn giáo. Địa phương đã công bố tình huống khẩn cấp, triển khai các biện pháp kiểm soát nguy cơ, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.
Từ ngày 26/10 đến 26/11/2026, Đắk Lắk triển khai chiến dịch 30 ngày đêm chuẩn hóa canh tác sầu riêng tại 35 xã, phường với 76 lớp tập huấn kỹ thuật VietGAP. Hoạt động nhằm nâng cao chất lượng nông sản, quản lý tài nguyên hiệu quả và thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.
Trước nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn do ảnh hưởng của El Nino, UBND tỉnh Hà Tĩnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương, đơn vị liên quan chủ động rà soát nguồn nước, xây dựng phương án điều tiết, phân phối và sử dụng tiết kiệm, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và nguồn nước phục vụ vụ Xuân năm 2027.
Bão Champi gây ảnh hưởng nghiêm trọng tại Đài Loan, khiến 931 chuyến bay bị hủy, nhiều trường học đóng cửa. Chính quyền sơ tán gần 1.300 người, cảnh báo nguy cơ mưa lớn, ngập lụt và sạt lở đất.
Chuyển đổi phương tiện sử dụng xăng, dầu sang điện và năng lượng sạch đang được Hà Nội và TP.HCM thúc đẩy thông qua các lộ trình cụ thể, gắn với chính sách hỗ trợ và phát triển hạ tầng sạc. Đây là bước đi quan trọng nhằm giảm khí thải giao thông, cải thiện chất lượng không khí và hướng tới mục tiêu phát triển đô thị xanh.
Khoảng 41.000 m³ trạc thải tồn đọng tại phường Thượng Cát, Hà Nội, đang được xử lý bằng công nghệ tái chế. Cùng với đó, địa phương bố trí các điểm tập kết tạm thời nhằm đáp ứng nhu cầu đổ thải và tăng cường kiểm soát tình trạng đổ trộm phế thải xây dựng.
Triều cường tại TP.HCM được dự báo đạt đỉnh trong các ngày 27-29/10, với mực nước vượt báo động 3, tiềm ẩn nguy cơ ngập sâu tại nhiều khu vực thấp trũng. Trong khi đó, Đắk Lắk đang triển khai các giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu nước sinh hoạt và nước tưới trong mùa khô 2026-2027.
Nhằm bảo đảm nguồn nước sinh hoạt trong mùa cạn 2026–2027, tỉnh Hưng Yên đang rà soát năng lực cấp nước, xây dựng phương án ứng phó nguy cơ thiếu nước, đồng thời xác định các nguồn nước mặt suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần ưu tiên phục hồi.
Gần 1.000 chuyến bay bị hủy, trường học và công sở đồng loạt đóng cửa, hàng nghìn người phải sơ tán là những tác động đáng chú ý khi bão Champi tiến sát Đài Loan (Trung Quốc). Dù đã suy yếu sau khi đạt cấp siêu bão, cơn bão vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây gió mạnh, mưa lớn và kéo dài tình trạng gián đoạn các hoạt động dân sinh.