An ninh nguồn nước

Hà Nội: Phục hồi sông ô nhiễm từ giải pháp toàn lưu vực

Khánh An • 26/10/2026 19:00

Phục hồi các dòng sông ô nhiễm tại Hà Nội đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể trên toàn lưu vực, từ kiểm soát nguồn thải, đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải đến duy trì dòng chảy, tăng cường quan trắc và chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương. Trong đó, xác định rõ trách nhiệm phối hợp liên tỉnh và huy động nguồn lực được xem là những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả phục hồi chất lượng nguồn nước.

Kiểm soát nguồn thải, tháo gỡ vướng mắc trong phục hồi sông

Tại buổi làm việc giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với UBND thành phố Hà Nội về công tác bảo vệ môi trường ngày 21/10/2026, vấn đề quản lý chất lượng nước và phục hồi các dòng sông ô nhiễm tiếp tục được đặt ra với yêu cầu tăng cường phối hợp giữa Trung ương và địa phương, nhất là đối với các lưu vực sông liên tỉnh.

Thực tế cho thấy, ô nhiễm nguồn nước không chỉ phát sinh từ một địa bàn mà có thể bắt nguồn từ nhiều khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất và làng nghề nằm dọc lưu vực. Vì vậy, nếu chỉ tập trung xử lý trong phạm vi hành chính của từng địa phương, hiệu quả cải thiện chất lượng nước sẽ khó đạt được như kỳ vọng.

o-nhiem-song-ha-noi.jpg
Ảnh minh họa

Một trong những khó khăn hiện nay là cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong tổ chức thực hiện các chương trình phục hồi sông chưa thực sự đồng bộ. Các vấn đề về cơ quan chủ trì, phân bổ kinh phí, chia sẻ dữ liệu quan trắc và phối hợp vận hành công trình cần tiếp tục được làm rõ. Bên cạnh đó, việc tái sử dụng nước thải sau xử lý để bổ sung nguồn nước, cải thiện chất lượng nước sông và hồ đô thị cũng cần có hướng dẫn kỹ thuật phù hợp.

Trước yêu cầu này, Hà Nội kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường vai trò điều phối các chương trình phục hồi sông liên tỉnh theo thẩm quyền; đồng thời xây dựng cơ chế xác định trách nhiệm, huy động và phân bổ nguồn lực giữa các địa phương. Việc kết nối dữ liệu quan trắc, thống nhất phương thức kiểm soát chất lượng nước và phối hợp vận hành các công trình thủy lợi cũng cần được triển khai theo hướng liên thông toàn lưu vực.

Đối với lưu vực sông Nhuệ - Đáy và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, công tác rà soát nguồn thải đã thống kê 174 nguồn thải trên địa bàn Hà Nội, bao gồm các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, khu đô thị và làng nghề. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá áp lực lên môi trường nước, xác định các khu vực cần ưu tiên kiểm soát và xây dựng giải pháp xử lý phù hợp.

Cùng với việc thống kê nguồn thải, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức đánh giá sức chịu tải, xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng nước đối với sông Hồng, sông Nhuệ - Đáy và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải giai đoạn 2026-2030. Kế hoạch dự kiến được trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2026.

Khi kế hoạch được ban hành, việc công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của môi trường nước mặt sẽ tạo cơ sở để các địa phương kiểm soát hoạt động xả thải, xác định khu vực cần hạn chế tiếp nhận thêm nguồn ô nhiễm và lựa chọn giải pháp bảo vệ nguồn nước theo điều kiện thực tế.

Một trong những dự án đang được triển khai là dự án thành phần đầu tư xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải lưu vực sông Cầu Bây. Dự án đã được cấp giấy phép môi trường ngày 1/10/2026 và khởi công ngày 10/10/2026.

Việc triển khai các hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung được kỳ vọng góp phần giảm lượng chất ô nhiễm đổ trực tiếp vào sông. Tuy nhiên, hiệu quả phục hồi nguồn nước còn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát các nguồn thải phân tán, mức độ bao phủ của mạng lưới thu gom, công suất xử lý thực tế và việc duy trì vận hành công trình sau đầu tư.

Do đó, bên cạnh đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng, Hà Nội cần tiếp tục rà soát toàn bộ nguồn thải trên địa bàn, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ sở phát sinh nước thải và tăng cường kiểm tra việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường.

Duy trì dòng chảy, kết hợp nhiều giải pháp phục hồi nguồn nước


Xử lý nước thải là điều kiện cần nhưng chưa đủ để phục hồi các dòng sông ô nhiễm. Đối với những dòng sông chịu áp lực ô nhiễm kéo dài, việc cải thiện chất lượng nước còn cần gắn với bảo đảm dòng chảy, nâng cao khả năng tự làm sạch của nguồn nước và quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác, sử dụng nước.

Trong hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, quy trình vận hành có nội dung sử dụng trạm bơm dã chiến Xuân Quan để hỗ trợ tạo dòng chảy trên một số trục kênh. Giải pháp này góp phần tăng cường lưu thông nước, hỗ trợ quá trình tự làm sạch và cải thiện điều kiện môi trường tại những khu vực bị ô nhiễm.

Tuy nhiên, việc bổ sung nước và duy trì dòng chảy cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá chất lượng nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước và khả năng tiếp nhận của từng khu vực. Nếu không kiểm soát tốt nguồn thải, việc tăng lưu lượng dòng chảy chỉ có thể hỗ trợ cải thiện điều kiện thủy văn, khó thay thế yêu cầu xử lý ô nhiễm tại nguồn.

Cùng với đó, cần tăng cường quan trắc chất lượng nước, xác định các đoạn sông, kênh có dấu hiệu suy thoái nghiêm trọng và những khu vực không còn khả năng tiếp nhận thêm nước thải. Kết quả quan trắc phải được sử dụng trực tiếp trong quá trình cấp phép xả thải, quản lý nguồn thải và xây dựng phương án phục hồi nguồn nước.

Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kế hoạch và danh mục các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt cần được phục hồi dự kiến trình trong tháng 11/2026. Đồng thời, đề án thí điểm cải tạo, phục hồi nguồn nước tại các lưu vực sông trong giai đoạn 2026-2030 đang được triển khai, trong đó có sông Nhuệ, sông Đáy và sông Hồng.

Định hướng của đề án là xây dựng giải pháp tổng thể trên toàn lưu vực, xác định trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương, đồng thời phát huy hiệu quả các dự án đã và đang triển khai. Việc cải tạo hành lang ven sông cũng được đặt ra nhằm kết hợp phục hồi môi trường nước với cải thiện cảnh quan và không gian sinh thái.

Một yêu cầu khác là tăng cường phối hợp trong vận hành hồ chứa, bảo đảm nguồn nước cho khu vực hạ du, nhất là vào mùa khô. Việc điều tiết nguồn nước cần kết hợp giải pháp công trình với cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nước và hỗ trợ duy trì dòng chảy tại các khu vực cần phục hồi.

Về lâu dài, việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, dự kiến vận hành năm 2028, sẽ tạo điều kiện tăng cường kết nối và chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương. Trong thời gian chờ hệ thống này, Hà Nội cần đẩy mạnh cập nhật dữ liệu về khai thác, sử dụng nước vào hệ thống giám sát hiện có, bảo đảm thông tin phục vụ quản lý được cập nhật thường xuyên và có khả năng đối chiếu.

Đối với nguồn nước dưới đất, việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng và vận hành các nhà máy nước mặt theo quy hoạch cũng là nhiệm vụ cần được chú trọng. Khi nguồn cấp nước mặt đáp ứng nhu cầu, thành phố có điều kiện giảm dần khai thác nước dưới đất, góp phần bảo vệ tài nguyên nước và hạn chế nguy cơ suy giảm nguồn nước ngầm.

Cần cơ chế đồng bộ và trách nhiệm rõ ràng


Để phục hồi các dòng sông ô nhiễm đạt hiệu quả thực chất, Hà Nội cần tiếp tục đẩy nhanh kế hoạch kiểm soát, xử lý ô nhiễm sông Cầu Bây đến năm 2030, gắn với hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Cùng với đầu tư hạ tầng, việc xử lý tận gốc các nguồn gây ô nhiễm phải được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, tránh tình trạng công trình hoàn thành nhưng chất lượng nước không được cải thiện tương xứng.

Thành phố cũng cần sớm hoàn thiện định mức, đơn giá thu gom và xử lý nước thải áp dụng trên địa bàn; nghiên cứu cơ chế ưu đãi phù hợp để thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Việc bảo đảm nguồn vốn cho vận hành, bảo dưỡng công trình cần được tính toán ngay từ giai đoạn lập dự án, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực đầu tư ban đầu.

Ở cấp độ liên tỉnh, việc phối hợp phục hồi sông Nhuệ - Đáy và các nguồn nước có liên quan cần được triển khai trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm, thống nhất mục tiêu và chia sẻ dữ liệu. Các địa phương trong cùng lưu vực cần có cơ chế phối hợp thường xuyên, cùng đánh giá diễn biến chất lượng nước, xác định thứ tự ưu tiên xử lý và theo dõi kết quả thực hiện.

Bên cạnh đó, các quy chuẩn, tiêu chuẩn và định mức kỹ thuật liên quan đến quản lý, phục hồi nguồn nước cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện. Đây là cơ sở để địa phương xây dựng đơn giá dịch vụ, tổ chức đầu tư và triển khai các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.

Phục hồi sông ô nhiễm là quá trình dài hạn, đòi hỏi sự phối hợp giữa quản lý tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm, quy hoạch hạ tầng và tổ chức vận hành công trình. Với những dòng sông chảy qua nhiều địa phương, hiệu quả không thể chỉ được đánh giá trong phạm vi một đoạn sông hay một dự án riêng lẻ, mà cần nhìn nhận trên toàn lưu vực.

Vì vậy, cùng với nguồn lực đầu tư, điều quan trọng là xây dựng được cơ chế phối hợp đủ chặt chẽ, dữ liệu đủ tin cậy và trách nhiệm đủ rõ ràng. Đây sẽ là nền tảng để các giải pháp phục hồi nguồn nước tại Hà Nội chuyển từ xử lý từng điểm ô nhiễm sang kiểm soát tổng thể, hướng tới cải thiện chất lượng nước bền vững.

Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Hà Nội: Phục hồi sông ô nhiễm từ giải pháp toàn lưu vực
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.