Ban hành quy định kỹ thuật mới về phân tích sóng, dòng chảy và thủy triều
Thông tư số 45/2026/TT-BNNMT quy định thống nhất phương pháp phân tích, đánh giá độ tin cậy và thể hiện kết quả quan trắc sóng, dòng chảy, thủy triều, có hiệu lực từ ngày 8/12/2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 45/2026/TT-BNNMT ngày 19/10/2026, quy định kỹ thuật về phân tích các yếu tố sóng, dòng chảy và thủy triều. Thông tư áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, nhằm thống nhất yêu cầu kỹ thuật, phương pháp phân tích và cách thể hiện kết quả trong lĩnh vực này.

Theo quy định, việc phân tích các yếu tố sóng, dòng chảy và thủy triều phải dựa trên chuỗi số liệu đo đạc, quan trắc liên tục đã được chỉnh lý và kiểm tra chất lượng theo quy định hiện hành. Riêng đối với việc lập bảng tần suất và suất bảo đảm sóng, dòng chảy, chuỗi số liệu phải có thời gian tối thiểu 3 ngày đêm.
Các phương pháp phân tích thống kê được thực hiện theo nguyên lý xác suất thống kê trong hải dương học. Định dạng số liệu phân tích và lưu trữ phải tuân thủ các quy định hiện hành về kiến trúc dữ liệu, khung quản trị và quản lý dữ liệu trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển, hải đảo và khí tượng thủy văn.
Đối với yếu tố sóng, Thông tư quy định phương pháp tính tần suất và suất bảo đảm theo độ cao, hướng và chu kỳ sóng; đồng thời hướng dẫn xác định độ cao sóng 1%, 5%, 10% và độ cao sóng có ý nghĩa. Theo đó, độ cao sóng có ý nghĩa được xác định bằng độ cao trung bình của một phần ba số sóng lớn nhất trong chuỗi số liệu.
Kết quả phân tích sóng được thể hiện qua các bảng thống kê và biểu đồ chuyên ngành, gồm hoa sóng, biểu đồ phân bố tần suất, đường cong suất bảo đảm và biểu đồ biến trình độ cao sóng theo thời gian. Tùy mục đích sử dụng và yêu cầu phân tích, hoa sóng có thể được thể hiện theo 8 hoặc 16 hướng.
Đối với dòng chảy, Thông tư quy định phương pháp tính tần suất, suất bảo đảm theo vận tốc và hướng dòng chảy; xác định vận tốc trung bình và vận tốc lớn nhất theo từng hướng. Kết quả phân tích được trình bày bằng bảng thống kê, biểu đồ hoa dòng chảy, biểu đồ phân bố tần suất, đường cong suất bảo đảm và biểu đồ biến trình vận tốc theo thời gian.
Một nội dung đáng chú ý của Thông tư là quy định về phân tích điều hòa dòng triều, xác định dòng dư và đánh giá độ tin cậy của kết quả. Việc đánh giá được thực hiện bằng cách so sánh chuỗi số liệu tính toán với số liệu quan trắc thực tế. Tùy mục đích phân tích, có thể sử dụng các chỉ tiêu thống kê như sai số trung bình, sai số tuyệt đối trung bình, sai số bình phương trung bình hoặc hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe.
Đối với thủy triều, việc phân tích điều hòa được thực hiện trên chuỗi số liệu mực nước đã được quy đổi về giờ tròn. Độ tin cậy của kết quả được đánh giá thông qua việc so sánh mực nước tính toán từ các hằng số điều hòa với mực nước thực đo trong điều kiện thời tiết bình thường, không có bão và áp thấp nhiệt đới.
Đặc biệt, để xác định mực nước triều cực trị thiên văn, Thông tư quy định việc dự tính chuỗi số liệu mực nước triều trong khoảng thời gian tối thiểu 18,6 năm từ bộ hằng số điều hòa thủy triều đã phân tích. Mực nước lớn nhất và nhỏ nhất trong chuỗi số liệu tính toán được sử dụng để xác định các giá trị cực trị. Ngoài ra, có thể áp dụng các phương pháp phù hợp khác theo quy định.
Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông qua Cục Biển và Hải đảo Việt Nam để được xem xét, giải quyết.
Thông tư số 45/2026/TT-BNNMT có hiệu lực thi hành từ ngày 8/12/2026.




