Hải Phòng: Amoni vượt quy chuẩn gần 59 lần tại các kênh dẫn nước nội đô
Kết quả quan trắc môi trường năm 2025 cho thấy chất lượng nước tại nhiều sông, hồ điều hòa và kênh dẫn nước khu vực phía Đông Hải Phòng đang ở mức đáng lo ngại. Đáng chú ý, hàm lượng amoni tại một số kênh dẫn nước vượt quy chuẩn gần 59 lần, trong khi nhiều thông số ô nhiễm khác liên tục ghi nhận ở mức rất xấu.
Amoni vượt quy chuẩn tại nhiều sông, kênh
Theo kết quả quan trắc môi trường năm 2025 được TP. Hải Phòng công bố tháng 10/2026, chất lượng nước mặt tại khu vực phía Đông thành phố còn tồn tại nhiều vấn đề, trong đó nổi bật là tình trạng amoni vượt giới hạn cho phép tại nhiều tuyến sông, kênh và hệ thống thủy nông.
Cụ thể, tại một số vị trí trên 6 tuyến sông, hàm lượng amoni vượt quy chuẩn trung bình 1,46 lần tại hạ lưu sông Lạch Tray; 1,94 lần tại sông Họng, khu vực Đồ Sơn; 1,11 lần tại cửa sông Thái Bình; 1,08 lần tại sông Văn Úc, khu vực xã Quang Trung và 1,05 lần tại sông Hóa, khu vực Cầu Nghìn.

Trong khi đó, các thông số kim loại được phân tích tại những vị trí này đều nằm trong giới hạn quy định. Kết quả cho thấy chất lượng nước giữa các tuyến sông có sự khác biệt, đòi hỏi công tác kiểm soát nguồn thải phải được triển khai phù hợp với đặc điểm từng khu vực.
Đối với các nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt, kết quả đánh giá theo chỉ số chất lượng nước (WQI) cũng cho thấy mức độ đáp ứng khác nhau. Trên sông Giá, 63,3% kết quả quan trắc thuộc nhóm có thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, 36,7% cần áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. Tại sông Rế, tỷ lệ tương ứng là 38,3% và 50%; 11,7% còn lại phù hợp cho tưới tiêu và các mục đích tương đương. Sông Đa Độ có 52% kết quả thuộc nhóm sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt, trong khi 48% cần xử lý phù hợp.
Tình trạng amoni vượt quy chuẩn còn xuất hiện tại nhiều tuyến kênh và hệ thống thủy nông. Trong đó, kênh Cẩm Văn vượt 3,80 lần; hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng vượt từ 1,94 - 2,3 lần; sông Chanh Dương vượt từ 1,63 - 2,21 lần và kênh Hòn Ngọc vượt từ 1,02 - 1,56 lần. Các thông số kim loại được phân tích tại những hệ thống này đều thấp hơn giới hạn tối đa quy định đối với các thông số ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Theo phân loại WQI, chất lượng nước tại các tuyến kênh và hệ thống thủy nông cũng có sự phân hóa. Tại kênh Cẩm Văn, 50% kết quả thuộc nhóm có thể sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần xử lý phù hợp; 40% phù hợp cho tưới tiêu và 10% cho giao thông thủy.
Đối với hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng, tỷ lệ kết quả thuộc nhóm sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt là 13,3%; nhóm cần xử lý phù hợp chiếm 40%; nhóm phù hợp cho tưới tiêu chiếm 40% và nhóm phục vụ giao thông thủy chiếm 6,7%.
Tại sông Chanh Dương, 20% kết quả thuộc nhóm sử dụng tốt cho cấp nước sinh hoạt, 35% cần xử lý phù hợp và 45% phù hợp cho tưới tiêu. Trong khi đó, tại kênh Hòn Ngọc, các tỷ lệ tương ứng là 32,5%; 42,5%; 10% và 15% đối với các nhóm sử dụng cho cấp nước sinh hoạt cần xử lý, tưới tiêu và giao thông thủy.
Các kết quả phân loại WQI phản ánh chất lượng nước tại thời điểm, vị trí quan trắc; không thay thế yêu cầu kiểm soát chất lượng và xử lý nước trước khi đưa vào sử dụng.
Nước tại nhiều hồ, kênh nội đô ô nhiễm nặng
Đáng lo ngại hơn, tại các hồ điều hòa và kênh dẫn nước thuộc khu vực lõi đô thị phía Đông Hải Phòng, nhiều thông số ô nhiễm được ghi nhận ở mức cao.
Theo kết quả quan trắc, tại 8 hồ điều hòa gồm An Biên, Phương Lưu, Tiên Nga, Dư Hàng, Hồ Sen, Quần Ngựa, Tam Bạc, Cát Bi và 3 tuyến kênh, cửa xả thuộc hệ thống kênh An Kim Hải, kênh Đông Bắc, kênh Tây Nam, hàm lượng amoni vượt quy chuẩn từ 2,84 - 35,6 lần, với 100% mẫu vượt quy chuẩn.
Ngoài amoni, các thông số khác cũng cho thấy chất lượng nước đáng quan ngại. Tại các hồ điều hòa, 100% kết quả quan trắc tổng chất rắn lơ lửng (TSS) ở mức chất lượng xấu; 87,5% kết quả COD ở mức rất xấu. Đáng chú ý, tổng nitơ và mật độ Coliform đều có 100% kết quả ở mức rất xấu.
Kết quả đánh giá theo WQI cho thấy 12,5% mẫu nước hồ điều hòa thuộc nhóm có thể sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần xử lý phù hợp; 32,5% phù hợp cho tưới tiêu; 12,5% phục vụ giao thông thủy. Đặc biệt, 42,5% kết quả thuộc nhóm nước ô nhiễm nặng, cần có biện pháp xử lý trong tương lai.
Tại các kênh dẫn nước, tình trạng ô nhiễm còn nghiêm trọng hơn. Hàm lượng amoni vượt quy chuẩn từ 18,92 - 58,79 lần, với tỷ lệ mẫu vượt quy chuẩn đạt 100%. Các thông số COD, tổng phốt pho, tổng nitơ và tổng Coliform đều có 100% kết quả ở mức chất lượng rất xấu.
Phân loại theo WQI cho thấy 4% kết quả thuộc nhóm có thể sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần xử lý phù hợp; 38% phù hợp cho tưới tiêu; 16% phục vụ giao thông thủy. Trong khi đó, 40% kết quả thuộc nhóm nước ô nhiễm nặng và 2% thuộc nhóm nước nhiễm độc, cần có biện pháp khắc phục, xử lý.
Những số liệu này cho thấy áp lực ô nhiễm tại hệ thống hồ, kênh nội đô đang là vấn đề cần được quan tâm, nhất là trong bối cảnh các thủy vực này đảm nhiệm chức năng điều hòa nước, tiêu thoát nước và góp phần cải thiện môi trường cảnh quan đô thị.
Tăng kiểm soát nguồn thải, xử lý triệt để nước thải
Trước thực trạng trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hải Phòng kiến nghị tăng cường kiểm soát các nguồn thải vào hệ thống sông, hồ, kênh, mương nội thành; đồng thời tách triệt để nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp khỏi hệ thống hồ, kênh đã được cải tạo.
Một trong những giải pháp trọng tâm là đầu tư, vận hành hiệu quả các hệ thống xử lý nước thải tập trung, hạn chế tình trạng nước thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu xả trực tiếp vào các thủy vực. Việc kiểm soát cần được thực hiện đồng bộ từ nguồn phát sinh, hệ thống thu gom đến khâu xử lý và giám sát sau xử lý nhằm hạn chế ô nhiễm lan truyền ra các tuyến sông và vùng ven biển.
Đối với khu vực sản xuất nông nghiệp, cơ quan chức năng đề xuất đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng liều lượng, tuân thủ thời gian cách ly trước khi thu hoạch, góp phần hạn chế tồn dư hóa chất và nguy cơ phát tán chất ô nhiễm ra môi trường nước.
Bên cạnh đó, thành phố cần tăng tần suất quan trắc, quản lý chặt chẽ hệ thống hồ điều hòa và kênh thoát nước; ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, đổ chất thải trái phép, đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm.
Kết quả quan trắc năm 2025 là cơ sở để Hải Phòng rà soát các điểm nóng ô nhiễm, xác định nguồn thải và ưu tiên nguồn lực xử lý. Về lâu dài, việc cải thiện chất lượng nước không chỉ phụ thuộc vào các dự án nạo vét, chỉnh trang thủy vực mà còn đòi hỏi hệ thống thu gom, xử lý nước thải hoạt động hiệu quả và cơ chế giám sát nguồn thải thường xuyên, liên tục.




