An ninh nguồn nước

Đề xuất giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước lưu vực sông Cả

Hải Đăng 10:45 22/08/2026

Sáng 21/8 tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp.

Tham dự có đại diện các Bộ Xây dựng, Công Thương, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch; lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị; các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các chuyên gia về tài nguyên nước.

capture(3).jpg
Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh chủ trì cuộc họp

Theo báo cáo của Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, sông Cả là lưu vực liên quốc gia, có tổng diện tích tự nhiên khoảng 27.200 km² trên lãnh thổ Việt Nam và Lào. Riêng phần thuộc Việt Nam khoảng 17.900 km², liên quan trực tiếp đến Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và các khu vực lân cận.

Lưu vực có tổng lượng nước mặt khoảng 23,8 tỷ m³/năm, song nguồn nước phân bố thiếu đồng đều theo mùa. Khoảng 75% dòng chảy tập trung vào mùa lũ, chỉ khoảng 25% vào mùa kiệt, khiến một số khu vực vẫn đứng trước nguy cơ thiếu nước cục bộ trong mùa khô, đặc biệt tại vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa và cuối hệ thống thủy lợi.

capture(4).jpg
Quang cảnh cuộc họp

Dự thảo Quy hoạch đặt trọng tâm vào quản lý tài nguyên nước theo lưu vực, bảo đảm sự thống nhất giữa nước mặt và nước dưới đất, số lượng và chất lượng nước, khu vực thượng lưu và hạ lưu, cũng như lợi ích của các ngành, địa phương và đối tượng sử dụng nước.

Theo định hướng này, khả năng nguồn nước phải được xem xét ngay trong quá trình xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng và hạ tầng. Cách tiếp cận được đề xuất là xác định khả năng đáp ứng của nguồn nước trước khi tính toán nhu cầu phát triển.

Quy hoạch cũng hướng tới chuyển từ khai thác đơn mục tiêu sang tích trữ, điều hòa và sử dụng nước đa mục tiêu. Việc phân phối nguồn nước cần linh hoạt, phù hợp quy luật tự nhiên và khả năng thực tế của từng khu vực, đồng thời hài hòa lợi ích giữa thượng lưu - hạ lưu, phát điện - cấp nước và phát triển kinh tế - bảo vệ hệ sinh thái.

Mục tiêu tổng quát là bảo đảm an ninh nguồn nước, phân bổ tài nguyên nước hợp lý, đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Cùng với sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, Quy hoạch cũng đặt yêu cầu phòng ngừa suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và phục hồi các nguồn nước bị tổn thương.

Toàn lưu vực được chia thành 8 vùng quy hoạch gồm thượng lưu, trung lưu và hạ lưu sông Cả; lưu vực sông Nậm Mô; thượng lưu và hạ lưu sông Hiếu; thượng lưu và hạ lưu sông Ngàn Sâu. Việc phân vùng nhằm xác định rõ đặc điểm nguồn nước, nhu cầu sử dụng, khả năng điều tiết và các vấn đề cần ưu tiên tại từng khu vực.

Dự thảo đồng thời dự báo biến động về nguồn nước và nhu cầu sử dụng đến năm 2030, tầm nhìn 2050; xác định chức năng nguồn nước, dòng chảy tối thiểu, ngưỡng khai thác nước mặt, nước dưới đất và các khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước.

Đến năm 2030, lượng nước mặt có thể phân bổ trên phần lưu vực sông Cả ở tần suất 50% khoảng 16,37 tỷ m³; với tần suất 85% khoảng 9,59 tỷ m³. Nước dưới đất được xác định là nguồn bổ sung, dự phòng, nhất là trong trường hợp nguồn nước mặt bị ô nhiễm hoặc không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt.

capture(5).jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Hòa - Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam ủy viên phản biện phát biểu tại cuộc họp

Trong điều kiện bình thường, việc phân bổ nước dựa trên yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và nâng cao hiệu quả sử dụng. Khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, ưu tiên trước hết là nước sinh hoạt, an sinh xã hội và các nhu cầu thiết yếu; sau đó mới phân bổ cho những ngành, lĩnh vực khác tùy mức độ quan trọng và khả năng cắt giảm.

Quy hoạch cũng xác định các hồ chứa, đập dâng và công trình điều tiết có ảnh hưởng liên vùng, liên tỉnh, từ đó yêu cầu phối hợp vận hành để tăng khả năng tích trữ, điều hòa nguồn nước giữa mùa lũ và mùa cạn. Với các khu vực khó tiếp cận nguồn nước, cần nghiên cứu các công trình trữ nước tại chỗ, cấp nước quy mô phù hợp và nguồn dự phòng.

Công tác bảo vệ nguồn nước được xác định là nội dung xuyên suốt. Dự thảo đặt mục tiêu bảo vệ chức năng nguồn nước, hành lang bảo vệ, nguồn sinh thủy, các hồ, ao điều hòa và những nguồn nước có giá trị về đa dạng sinh học, lịch sử, văn hóa. Hoạt động xả thải phải được kiểm soát theo sức chịu tải, không làm suy giảm chức năng của nguồn nước.

Đến năm 2030, Quy hoạch đặt mục tiêu giám sát 60% các vị trí duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, có lộ trình giám sát tự động, trực tuyến phù hợp; công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của 100% nguồn nước liên tỉnh; giám sát 80% công trình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải thuộc diện phải giám sát; quản lý 100% hồ, ao không được san lấp và cắm mốc 50% nguồn nước thuộc diện phải thiết lập hành lang bảo vệ. Tỷ lệ che phủ rừng toàn lưu vực được định hướng duy trì 54% nhằm bảo vệ nguồn sinh thủy.

Một nhiệm vụ khác được đặt ra là phòng ngừa, giảm thiểu tác hại do nước gây ra. Các khu vực có nguy cơ ngập lụt, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn, sụt lún và suy giảm mực nước dưới đất sẽ được xác định để triển khai đồng bộ giải pháp công trình và phi công trình, ưu tiên bảo vệ tính mạng, tài sản người dân và duy trì hoạt động kinh tế - xã hội.

Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng tập trung góp ý vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến khả năng triển khai Quy hoạch. Các đại biểu đề nghị rà soát, thống nhất nguồn gốc số liệu, thời kỳ tính toán và các kịch bản phát triển; cập nhật đầy đủ tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lớn, xâm nhập mặn và sự thay đổi nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực.

capture(6).jpg
Đại diện lãnh đạo Sở NN&MT tỉnh Thanh Hóa phát biểu tại cuộc họp

Các ủy viên phản biện cho rằng dự thảo cần làm rõ hơn mối quan hệ giữa lượng nước tự nhiên, lượng nước có thể khai thác và lượng nước thực tế có thể phân bổ. Phương án phân bổ không nên chỉ thể hiện bằng tổng lượng nước cả năm mà cần cụ thể theo mùa, tháng, vùng quy hoạch và các trạng thái nguồn nước khác nhau.

Đặc biệt, Quy hoạch cần xác định rõ tỷ lệ phân bổ, mức cắt giảm và thứ tự ưu tiên cho từng nhóm sử dụng khi xảy ra hạn hán, thiếu nước. Đây là nội dung quyết định khả năng áp dụng của Quy hoạch trong thực tế, tránh tình trạng khi nguồn nước suy giảm mới bắt đầu đàm phán, điều chỉnh hoặc xử lý theo từng vụ việc.

Các ý kiến phản biện cũng đề nghị rà soát vai trò của hệ thống hồ chứa thủy điện, thủy lợi và đập dâng trên lưu vực; làm rõ cơ chế vận hành phối hợp, trách nhiệm cung cấp số liệu và yêu cầu bảo đảm dòng chảy tối thiểu. Việc phát triển các công trình mới phải được đánh giá trên tổng thể lưu vực, tránh làm gia tăng xung đột sử dụng nước hoặc tạo thêm sức ép cho vùng hạ lưu.

Đại diện các bộ, ngành đề nghị bảo đảm sự thống nhất giữa Quy hoạch lưu vực sông Cả với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, quy hoạch tỉnh, quy hoạch điện lực, phòng, chống thiên tai, thủy lợi và các quy hoạch ngành liên quan.

Với danh mục nhiệm vụ, dự án ưu tiên, các đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí lựa chọn, thứ tự ưu tiên, mục tiêu đầu tư, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và khả năng huy động nguồn lực. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải phù hợp pháp luật về đầu tư công, ngân sách nhà nước và khả năng cân đối vốn từng giai đoạn.

Một số ý kiến cũng đề nghị tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn, định mức sử dụng nước theo từng ngành, lĩnh vực; thúc đẩy tái sử dụng, tuần hoàn nước, giảm thất thoát và nâng cao giá trị kinh tế của mỗi đơn vị nước. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm hoàn trả, phục hồi lòng sông, lòng hồ và môi trường nguồn nước khi các công trình thủy điện, thủy lợi kết thúc thời gian vận hành.

Kết luận cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến đóng góp của Hội đồng, đồng thời đề nghị cơ quan lập Quy hoạch tiếp thu đầy đủ ý kiến của các ủy viên phản biện, thành viên Hội đồng và đại diện các bộ, ngành; tiếp tục rà soát số liệu, phương án phân bổ nguồn nước, danh mục nhiệm vụ ưu tiên và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Theo Cục trưởng Châu Trần Vĩnh, sau khi được phê duyệt, Quy hoạch phải trở thành căn cứ để điều hòa, phân phối, bảo vệ và phục hồi nguồn nước trên toàn lưu vực, đồng thời hỗ trợ các địa phương xây dựng kế hoạch phát triển phù hợp với khả năng nguồn nước.

Trên cơ sở biểu quyết, Hội đồng thống nhất thông qua hồ sơ Quy hoạch với yêu cầu tiếp thu, chỉnh sửa và hoàn thiện.

Bài liên quan
  • Quản trị lưu vực sông Hồng để bảo đảm an ninh nguồn nước
    Ô nhiễm từ đô thị, công nghiệp và nông nghiệp đang tạo sức ép lớn lên chất lượng nước lưu vực sông Hồng. Dự án quản lý tổng hợp tài nguyên nước với cách tiếp cận từ lưu vực ra biển được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển trong kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển bền vững.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Đề xuất giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước lưu vực sông Cả
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.