Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 8: Hoàn thiện hành lang pháp lý môi trường nước
Sau hơn 5 năm triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, công tác kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng các thành phần môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến đáng ghi nhận, từng bước chuyển từ tư duy “bị động ứng phó” sang “chủ động phòng ngừa”.

Sau hơn 5 năm triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, công tác kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng các thành phần môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến đáng ghi nhận, từng bước chuyển từ tư duy “bị động ứng phó” sang “chủ động phòng ngừa”. Hệ thống quan trắc tự động, liên tục được kết nối đồng bộ; việc sàng lọc dự án theo các tiêu chí môi trường ngay từ giai đoạn đầu đã góp phần ngăn chặn nhiều nguy cơ suy thoái môi trường.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, hoạt động thâm canh nông nghiệp ngày càng gia tăng và những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, tài nguyên nước mặt đang phải đối mặt với những sức ép chưa từng có.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ môi trường nước là yêu cầu cấp thiết. Để khắc phục những khoảng trống pháp lý phát sinh từ thực tiễn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang chủ trì xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường để trình Chính phủ.
Đối chiếu Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường giai đoạn 2020 - 2025 với những nội dung được đề xuất sửa đổi trong Dự thảo, có thể nhận diện rõ những điểm mới có tính đột phá, đồng thời cho thấy một số nút thắt căn cơ vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện. Tạp chí Môi trường và Cuộc sống đăng tải một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật bảo vệ môi trường của GS. Phạn Quý Nhân - Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam; Giảng viên cao cấp khoa Tài nguyên nước, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Những điểm sáng từ tư duy lập pháp mới
Qua nghiên cứu Dự thảo Luật sửa đổi, có thể thấy cơ quan soạn thảo đã tiếp thu khá sát những phản hồi từ thực tiễn, đồng thời thể hiện xu hướng đồng bộ hóa mạnh mẽ với Luật Tài nguyên nước năm 2023.
Xét trên các nội dung liên quan trực tiếp đến tài nguyên nước, thủy lợi và cấp, thoát nước, Dự thảo đã thể hiện một số điểm tích cực đáng chú ý.

Thiết lập hàng rào kỹ thuật nghiêm ngặt để bảo vệ các dòng sông đã suy thoái
Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường chỉ ra thực trạng đáng báo động tại một số điểm nóng ô nhiễm như lưu vực sông Nhuệ – Đáy, sông Cầu và hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải. Tại các khu vực này, hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng liên tục duy trì ở mức C và D theo QCVN 08:2023/BTNMT.
Trước thực tế đó, Dự thảo sửa đổi khoản 2 Điều 7 đã đưa ra một hàng rào pháp lý chặt chẽ đối với các nguồn nước mặt đã được công bố không còn khả năng chịu tải. Theo đó, các dự án đầu tư mới hoặc dự án mở rộng thuộc diện phải thực hiện đánh giá tác động môi trường hoặc phải có giấy phép môi trường sẽ không được phép xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước đã mất khả năng chịu tải.
Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng, bởi nó từng bước loại bỏ tình trạng “xả thải đúng chuẩn nhưng sông vẫn chết” do tác động của tổng tải lượng ô nhiễm tích lũy.
Đáng chú ý, Dự thảo không chỉ đặt ra giới hạn mà còn mở ra những hướng xử lý kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động thích ứng.
Thứ nhất, doanh nghiệp có thể thiết lập phương án tuần hoàn, tái sử dụng 100% lượng nước, qua đó không làm phát sinh thêm nước thải ra môi trường.
Thứ hai, dự án có thể đầu tư công nghệ xử lý nâng cao nhằm đưa dòng thải đạt quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, tương đương chất lượng nước sông tự nhiên trước khi xả.
Thứ ba, đối với những dự án mang tính chất công ích, có thể đầu tư hệ thống xử lý nước thải nhằm trực tiếp cải tạo, phục hồi khu vực nguồn nước đang bị ô nhiễm.
Kiến tạo hành lang pháp lý cho kinh tế tuần hoàn nước thải
Một trong những điểm nghẽn của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là chưa phân định thật rõ ranh giới giữa “chất thải” và “tài nguyên”. Điều này khiến doanh nghiệp còn e ngại trước các thủ tục kiểm soát chất thải nguy hại khi muốn tái sử dụng dòng thải.
Dự thảo lần này đã có bước điều chỉnh đáng chú ý khi sửa đổi Điều 72 và bổ sung Điều 72a, qua đó làm rõ khái niệm vật liệu tái chế.

Theo hướng tiếp cận mới, nước thải có thể được tái sử dụng khi đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phù hợp với mục đích sử dụng nước, thay vì phải quản lý theo quy trình quản lý chất thải thông thường.
Đặc biệt, Nhà nước dự kiến cụ thể hóa các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về thuế, phí, lãi suất vay và ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế từ nguồn ngân sách nhà nước tại Điều 142 sửa đổi.
Đây có thể xem là một đòn bẩy kinh tế quan trọng, góp phần thay đổi tư duy của doanh nghiệp từ “phải xử lý chất thải” sang “khai thác tài nguyên từ chất thải”, qua đó thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực nước.
Đồng bộ kiểm soát môi trường từ sớm thông qua ĐMC và đánh giá sơ bộ tác động môi trường
Dự thảo cũng có những điều chỉnh theo hướng chuẩn hóa mối quan hệ giữa quy hoạch và môi trường thông qua việc sửa đổi Điều 29 về đánh giá sơ bộ tác động môi trường.
Theo đó, nghĩa vụ này được xác định bắt buộc đối với các dự án Nhóm I, tức nhóm dự án có nguy cơ tác động môi trường cao, và được tích hợp trực tiếp vào hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư thay vì tách thành một thủ tục hành chính độc lập.
Cách tiếp cận này vừa tăng cường kiểm soát môi trường ngay từ giai đoạn đầu, vừa góp phần hạn chế những thủ tục có thể gây chồng chéo.
Cùng với đó, việc bổ sung khoản 7 Điều 26 quy định rõ hơn nội dung thẩm định, xem xét kết quả đánh giá môi trường chiến lược sẽ giúp các quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh nhận diện sớm những xung đột giữa mục tiêu phát triển kinh tế và sức chịu tải của nguồn nước, ngay từ khi quy hoạch còn đang trong quá trình xây dựng.
Phân định rõ hơn trách nhiệm quản lý dòng chảy tại các khu vực giáp ranh
Một vấn đề thường phát sinh trong quản lý môi trường nước là tình trạng đùn đẩy trách nhiệm đối với các nguồn thải nằm trên cùng một lưu vực sông nhưng liên quan đến nhiều địa phương.
Để khắc phục tình trạng này, Dự thảo sửa đổi khoản 6 Điều 65 giao quyền cho UBND cấp tỉnh quy định cụ thể khu vực, địa điểm đổ thải, nhận chìm vật chất nạo vét từ hệ thống thủy nội địa và đường biển.

Cơ chế này đồng thời gắn với trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp tỉnh đối với các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh trên địa bàn quản lý thông qua sửa đổi khoản 4 Điều 4.
Đây là hướng tiếp cận cần thiết nhằm nâng cao tính rõ ràng trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước đối với môi trường nước.
Những khoảng trống pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện
Mặc dù, Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tư duy quản lý, nhưng dưới góc nhìn chuyên môn về thủy lợi, tài nguyên nước và cấp, thoát nước, vẫn còn một số nút thắt căn cơ cần được tiếp tục xem xét.
Chưa giải quyết được “căn bệnh” của ô nhiễm nước thải đô thị
Theo số liệu từ Báo cáo tổng kết, tỷ lệ nước thải từ các khu đô thị, khu dân cư tập trung được thu gom và xử lý đạt chuẩn tại nước ta hiện vẫn ở mức rất thấp. Gần 90% lượng nước thải vẫn xả trực tiếp ra các dòng sông.
Điều đáng lưu ý là nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này không chỉ nằm ở tiêu chuẩn xả thải tại các nhà máy xử lý mà còn nằm ở chính hệ thống hạ tầng kỹ thuật.

Hiện nay vẫn tồn tại những hạn chế lớn như thiếu mạng lưới đường ống thu gom đồng bộ, chưa tách biệt giữa nước mưa và nước thải; thiếu cơ chế pháp lý đủ mạnh để buộc các hộ gia đình đấu nối nước thải vào mạng lưới thu gom tập trung; trong khi cơ chế giá dịch vụ thoát nước hiện hành còn thấp, chưa đủ bù đắp chi phí vận hành và bảo trì hệ thống xử lý.
Đáng chú ý, Dự thảo Luật sửa đổi lần này không sửa đổi Điều 86, quy định về thu gom và xử lý nước thải đô thị, khu dân cư.
Đây là một khoảng trống đáng lưu ý. Khi Dự thảo thắt chặt kiểm soát khả năng chịu tải của sông, hồ tại Điều 7 nhưng chưa đồng thời sửa đổi cơ chế thu gom, đấu nối và giá dịch vụ tại Điều 86, nguy cơ “trị ngọn mà chưa trị gốc” vẫn hiện hữu.
Các dòng sông liên tỉnh sẽ khó có thể hồi sinh nếu nguồn thải sinh hoạt lớn nhất không được thu gom và xử lý triệt để ngay từ đầu nguồn.
Nguy cơ chậm ban hành quy chuẩn do thiếu cơ chế kiểm soát tiến độ
Dự thảo bổ sung nghĩa vụ đối với UBND cấp tỉnh trong việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất thải của địa phương để kiểm soát nguồn thải trong trường hợp chất lượng môi trường xung quanh không đạt mục tiêu.
Tuy nhiên, thực tiễn giai đoạn 2020–2025 cho thấy việc chậm ban hành các quy chuẩn kỹ thuật và văn bản hướng dẫn là một trong những hạn chế lớn được nêu trong Báo cáo tổng kết.
Trong khi đó, Dự thảo đã giao trách nhiệm ban hành quy chuẩn chất thải nhưng chưa quy định rõ thời hạn bắt buộc phải hoàn thành. Chẳng hạn, chưa xác định cụ thể thời hạn 6 tháng hay 1 năm kể từ thời điểm công bố nguồn nước không còn khả năng chịu tải.
Dự thảo cũng chưa quy định chế tài đối với trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra tình trạng chậm trễ.
Nếu không được bổ sung, quy định này có nguy cơ rơi vào tình trạng “treo”, từ đó gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép môi trường do thiếu quy chuẩn địa phương để áp dụng.
Nút thắt trong việc áp dụng bản đồ phân vùng môi trường trên thực tế
Dự thảo tiếp tục sử dụng kết quả phân vùng môi trường, gồm vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng hạn chế phát thải, làm căn cứ quan trọng để sàng lọc địa điểm dự án khi thực hiện đánh giá sơ bộ tác động môi trường theo Điều 29 và cấp giấy phép môi trường theo Điều 42.
Tuy nhiên, thực tiễn tổng kết cho thấy phần lớn các địa phương hiện chưa thể xác định và công bố cụ thể ranh giới của các phân vùng này trên thực địa do còn thiếu kinh phí và hướng dẫn kỹ thuật chi tiết.
Trong khi đó, Dự thảo yêu cầu dự án phải phù hợp với phân vùng môi trường nhưng chưa bổ sung cơ chế để tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn chuyển tiếp.
Một câu hỏi đặt ra là trong trường hợp địa phương chưa công bố ranh giới cụ thể của các phân vùng môi trường, chủ dự án và cơ quan thẩm định sẽ căn cứ vào đâu để xem xét, phê duyệt?
Nếu không có quy định chuyển tiếp rõ ràng, khoảng trống này có thể đẩy rủi ro pháp lý về phía doanh nghiệp, đồng thời làm chậm tiến độ thu hút đầu tư.
Bỏ ngỏ cơ chế kiểm soát ô nhiễm nông nghiệp tại các vùng thủy lợi
Dự thảo đã có bước tiến khi tại khoản 32 Điều 1 bổ sung chính sách hỗ trợ kỹ thuật và tín dụng ưu đãi cho các mô hình canh tác giảm phát thải, tưới tiết kiệm nước tại Điều 61.
Tuy nhiên, Dự thảo vẫn chưa thiết lập được cơ chế tài chính và hạ tầng mang tính bắt buộc đối với việc thu gom, xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng và chất thải chăn nuôi quy mô hộ gia đình.

Đây là những nguồn ô nhiễm phân tán nhưng có mức độ nguy hiểm cao, có khả năng trực tiếp xâm nhập vào hệ thống kênh, mương thủy lợi.
Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định cụ thể về tiêu chí sức khỏe đất và mạng lưới giám sát dài hạn chất lượng đất, nước nông nghiệp theo Điều 17 sửa đổi sẽ tiếp tục gây khó khăn cho công tác bảo vệ môi trường khu vực nông thôn.
Kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật
Để Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường thực sự trở thành nền tảng pháp lý vững chắc cho bảo đảm an ninh nguồn nước, Ban soạn thảo cần tiếp tục cân nhắc một số nội dung.
Trước hết, cần nghiên cứu sửa đổi Điều 86 theo hướng bổ sung quy định bắt buộc về lộ trình đấu nối nước thải của hộ gia đình vào mạng lưới thu gom nước thải đô thị. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm tiếp nhận, vận hành công trình sau đầu tư và xây dựng khung cơ chế giá dịch vụ thoát nước theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Đây cũng là cơ sở để thu hút nguồn vốn tư nhân thông qua hình thức đối tác công tư vào phát triển hạ tầng cấp, thoát nước.
Thứ hai, đối với những quy định giao quyền cho địa phương, cần bổ sung yêu cầu về tiến độ thực hiện. Tại khoản 5 Điều 102, cần quy định rõ thời hạn tối đa, chẳng hạn không quá 12 tháng, để UBND cấp tỉnh phải ban hành quy chuẩn chất thải địa phương kể từ thời điểm chất lượng nước mặt được công bố không đạt mục tiêu bảo vệ.
Thứ ba, cần bổ sung điều khoản chuyển tiếp đối với phân vùng môi trường. Cần có hướng dẫn cụ thể cho giai đoạn quá độ, theo đó cho phép doanh nghiệp áp dụng quy chuẩn quốc gia hiện hành trong trường hợp địa phương chưa kịp công bố ranh giới vùng bảo vệ nghiêm ngặt và vùng hạn chế phát thải. Quy định này sẽ góp phần tránh tình trạng các dự án đầu tư lành mạnh bị đình trệ chỉ vì thiếu căn cứ pháp lý trong giai đoạn chuyển tiếp.
Sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường là cơ hội quan trọng để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện một hành lang pháp lý tiến bộ, từng bước tiệm cận xu hướng quản trị tuần hoàn tài nguyên nước trên thế giới.
Những quy định mới trong Dự thảo cho thấy tư duy quản lý môi trường đang chuyển mạnh từ kiểm soát đơn lẻ từng nguồn thải sang quản lý dựa trên sức chịu tải của môi trường, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới đối với việc tái sử dụng nước thải và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, để những quy định của Luật sau khi được sửa đổi không chỉ dừng lại ở “khẩu hiệu”, điều quan trọng là phải giải quyết được những điểm nghẽn đang tồn tại trong thực tiễn. Đó là hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đô thị, cơ chế giá dịch vụ thoát nước, trách nhiệm đấu nối của hộ gia đình, tiến độ ban hành các quy chuẩn địa phương và cơ chế chuyển tiếp trong phân vùng môi trường.
Một hành lang pháp lý tốt không chỉ được đo bằng số lượng quy định được ban hành, mà quan trọng hơn là khả năng giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn quản lý.
Chỉ khi các quy định pháp luật đi thẳng vào những điểm nghẽn thực tế, tạo được cơ chế thực thi rõ ràng và phân định được trách nhiệm cụ thể, mục tiêu bảo vệ tài nguyên nước và môi trường mới có thể được bảo đảm một cách thực chất.
Khi đó, những dòng sông xanh không chỉ là mục tiêu trong các văn bản chính sách, mà sẽ thực sự có cơ hội được hồi sinh và bảo vệ bền vững cho cuộc sống hôm nay và các thế hệ mai sau.




