Bảo vệ môi trường

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Dự thảo Luật BVMT 2026 mở ra cơ hội lớn cho nông nghiệp xanh

15:25 16/06/2026

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026 được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính. PGS.TS Mai Văn Trịnh đã chia sẻ với phóng viên về những cơ hội và thách thức đặt ra đối với ngành nông nghiệp trong quá trình chuyển đổi này.

ab-nn.png

Trong bối cảnh Việt Nam đang sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 theo hướng thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính, lĩnh vực nông nghiệp đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức lớn trong quá trình chuyển đổi. Những quy định mới liên quan đến kiểm kê khí nhà kính, tín chỉ carbon, thị trường carbon hay quan điểm xem chất thải là tài nguyên được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Môi trường và Cuộc sống -Moitruong.net.vn, PGS.TS Mai Văn Trịnh, Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp cho rằng việc hoàn thiện khung pháp lý về giảm phát thải khí nhà kính, kinh tế tuần hoàn và thị trường carbon sẽ tạo động lực quan trọng để thúc đẩy nông nghiệp xanh, nâng cao giá trị nông sản và giúp người dân hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi xanh.

PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về những điểm mới của Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026 liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nông thôn?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026 đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến có nhiều nội dung tác động trực tiếp đến lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nông thôn. Nổi bật với một số điểm mới như: Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; Đơn giản hóa giấy phép môi trường và thủ tục môi trường; Tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính (KNK) trong nông nghiệp; Xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường số; Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp xanh; Tăng phân cấp cho địa Phương; Những nội dung nông nghiệp có thể được hưởng lợi trực tiếp.

Trong đó có rất nhiều điểm mới liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và môi trường nông thôn. Đó là một dấu hiệu rất tốt thể hiện được sự quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, cả về nghĩa hỗ trợ cho ngành phát triển nhưng cũng cả về nghĩa nhìn nhận một số tồn tại của ngành cần phải làm tốt hơn. Với kinh tế tuần hoàn và nông nghiệp xanh thì đó là góp phần phát huy hiệu quả và tiềm năng to lớn của nguồn lợi tự nhiên mà ngành nông nghiệp sản sinh ra hàng năm.

a2-nn.png

Mở rộng không gian phát triển cho nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn

PV: Theo ông, việc bổ sung các quy định về kiểm kê khí nhà kính, thị trường carbon và tín chỉ carbon sẽ tác động như thế nào tới ngành nông nghiệp Việt Nam?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Ngành nông nghiệp đang phát thải với tỷ trọng lớn (sau năng lượng và các quá trình công nghiệp). Nên nhiệm vụ giảm phát thải KNK là rất quan trọng để đảm bảo kế hoạch và tiến độ giảm phát thải của quốc gia đã xác định và các cam kết của quốc gia với quốc tế. Mặt khác, sản suất nông nghiệp cũng có tiềm năng rất lớn trong việc giảm phát thải nếu áp dụng các biện pháp giảm phát thải, ví dụ biện pháp tưới khô ướt xen kẽ là một trong những biện pháp toàn cầu hóa, có khả năng giảm đến 45% lượng phát thải KNK. Nếu kết hợp xử lý rơm rạ thì tiềm năng còn cao hơn.

PV: Nông nghiệp Việt Nam hiện có tiềm năng ra sao trong phát triển tín chỉ carbon, đặc biệt ở các lĩnh vực như lúa gạo, chăn nuôi và hấp thụ carbon trong đất, thưa ông ?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Sản xuất lúa gạo hiện phát thải khoảng 50–70 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Với tiềm năng giảm phát thải lên tới 45% thông qua việc áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến như tưới khô - ướt xen kẽ và quản lý hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp, lượng khí nhà kính có thể được cắt giảm ở quy mô rất lớn.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, lượng phát thải ước khoảng 25–30 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Nhiều giải pháp giảm phát thải đã được xác định có hiệu quả, như cải thiện khẩu phần thức ăn, xử lý chất thải chăn nuôi theo mô hình kinh tế tuần hoàn để sản xuất năng lượng tái tạo và phân bón hữu cơ. Những giải pháp này không chỉ góp phần giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế ô nhiễm môi trường mà còn mang lại giá trị kinh tế, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất cho ngành trồng trọt.

Đối với hấp thụ carbon trong đất, Việt Nam có tiềm năng rất lớn nhờ quỹ đất sản xuất nông nghiệp khoảng 11 triệu ha, trong đó có hơn 3 triệu ha đất trồng cây cạn. Đây là dư địa quan trọng để tăng cường tích lũy carbon trong đất thông qua các biện pháp canh tác bền vững, qua đó góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu một cách lâu dài và hiệu quả.

PV: Theo ông, đâu là khó khăn lớn nhất hiện nay trong việc đo đếm, kiểm kê và xác minh phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Đặc thù của sản xuất nông nghiệp là quy mô nhỏ lẻ, phân tán và thiếu tính ổn định. Lượng phát thải KNK trong lĩnh vực này chịu tác động của nhiều yếu tố như thời tiết, điều kiện đất đai, môi trường sinh thái và tập quán canh tác của người dân. Các yếu tố này luôn biến động theo không gian và thời gian, khiến việc đo đạc, kiểm kê và xác minh phát thải gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận lớn người dân và các chủ thể sản xuất về biến đổi khí hậu cũng như phát thải KNK vẫn còn hạn chế. Mức độ áp dụng và tuân thủ các biện pháp giảm phát thải vì thế chưa đồng đều giữa các cá nhân, hộ sản xuất và tổ chức.

a3-nn.png

Một thách thức khác là chi phí cho hoạt động đo lường, giám sát và thu thập dữ liệu phát thải còn rất cao. Điều này gây nhiều trở ngại cho việc triển khai hệ thống MRV (Đo đạc - Báo cáo - Thẩm định), vốn là nền tảng quan trọng để đánh giá chính xác kết quả giảm phát thải và phát triển thị trường carbon trong nông nghiệp.

Kinh tế tuần hoàn là chìa khóa để giải bài toán chất thải nông nghiệp

PV: Dự thảo Luật đang thúc đẩy tư duy “chất thải là tài nguyên”. Theo ông, cơ chế này sẽ mở ra cơ hội gì cho kinh tế tuần hoàn nông nghiệp?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Theo nghiên cứu của tôi thực hiện năm 2021, tổng nguồn dinh dưỡng cây trồng có thể thu hồi từ phụ phẩm nông nghiệp và chất thải chăn nuôi về lý thuyết tương đương với nhu cầu dinh dưỡng của toàn ngành trồng trọt. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng dinh dưỡng được tái sử dụng thấp hơn đáng kể do công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và chế biến còn nhiều hạn chế.

Dù vậy, đây vẫn là nguồn tài nguyên sinh học hết sức to lớn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Phụ phẩm cây trồng và chất thải chăn nuôi không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn là nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng cho sản xuất phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học và nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng khác.

Có thể nói, nếu không khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này thì rất khó xây dựng thành công nền nông nghiệp tuần hoàn. Đây chính là mắt xích quan trọng kết nối giữa trồng trọt và chăn nuôi, đồng thời là nguồn đầu vào thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp bền vững, đặc biệt trong nông nghiệp hữu cơ - lĩnh vực không sử dụng phân bón hóa học và phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn dinh dưỡng hữu cơ tái tạo.

PV: Hiện nay phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, chất thải chăn nuôi vẫn chưa được tận dụng hiệu quả. Theo ông, cần chính sách gì để biến các nguồn thải này thành tài nguyên?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Hiện nay, ở nhiều địa phương, hoạt động trồng trọt và chăn nuôi vẫn phát triển theo hai hướng tương đối tách biệt, chưa hình thành được mối liên kết hiệu quả trong tuần hoàn tài nguyên nông nghiệp. Các cơ sở trồng trọt rất cần nguồn phân bón hữu cơ từ chăn nuôi để cải tạo đất và giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học, nhưng lại khó tiếp cận nguồn cung phù hợp. Trong khi đó, một lượng lớn phụ phẩm cây trồng như rơm rạ, thân ngô, lá sắn... chưa được tận dụng hiệu quả làm thức ăn hoặc nguyên liệu chế biến cho chăn nuôi.

Ở chiều ngược lại, nhiều trang trại chăn nuôi có nhu cầu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để giảm chi phí thức ăn, nhưng không có điều kiện liên kết với các vùng trồng trọt. Đồng thời, không ít cơ sở chăn nuôi cũng thiếu quỹ đất để tái sử dụng chất thải làm phân bón hữu cơ cho cây trồng.

Sự thiếu gắn kết giữa hai lĩnh vực này đã tạo ra một nghịch lý: Phụ phẩm trồng trọt bị đốt bỏ hoặc thải bỏ gây phát thải khí nhà kính, trong khi chất thải chăn nuôi không được xử lý, tái sử dụng hợp lý và trở thành nguồn gây ô nhiễm môi trường. Điều này không chỉ làm thất thoát nguồn tài nguyên có giá trị mà còn làm gia tăng chi phí sản xuất và áp lực môi trường.

Thực tế cho thấy, các mô hình trang trại tổng hợp kết hợp trồng trọt và chăn nuôi đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Trong các mô hình này, chất thải chăn nuôi được xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ phục vụ cây trồng, còn phụ phẩm cây trồng được tận dụng làm thức ăn cho vật nuôi hoặc nguyên liệu sản xuất năng lượng sinh học. Qua đó hình thành một vòng tuần hoàn khép kín, giúp tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí đầu vào, hạn chế phát sinh chất thải và tiến tới mục tiêu nông nghiệp không chất thải (Zero Waste).

Vì vậy, cần có các cơ chế, chính sách thúc đẩy sự liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi theo hướng kinh tế tuần hoàn, tạo điều kiện để các nguồn tài nguyên đang bị bỏ phí được khai thác hiệu quả hơn. Đây không chỉ là giải pháp giảm ô nhiễm môi trường, giảm phát thải KNK mà còn góp phần cải thiện sức khỏe đất, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững trong dài hạn.

PV: Theo ông, đâu là nguy cơ nếu quy định chuyển chất thải thành nguyên liệu, hàng hóa không được kiểm soát chặt chẽ?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Chất thải giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong mô hình kinh tế tuần hoàn, bởi đây chính là nguồn nguyên liệu đầu vào cho các chu trình sản xuất mới, góp phần kéo dài vòng đời tài nguyên và giảm khai thác tài nguyên tự nhiên. Nói cách khác, nhiều loại chất thải hoàn toàn có thể được tái chế, tái sử dụng hoặc chuyển hóa thành các sản phẩm, nguyên liệu có giá trị kinh tế.

a4-nn.png

Tuy nhiên, không phải mọi loại chất thải đều có thể được tuần hoàn một cách đơn giản. Trong chất thải có thể tồn tại nhiều thành phần nguy hại như kim loại nặng, vi nhựa, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất độc hại hoặc thậm chí các chất phóng xạ. Nếu không được kiểm soát và xử lý đúng quy trình, các chất này có thể tiếp tục phát tán trong môi trường, gây rủi ro cho hệ sinh thái, sức khỏe con người và làm suy giảm chất lượng sản phẩm.

Vì vậy, phát triển kinh tế tuần hoàn phải đi đôi với hệ thống quản lý và kiểm soát chất thải chặt chẽ. Việc chuyển chất thải thành nguyên liệu hay hàng hóa chỉ thực sự có ý nghĩa khi bảo đảm các yêu cầu về an toàn môi trường, sức khỏe cộng đồng và chất lượng sản phẩm. Đây là nguyên tắc cốt lõi nhằm tránh những hệ lụy lâu dài và bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế tuần hoàn.

Để người nông dân trở thành chủ thể của chuyển đổi xanh

Pv: Theo ông, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BVMT 2026 đã đủ tạo hành lang pháp lý cho phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng biến đổi khí hậu chưa?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Tôi cho rằng, xét về khung khổ pháp lý, Việt Nam hiện đã có những nền tảng tương đối đầy đủ để thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026, chúng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn; Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022/NĐ-CP năm 2022 của chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-zôn; cùng với Nghị định số 112/2026/NĐ-CP quy định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Các văn bản này đã từng bước hình thành hệ thống chính sách tương đối đồng bộ, tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm kê KNK, triển khai các biện pháp giảm phát thải, phát triển thị trường carbon và huy động các nguồn lực cho chuyển đổi xanh trong nông nghiệp.

Điều quan trọng hiện nay không chỉ là hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn là tổ chức thực thi hiệu quả. Khi các quy định được triển khai đồng bộ, đi kèm cơ chế hỗ trợ phù hợp về tài chính, khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, tôi tin rằng đây sẽ là động lực quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

PV: Theo ông, Việt Nam cần làm gì để người nông dân và hợp tác xã có thể thực sự hưởng lợi từ thị trường carbon?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Để người nông dân và hợp tác xã thực sự được hưởng lợi từ thị trường carbon, điều quan trọng nhất là Việt Nam cần sớm hiện thực hóa và vận hành hiệu quả thị trường carbon trong thực tiễn. Khi đó, các kết quả giảm phát thải KNK từ sản xuất nông nghiệp sẽ được ghi nhận, đo đếm và chuyển hóa thành giá trị kinh tế cụ thể cho người dân.

nn-c.png

Nói cách khác, những hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp áp dụng các biện pháp canh tác giảm phát thải sẽ không chỉ góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn được hưởng lợi trực tiếp từ chính những nỗ lực của mình. Đây có thể xem là phần thưởng, là đồng lợi ích của việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.

Nguồn thu từ tín chỉ carbon hoặc các cơ chế khuyến khích liên quan cũng sẽ tạo thêm nguồn lực để người dân tái đầu tư vào sản xuất, ứng dụng công nghệ xanh, nâng cao chất lượng nông sản và gia tăng giá trị kinh tế. Khi người dân nhìn thấy lợi ích cụ thể và lâu dài, họ sẽ chủ động tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh, qua đó góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát thải thấp và phát triển bền vững.

PV: Ông kỳ vọng Luật BVMT sửa đổi lần này sẽ tạo ra thay đổi lớn nhất nào đối với ngành nông nghiệp trong thời gian tới?

PGS.TS Mai Văn Trịnh: Tôi kỳ vọng lớn nhất là Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi sẽ tạo ra những chuyển biến thực chất trong phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh hơn, phát thải thấp hơn và bền vững hơn.

Trước hết, luật sẽ góp phần giảm mạnh và tiến tới chấm dứt tình trạng đốt rơm rạ, phụ phẩm cây trồng sau thu hoạch - một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính ở khu vực nông thôn. Thay vào đó, các phụ phẩm nông nghiệp sẽ được thu gom, tái sử dụng và đưa trở lại các chu trình sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn.

Tôi cũng kỳ vọng việc thực thi luật sẽ thúc đẩy giảm phát sinh chất thải trong toàn bộ quá trình sản xuất nông nghiệp, đồng thời gia tăng các vòng tuần hoàn tài nguyên giữa trồng trọt, chăn nuôi và chế biến nông sản. Đây là nền tảng quan trọng để hướng tới mô hình nông nghiệp không chất thải (Zero Waste) và phát triển bền vững trong dài hạn.

Xa hơn, những thay đổi này sẽ góp phần hình thành nền nông nghiệp xanh gắn với nông thôn sinh thái, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn nhờ đáp ứng các yêu cầu về môi trường và giảm phát thải.

Điều tôi kỳ vọng nhất là sự thay đổi về nhận thức. Người dân sẽ hiểu rõ hơn tác động của biến đổi khí hậu, nhận thức được trách nhiệm cũng như lợi ích của việc giảm phát thải khí nhà kính. Từ đó chủ động áp dụng các giải pháp sản xuất xanh, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị nông, lâm, thủy sản thông qua các sản phẩm thân thiện với môi trường, sản phẩm phát thải thấp và sản phẩm xanh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

Người thực hiện: Thu Trinh

Bài liên quan
  • Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường 2026 - Bài 6: 6 “điểm nghẽn” cốt lõi của báo cáo ĐTM hiện nay
    Sai lệch ngay từ tầng phương pháp (nêu phương pháp nhưng không tạo ra bằng chứng); không hiểu đầy đủ công nghệ và dòng vật chất của dự án; dữ liệu đầu vào nghèo nàn làm báo cáo mất năng lực dự báo; dự báo lan truyền ô nhiễm còn hình thức, đặc biệt với không khí, tiếng ồn và tác động tích lũy; đánh giá công trình xử lý còn nặng “thiết bị” mà nhẹ “hiệu quả”; xem nhẹ tác động không liên quan đến chất thải, đa dạng sinh học và vòng đời dự án là 6 "điểm nghẽn" cốt lõi mà báo cáo ĐTM ở Việt Nam hiện đ

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
PGS.TS Mai Văn Trịnh: Dự thảo Luật BVMT 2026 mở ra cơ hội lớn cho nông nghiệp xanh
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.