Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường đô thị (Bài 3): Nước thải đô thị đang đi đâu?

Hải Đăng • 01/10/2026 06:00

Khi tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý trên phạm vi cả nước mới chỉ khoảng 18%, bài toán không còn dừng ở câu chuyện thiếu nhà máy hay công nghệ xử lý, mà đang phơi lộ những khoảng trống đáng lo ngại trong quy hoạch, đầu tư, thu gom và quản lý nước thải đô thị.

ffrf.png

Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, khu dân cư và hoạt động dịch vụ đô thị đang được xả vào hệ thống thoát nước. Thế nhưng, không phải tất cả đều được thu gom và đưa về nhà máy xử lý nước thải. Trong khi một phần nước thải được làm sạch trước khi trở lại môi trường, phần còn lại vẫn theo những đường cống, mương thoát nước để đổ vào sông, kênh, ao hồ, âm thầm gia tăng áp lực lên nguồn nước và chất lượng sống của đô thị.

e3e33.png

“

Khi tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý trên phạm vi cả nước mới chỉ khoảng 18%, bài toán không còn dừng ở câu chuyện thiếu nhà máy hay công nghệ xử lý, mà đang phơi lộ những khoảng trống đáng lo ngại trong quy hoạch, đầu tư, thu gom và quản lý nước thải đô thị.

Từ chậu rửa bát, bồn tắm trong nhà đến nhà máy xử lý: Hành trình dang dở của hàng triệu mét khối nước thải mỗi ngày

GS.TS Nguyễn Việt Anh - Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam, cho biết: “Nước cấp sau khi phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau như sinh hoạt, sản xuất, du lịch, giao thông hay nông nghiệp đều chuyển hóa thành nước thải. Nước thải chính là một phần của chu trình thủy văn đô thị, thông thường sẽ phải được thu gom qua các công trình thuộc mạng lưới thoát nước như cống thoát nước, trạm bơm nước thải và truyền dẫn về các công trình xử lý nước thải. Tại các nhà máy xử lý này, nước thải được làm sạch trước khi xả ra nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái sử dụng cho các mục đích khác nhau”.

www.png

Về nguyên tắc, đó là một chu trình khép kín, trong đó mỗi mắt xích đều có vai trò quyết định đến hiệu quả cuối cùng. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào số lượng nhà máy xử lý nước thải đã được xây dựng tại các đô thị, rất khó đánh giá chính xác lượng nước thải thực sự được xử lý. Một nhà máy có công suất lớn không đồng nghĩa với việc mỗi ngày nhà máy đó đều tiếp nhận đầy đủ lượng nước thải tương ứng với công suất thiết kế, bởi phía trước nhà máy còn cả một mạng lưới đấu nối, thu gom và truyền dẫn. Đây chính là phần hạ tầng thường ít được nhìn thấy nhưng lại quyết định nước thải có thực sự “đi đến nơi cần đến” hay không.

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, đến tháng 12/2024, toàn quốc có 83 nhà máy xử lý nước thải đô thị đang vận hành ở hơn 50 đô thị, tổng công suất thiết kế khoảng 2,064 triệu m³/ngày, công suất thực tế khoảng 1,063 triệu m³/ngày, và tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải đô thị bình quân đạt 18% trên tổng lượng nước thải phát sinh. Báo cáo của Đoàn giám sát Quốc hội năm 2025 cũng đưa ra con số khoảng 18%. Con số ấy không có nghĩa 82% còn lại "biến mất". Thực tế, phần lớn được xả qua các cống chung ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt, tức là sông, kênh, mương, ao hồ.

deeee.png

Tại tọa đàm “Tham vấn các bên liên quan về khung pháp lý cho quản lý vận hành và đầu tư PPP trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải” diễn ra vào cuối năm 2025, ông Trần Hoài Anh, Phó Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng (Bộ Xây dựng), cho biết tỷ lệ thu gom nước thải trong phạm vi phục vụ của hệ thống thoát nước đô thị toàn quốc đạt khoảng 70% và nhiều đô thị loại II trở xuống chưa có hệ thống thu gom, xử lý tập trung, chỉ gom chung vào hệ thống thoát nước mưa. Khoảng cách giữa "có cống" và "có xử lý" đã chỉ ra một thực tế rõ ràng: Rất nhiều nước thải đã được gom, nhưng gom để đưa ra sông, hồ chứ chưa phải để đưa về nhà máy.

capture(5).jpg
Đồng hồ đo lưu lượng nước thải

Vậy làm sao biết nước thải đã thực sự về đến nhà máy? GS.TS Nguyễn Việt Anh chỉ ra một phép kiểm tra đơn giản mà chính xác: Căn cứ vào chỉ số đồng hồ đo nước. Bằng cách so sánh lượng nước cấp vào một khu dân cư hay đô thị với lượng nước đi qua đồng hồ đo tại trạm bơm dẫn về nhà máy xử lý nước thải, hai thông số này cho biết tỷ lệ nước thải thực sự được thu gom và xử lý. Thông thường, nếu chưa kể lượng nước bề mặt, nước ngầm thâm nhập vào cống thoát nước đô thị, tỷ lệ này phải đạt 90-100%, trong khi Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 18%, cho thấy còn rất nhiều việc phải làm.

eeefefef.png

Nghịch lý là hệ thống xử lý nước thải đã được đầu tư khá nhiều nhưng lại chạy không hết công suất. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 83 nhà máy xử lý nước thải đô thị với tổng công suất thiết kế hơn 2 triệu m³/ngày đêm, nhưng chỉ vận hành đạt 50 – 60% do thiếu mạng lưới thu gom đồng bộ, và chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn. GS.TS Nguyễn Việt Anh cũng đưa ra nhận định tương tự: Nhiều trạm xử lý nước thải dù đã đi vào hoạt động nhưng đành phải vận hành dưới công suất thiết kế vì nước thải chưa được thu gom triệt để.

Những dòng sông oằn mình dưới áp lực nước thải

Sông Tô Lịch: Từ "dòng sông chết" đến những nhịp hồi sinh chưa bền

Sông Tô Lịch chảy qua nhiều khu dân cư đông đúc của nội đô. Đoạn qua các phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Yên Hòa nằm trong lưu vực thoát nước S3, nơi nhà cửa, ngõ phố ken sát dòng sông. Nhiều năm qua, đây là một trong những điểm nóng ô nhiễm nhất của Thủ đô.

Theo thời gian, cũng đã có những thay đổi đáng kể trên con sông này. Theo Ban Quản lý dự án xử lý nước thải Yên Xá, từ ngày 15/8/2025, đơn vị thi công đã thu gom toàn bộ 245 cửa xả trên sông Tô Lịch, nước thải được dẫn về Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá, nhà máy nâng công suất lên 200.000 m³/ngày đêm. Khi ấy, nước Hồ Tây và nước sau xử lý được bổ cập để tạo dòng chảy, mặt sông từng có màu xanh rêu hiếm thấy. Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau khi dừng xả nước Hồ Tây, nhiều đoạn sông Tô Lịch lại đen sẫm và bốc mùi.

capture(2).jpg
Dù nhiều lần được triển khai các giải pháp làm sạch, sông Tô Lịch vẫn có thời điểm đen sẫm, bốc mùi

Bước sang năm 2026, áp lực nước thải lên sông Tô Lịch vẫn chưa được giải quyết triệt để. Ghi nhận của phóng viên Tạp chí Môi trường & Cuộc sống tại một số khu vực dọc tuyến sông cho thấy, có thời điểm nước sông chuyển màu sẫm, trên mặt nước xuất hiện váng, mùi hôi rõ hơn trong những ngày nắng nóng. Tại một số vị trí, nước từ hệ thống thoát nước vẫn chảy vào lòng sông, cho thấy việc kiểm soát nguồn xả chưa thể tách rời với bài toán thu gom và xử lý nước thải.

Theo đại diện Ban Quản lý dự án, dù 245 cửa xả đã được thu gom, nước mưa và nước thải tại khu vực vẫn còn sử dụng chung hệ thống cống. Vì vậy, khi mưa lớn, lượng nước tăng nhanh có thể khiến nước thải hòa lẫn với nước mưa và tràn xuống sông. Đây cũng là một trong những điểm nghẽn khiến việc xử lý ô nhiễm Tô Lịch chưa thể giải quyết chỉ bằng việc đầu tư nhà máy xử lý.

Để cải thiện dòng chảy, thành phố Hà Nội đang tiếp tục triển khai các giải pháp bổ cập nước cho sông Tô Lịch. Tuy nhiên, về lâu dài, việc kiểm soát nguồn nước thải ngay từ khu dân cư, hoàn thiện mạng lưới thu gom và từng bước tách nước mưa khỏi nước thải vẫn là những khâu then chốt để giảm áp lực lên dòng sông.

Sông Kim Ngưu: Bốc mùi phụ thuộc vào thời tiết

Tại khu vực sông Kim Ngưu, đoạn ven khu tập thể Quỳnh Mai, số 192 Kim Ngưu, phường Bạch Mai, Hà Nội, phóng viên ghi nhận dòng nước có màu đục sẫm, tại một số thời điểm xuất hiện mùi hôi đặc trưng của dòng nước chịu tác động bởi nước thải đô thị. Đây là khu vực có mật độ dân cư tương đối cao, nhiều công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh nằm dọc hai bên tuyến sông, khiến áp lực đối với hệ thống thoát nước và môi trường dòng sông vẫn hiện hữu.

Nước thải sinh hoạt từ các hộ dân trong khu vực hai bên bờ vẫn là một trong những nguồn gây áp lực lên chất lượng nước tại đoạn sông này. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là mức độ ô nhiễm và mùi phát sinh không phải lúc nào cũng giống nhau mà có sự thay đổi rõ rệt theo điều kiện thời tiết và khả năng lưu thông của dòng nước.

Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Văn Hiếu (60 tuổi), nhân viên bảo vệ làm việc tại một công ty ven sông, cho biết mức độ phát tán mùi hôi phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết.

asasa.png

Một số người dân sống lâu năm tại khu vực cũng chia sẻ, hệ thống dòng chảy tại đoạn sông này hiện tương đối tốt, không thường xuyên xuất hiện tình trạng ứ đọng hay tắc nghẽn rác thải nghiêm trọng. Đáng chú ý, so với nhiều năm trước, mức độ ô nhiễm và mùi hôi thối tại sông Kim Ngưu đã giảm rõ rệt, môi trường xung quanh hiện đã có những cải thiện nhất định.

Thực tế này cho thấy chất lượng môi trường của một dòng sông đô thị không chỉ phụ thuộc vào lượng nước thải phát sinh mà còn chịu ảnh hưởng bởi khả năng lưu thông dòng chảy, hệ thống tiêu thoát nước và các công trình kiểm soát nước thải trong toàn lưu vực. Tuy nhiên, việc mùi hôi giảm trong những thời điểm dòng nước lưu thông tốt cũng không đồng nghĩa với việc nguồn ô nhiễm đã được xử lý tận gốc. Nếu nước thải chưa được xử lý trước khi đi vào nguồn tiếp nhận thì việc dòng sông có khả năng cuốn trôi, pha loãng chất ô nhiễm chỉ có thể làm thay đổi biểu hiện của ô nhiễm theo thời gian và không gian.

Sông Nhuệ: Xả thải công khai, xử lý chưa hiệu quả

Từ trung tâm sang phía Tây Nam, phóng viên đến khu đô thị mới Xa La, phường Hà Đông, thành phố Hà Nội, ven sông Nhuệ. Theo ghi nhận thực tế, tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh, đời sống sinh hoạt và việc buôn bán của người dân.

capture(4).jpg
Ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đời sống và việc buôn bán của người dân

Bà Bùi Xuân Hòa (54 tuổi) bán nước ven sông, cho biết khu vực này thường xuyên phải chịu cảnh phân và chất thải sinh hoạt chưa qua xử lý bị xả trực tiếp xuống sông. Đáng lo hơn, các đợt xả thải đặc quánh thường kéo dài. Điển hình như thời điểm cận Tết năm 2025, sông bị xả thải liên tục ba ngày liền, mùi hôi thối nồng nặc. Vì chất thải đổ về từ hệ thống cống chung, người dân rất khó xác định chính xác nguồn phát thải bắt đầu từ đâu. Dù tình trạng diễn ra công khai và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, phản ánh của người dân cho thấy sự can thiệp, xử lý từ chính quyền địa phương vẫn chưa hiệu quả.

Vào tháng 7/2026, phóng viên cũng ghi nhận nhiều đoạn sông Nhuệ chảy qua các phường Đông Ngạc, Thụy Phương, Xuân Phương, Trung Văn và Hà Đông có nước đục hoặc xanh đen, rác thải và bèo phủ kín mặt nước, nước thải sinh hoạt từ các cống xả trực tiếp ra sông. Theo thống kê của thành phố Hà Nội, lưu vực sông Nhuệ có khoảng 2.521 nguồn thải từ cơ sở sản xuất, kinh doanh, khu và cụm công nghiệp, cơ sở y tế và làng nghề. Thành phố đã thông qua chủ trương cải tạo sông với tổng vốn dự kiến hơn 75.000 tỷ đồng, dự kiến triển khai giai đoạn 2026–2029. Với những người dân quanh khu vực, đó vẫn là tương lai. Hiện tại, mỗi ngày họ vẫn phải sống cạnh dòng nước ô nhiễm nghiêm trọng.

TP.HCM: Kênh cải tạo xong vẫn chờ nhà máy

Ở khu vực phía Nam, bài toán nước thải đô thị cũng vẫn còn nan giải. Nhiều tuyến kênh như Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tân Hóa – Lò Gốm sau khi được cải tạo vẫn chịu áp lực từ nước thải và rác thải. Đầu năm 2026, một số khu vực như kênh 19 Tháng 5, Nhiêu Lộc – Thị Nghè, dọc đường Lò Gốm và bờ Bắc sông Chùa tiếp tục được người dân phản ánh về tình trạng nước đổi màu, bốc mùi. Trên tuyến Nhiêu Lộc – Thị Nghè, rác từ thượng nguồn có thời điểm dồn về cuối tuyến thành từng mảng, cho thấy việc cải tạo cảnh quan chưa thể giải quyết tận gốc nếu nguồn nước thải chưa được kiểm soát.

ewwwww.jpg
Rác, nước đen và mùi hôi lại “bủa vây” kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè sau nhiều nỗ lực làm sạch

Một trong những điểm nghẽn nằm ở hệ thống thu gom. Khi nước mưa và nước thải còn chung đường, một phần nước thải vẫn có thể theo hệ thống thoát nước chảy ra kênh. Nhà máy xử lý nước thải Nhiêu Lộc – Thị Nghè, công suất thiết kế 480.000 m³/ngày đêm, được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng này, với mục tiêu hoàn thành trước ngày 31/12/2026 và vận hành thử nghiệm.

TP.HCM đặt mục tiêu đến cuối năm 2026, tỷ lệ thu gom nước thải đô thị đạt tối thiểu 50%, trong khi tỷ lệ nước thải được xử lý đạt quy chuẩn trên 25%. Thành phố cũng yêu cầu ưu tiên khai thác hiệu quả các nhà máy đã đầu tư nhưng chưa sử dụng hết công suất.

“

Điều này cho thấy nghịch lý không chỉ nằm ở việc thiếu nhà máy, mà còn ở chỗ nước thải chưa được thu gom đầy đủ để đưa về nơi xử lý.

Hệ thống nhà máy xử lý nước thải: Đã đủ để “đón” nước thải?

Sau nhiều năm đầu tư, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị của Việt Nam đã được mở rộng nhưng vẫn còn khá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế.

Tại Hà Nội, hiện đã có các nhà máy xử lý nước thải lớn như Yên Sở, Bắc Thăng Long – Vân Trì, Hồ Tây, Bảy Mẫu, Kim Liên và Trúc Bạch, Yên Xá với tổng công suất được đầu tư khoảng 414.300 m³/ngày đêm; tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý đạt khoảng 52%.

Trong đó, Yên Xá là công trình có quy mô lớn nhất với công suất thiết kế 270.000 m³/ngày đêm, tổng mức đầu tư hơn 16.200 tỷ đồng. Nhà máy được khánh thành tháng 8/2025, song để công suất này thực sự phát huy hiệu quả, hệ thống cống bao và mạng lưới thu gom vẫn phải tiếp tục được hoàn thiện, trong đó có các tuyến thu gom nước thải từ lưu vực sông Lừ về Yên Xá.

3ee333.png

Một dự án đáng chú ý khác là Nhà máy xử lý nước thải Phú Đô, được Hà Nội chuẩn bị triển khai trong năm 2026, với công suất thiết kế 91.500 m³/ngày đêm và khả năng tiếp nhận tối đa 113.000 m³/ngày đêm vào những ngày mưa. Dự án đi kèm khoảng 24 km tuyến cống thu gom và 5 trạm bơm, phục vụ các khu vực Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Yên Hòa, Phú Diễn, Từ Liêm và Đại Mỗ. Việc tính đến lưu lượng lớn hơn trong điều kiện mưa cho thấy bài toán nước mưa – nước thải đang ngày càng được đặt vào trung tâm của quy hoạch thoát nước đô thị.

Dù vậy, khoảng cách giữa nhu cầu và năng lực xử lý vẫn còn lớn. Theo quy hoạch thoát nước Thủ đô đến năm 2030, Hà Nội được định hướng tổ chức 39 lưu vực, thu gom và xử lý tại 41 nhà máy với tổng công suất khoảng 1,8 triệu m³/ngày đêm.

chatgpt-image-10_49_36-29-thg-9-2026.png

“

Những con số trên cho thấy Hà Nội không chỉ cần thêm nhà máy, mà quan trọng hơn là phải hoàn thiện mạng lưới thu gom để nước thải từ từng khu dân cư thực sự có thể đi đến đúng nơi cần xử lý.

Có nhà máy nhưng nước thải vẫn

“ra sông”

GS.TS Nguyễn Việt Anh chỉ ra rằng, rằng để dòng nước thải được gom về nhà máy xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường hoặc tái sử dụng, các hộ gia đình cũng như các cơ sở sản xuất, dịch vụ bắt buộc phải được đấu nối vào hệ thống, đồng thời mạng lưới cống thoát nước phải được xây dựng đồng bộ. Ông nhấn mạnh rào cản chính là chưa đầu tư thỏa đáng cho hệ thống thu gom và xử lý nước thải.

chatgpt-image-11_05_40-29-thg-9-2026.png

Ở nhiều đô thị Việt Nam, nước thải còn lẫn với nước mưa do chưa được tách riêng. Điều đó khiến nước thải bị pha loãng nhưng lưu lượng rất lớn, buộc các trạm xử lý phải đối phó với một hỗn hợp phức tạp, biến động theo giờ, theo ngày và theo mùa.

PGS.TS Lê Hùng Anh - Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Viện trưởng, Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường (Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh) , nhìn vấn đề từ góc độ quy hoạch: "Trong nhiều năm qua, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các đô thị vẫn chưa hoàn chỉnh. Ở nhiều nơi, cơ sở hạ tầng xử lý nước thải được triển khai sau khi đô thị đã hình thành, khiến không bao giờ đạt được hệ thống thoát nước đồng bộ và bền vững như mong muốn." Theo ông, công tác cấp thoát nước, xử lý rác thải, chống ngập… chưa được đặt vào nhóm ưu tiên như giao thông hay phát triển kinh tế.

ttttt.png

Những con số về vốn cho thấy đây không chỉ là chuyện kỹ thuật. Theo Bộ Xây dựng, nhu cầu vốn đầu tư thu gom, xử lý nước thải gấp từ 3 đến 10 lần vốn đầu tư cho cấp nước, trong khi khả năng đáp ứng từ ngân sách thấp và chưa huy động được vốn xã hội hóa.

“

Một nhà máy hiện đại đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu phía trước không có mạng lưới thu gom đồng bộ, còn nếu mạng lưới được đầu tư mà nhà máy chạy dưới công suất thì cũng là lãng phí nguồn lực.

Bài toán không chỉ là xây nhà máy, mà phải quản lý cả hành trình của nước thải

Kiểm soát toàn bộ hành trình của nước thải

capture(5).jpg

Từ góc nhìn của GS.TS Nguyễn Việt Anh, để kiểm soát được toàn bộ đường đi của nước thải từ khu dân cư đến nơi xử lý và điểm xả, không thể chỉ đầu tư riêng lẻ từng công trình. “Hệ thống thoát nước đô thị bao gồm nhiều thành phần liên hoàn, từ các thiết bị vệ sinh và hệ thống thoát nước trong nhà, công trình xử lý cục bộ tại hộ gia đình, đến việc đấu nối, mạng lưới cống thu gom truyền dẫn, các nhà máy xử lý nước thải, xử lý bùn cặn, kiểm soát mùi hôi và xả nước ra nguồn tiếp nhận hoặc tái sử dụng an toàn, bền vững”.

Theo ông, tất cả những thành phần này phải được triển khai đồng bộ, đảm bảo đủ nguồn kinh phí xây dựng và đặc biệt là phải bảo đảm đủ chi phí cho vận hành, bảo dưỡng thường xuyên để hệ thống có thể hoạt động hiệu quả trong thời gian dài.

“

Trong thời gian tới, việc ưu tiên dành nguồn lực cho công tác thu gom và xử lý nước thải là vô cùng cấp thiết. Nguồn lực này cần được huy động đa dạng: bên cạnh ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác, cần áp dụng nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" – tức là những người phát sinh và xả nước thải vào hệ thống hoặc ra môi trường phải có nghĩa vụ đóng góp kinh phí; đồng thời những đối tượng hưởng lợi từ dịch vụ thu gom, xử lý nước thải cũng phải chia sẻ chi phí. Ngoài ra, tái sử dụng nước thải và thu hồi năng lượng, các chất có ích từ bùn thải cũng sẽ tạo ra nguồn thu bền vững

GS.TS Nguyễn Việt Anh - Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam

Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với tính bền vững của các dự án xử lý nước thải. Một nhà máy có thể được xây dựng bằng nguồn vốn rất lớn, nhưng nếu không có kinh phí vận hành, bảo dưỡng, không có nguồn thu ổn định và không có cơ chế để người sử dụng dịch vụ chia sẻ chi phí thì hiệu quả của công trình về lâu dài sẽ khó được bảo đảm.

Ở chiều ngược lại, nếu người dân phải trả phí nhưng không nhìn thấy rõ nước thải của gia đình mình được thu gom và xử lý như thế nào, niềm tin đối với dịch vụ cũng khó được duy trì. Bởi vậy, minh bạch về lượng nước thải được thu gom, công suất nhà máy, chất lượng nước sau xử lý và điểm xả cuối cùng không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là cơ sở để cộng đồng tham gia giám sát.

Xử lý bán tập trung và vai trò của cộng đồng

PGS.TS Lê Hùng Anh cho rằng, ở góc độ công nghệ và giải pháp phù hợp, mô hình xử lý nước thải bán tập trung sẽ hiệu quả hơn với điều kiện đô thị Việt Nam. "Thay vì dồn toàn bộ nước thải về một nhà máy lớn, chúng ta có thể xử lý tại các khu dân cư, cụm đô thị hoặc tòa nhà chung cư. Mô hình này giúp giảm chi phí đầu tư, dễ quản lý, không cần hệ thống cống thu gom dài, đồng thời có thể tái sử dụng nước sau xử lý ngay tại chỗ cho tưới cây hoặc vệ sinh công cộng."

Ông lấy ví dụ công nghệ Biorotor của Croatia, phù hợp với các khu dân cư nhỏ đến vừa, vận hành ổn định, ít tốn chi phí và bền vững trong nhiều điều kiện thời tiết. Theo ông, đây là hướng đi thực tế hơn cho Việt Nam, đặc biệt khi các đô thị lớn đang chịu áp lực quỹ đất và chi phí vận hành cao. Cách nhìn này cũng phù hợp với nhận định của Cục môi trường, rằng bên cạnh thu gom và xử lý tập trung, cần phát triển và áp dụng cả giải pháp xử lý nước thải tại chỗ.

Một yếu tố khác được PGS.TS Lê Hùng Anh nhấn mạnh là sự tham gia của người dân.

“

Hiệu quả xử lý nước thải không chỉ phụ thuộc vào công nghệ, mà còn nằm ở sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp cấp thoát nước và người dân. Khi người dân hiểu rõ nước thải của họ được xử lý ra sao, nguồn phí họ đóng được sử dụng thế nào, họ sẽ chủ động giám sát và đồng hành cùng chính quyền.

PGS.TS Lê Hùng Anh - Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường (Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh)

Trong ngắn hạn, theo PGS.TS Lê Hùng Anh, cần tập trung duy tu, khơi thông hệ thống thoát nước hiện hữu, sửa chữa những tuyến cống xuống cấp, nạo vét lòng kênh, hồ điều hòa để tăng khả năng tiêu thoát nước, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để người dân không xả rác và nước thải trực tiếp ra môi trường. Về lâu dài, quy hoạch đô thị phải tính đến yếu tố nước thải ngay từ đầu. Mỗi dự án nhà ở, khu đô thị, trung tâm thương mại đều phải có hệ thống xử lý nước thải cục bộ đạt chuẩn trước khi xả ra hệ thống chung. Song song, cần khuyến khích mô hình xử lý tại chỗ, nhất là ở các khu dân cư ven đô hoặc khu công nghiệp nhỏ, nơi khó đấu nối vào hệ thống tập trung.

Một hướng đi được giới chuyên môn nhấn mạnh là hợp tác công – tư (PPP). Tuy nhiên đây cũng là lĩnh vực khó thu hút đầu tư vì lợi nhuận thấp, vòng đời dự án dài. Để khuyến khích doanh nghiệp tham gia, cần chính sách hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế hoặc cơ chế thu phí thoát nước hợp lý.

chatgpt-image-11_24_34-29-thg-9-2026.png
PGS.TS Lê Hùng Anh đưa ra ba định hướng quan trọng để nâng cao hiệu quả xử lý nước thải trong 5–10 năm tới

Nhìn từ những dòng sông vẫn chịu áp lực ô nhiễm, những khu dân cư chưa được đấu nối đầy đủ và những nhà máy chưa thể khai thác hết công suất, có thể thấy bài toán nước thải đô thị không đơn thuần là thiếu nhà máy. Đó là câu chuyện của cả một chuỗi hạ tầng và quản lý, từ nơi nước được sử dụng, phát sinh thành nước thải, được thu gom, truyền dẫn đến nhà máy, xử lý đạt yêu cầu rồi mới trở lại môi trường.

chatgpt-image-11_30_44-29-thg-9-2026.png

“

Chỉ cần một mắt xích chưa hoàn thiện, nước thải có thể tìm một đường đi khác: Theo cống thoát nước ra kênh, mương, ao hồ, sông; hòa lẫn với nước mưa trong những trận mưa lớn hoặc thoát ra môi trường mà không được kiểm soát đầy đủ.

Vì thế, để biết hệ thống xử lý nước thải thực sự hiệu quả đến đâu, không thể chỉ nhìn vào số lượng nhà máy hay công suất thiết kế, mà phải trả lời được một chuỗi câu hỏi cụ thể: Bao nhiêu nước thải phát sinh, bao nhiêu được thu gom, bao nhiêu về đến nhà máy và bao nhiêu được xử lý đạt yêu cầu trước khi xả ra môi trường.

Bởi suy cho cùng, hiệu quả của một nhà máy không nằm ở những con số công suất trên giấy, mà ở việc dòng nước thải từ từng căn nhà, khu dân cư có thực sự tìm được đường đến nơi xử lý. Và chỉ khi những dòng nước đen không còn là điểm đến cuối cùng của nước thải đô thị, mục tiêu bảo vệ nguồn nước và xây dựng những đô thị đáng sống mới thực sự có ý nghĩa.

Bài liên quan
  • Bài 2: Ô nhiễm đô thị Hà Nội: Những điểm nóng khói và bụi đang ở đâu?
    Khói xe, bụi đường, bụi xây dựng, khí thải công nghiệp và hoạt động logistics đang tạo nên những “điểm nóng” ô nhiễm trải dài từ khu vực nội đô lịch sử đến các cửa ngõ phát triển mới. Đáng lo ngại hơn, ô nhiễm không khí không còn là hiện tượng mang tính mùa vụ mà đã trở thành áp lực môi trường kéo dài quanh năm dưới tác động của đô thị hóa, biến đổi khí hậu và hiệu ứng đảo nhiệt.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Ô nhiễm môi trường đô thị (Bài 3): Nước thải đô thị đang đi đâu?
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.