Nước và cuộc sống

Bài 8: Từ nhận diện rủi ro đến kiến tạo cơ chế quản trị nguồn nước miền Trung - Tây Nguyên

Khang Vũ • 25/09/2026 08:06

Miền Trung – Tây Nguyên đang đối mặt nghịch lý nguồn nước: có nơi thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô nhưng lại hứng chịu lũ lụt, sạt lở khi mưa cực đoan. Biến đổi khí hậu khiến ranh giới thừa – thiếu nước ngày càng khó lường, bộc lộ những giới hạn của cách ứng phó bị động. Từ những phân tích về nguồn nước, hạ tầng, dữ liệu và cơ chế quản lý, chuyên đề đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang quản trị chủ động theo lưu vực, dựa trên dữ liệu, thể chế và năng lực thích ứng.

anh-bia.png

Miền Trung – Tây Nguyên đang đứng trước bài toán an ninh nguồn nước ngày càng phức tạp khi thiếu nước, ngập lụt và sạt lở có thể xảy ra trong cùng một không gian và thời gian khác nhau. Biến đổi khí hậu khiến ranh giới thừa – thiếu nước ngày càng khó lường, bộc lộ những giới hạn của cách ứng phó bị động. Đồng thời, đặt ra yêu cầu dịch chuyển từ ứng phó bị động sang quản trị chủ động, liên vùng và theo lưu vực, với dữ liệu, hạ tầng và thể chế đủ năng lực thích ứng trước những biến động ngày càng khó lường.

Từ nhận diện rủi ro đến yêu cầu quản trị nguồn nước

Miền Trung – Tây Nguyên đang đối mặt với nghịch lý: có nhiều lưu vực sông, hồ chứa, thủy điện và tiềm năng nước dưới đất nhưng vẫn thường xuyên thiếu nước mùa khô, trong khi mùa mưa xuất hiện mưa lớn, lũ quét, sạt lở và ngập lụt. Khoảng 60–80% dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, còn mùa khô có thể kéo dài 6–8 tháng. Tổng lượng nước vì thế không đồng nghĩa với khả năng bảo đảm nước ổn định cho sản xuất, sinh hoạt và hệ sinh thái.

Theo GS.TS Phạm Quý Nhân - Phó Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam, thách thức cốt lõi không chỉ là thiếu nước mà còn nằm ở sự phân bố không đều theo không gian, thời gian, trong khi năng lực tích trữ, điều tiết và phân phối còn hạn chế. Bài toán an ninh nguồn nước cần được nhìn đồng thời từ khả năng cung cấp, nhu cầu sử dụng và năng lực quản trị. Thực tế tại Đắk Lắk cho thấy rõ vấn đề này.

ho-lak-4.png
Hồ Đăk Lăk góp phần điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống
trong mùa khô

Đắk Lắk có 1.208 công trình thủy lợi, gồm 676 đập, hồ chứa với tổng dung tích khoảng 800 triệu m³, nhưng nhiều công trình xuống cấp, bồi lắng. Mùa khô năm 2024, hơn 27.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng do hạn, thiếu nước, thiệt hại ước hơn 155 tỷ đồng. theo ông Hiển, điều đó cho thấy, xây thêm công trình không thể tự giải quyết bài toán nguồn nước; cần xác định đúng nơi tích trữ, dung tích, phương thức vận hành và thứ tự ưu tiên phân bổ.

Từ thực tiễn Đắk Lắk, ông Nguyễn Thiên Văn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho rằng, đổi mới quản lý tài nguyên nước cần gắn với số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát tự động và nâng cao khả năng theo dõi diễn biến nguồn nước. Đây cũng là hướng tiếp cận giúp địa phương từng bước chuyển từ quản lý dựa nhiều vào phương thức truyền thống sang quản lý hiện đại hơn, đồng thời kết nối bài toán nước với năng lượng xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ hành lang nguồn nước.

Ở cấp độ rộng hơn, ông Chu Phạm Ngọc Hiển - Chủ tịch Hội Nước và Môi trường Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy khai thác đơn thuần sang quản trị tổng hợp tài nguyên nước, tăng cường phối hợp đa ngành, đa mục tiêu và phát huy đồng thời các giá trị kinh tế, xã hội, sinh thái của nguồn nước. Đây là cách tiếp cận đặc biệt quan trọng với miền Trung – Tây Nguyên, nơi tài nguyên nước gắn chặt với sản xuất, sinh kế, môi trường và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Từ khai thác sang quản trị tổng hợp, từ ứng phó sang chủ động phòng ngừa và từ quản lý riêng lẻ sang quản trị theo lưu vực là những chuyển dịch cần thiết để tăng khả năng chống chịu và bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài.

phan-1.png

Chuyển từ ứng phó sang quản trị an ninh nguồn nước

Thực tiễn miền Trung – Tây Nguyên cho thấy bài toán an ninh nguồn nước đang thay đổi cả về quy mô và tính chất. Biến đổi khí hậu, nhu cầu sử dụng gia tăng và sức ép lên hệ sinh thái đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện hơn. Nguồn nước cần được nhìn trong mối liên hệ giữa tự nhiên, công trình, sản xuất, dân sinh, dữ liệu và năng lực quản trị. Từ đó, yêu cầu 5 chuyển biến cốt lõi đang định hình tư duy mới:

Quản trị toàn bộ chuỗi rủi ro

Những năm gần đây, việc thiếu nước mùa khô, lũ lụt, lũ quét hay sạt lở không còn là những hiện tượng tách biệt mà nằm trong chuỗi rủi ro chịu tác động đồng thời của khí hậu, lượng mưa, dòng chảy, khả năng tích trữ, rừng, đất, nhu cầu khai thác và vận hành công trình.

Theo thống kê, Miền Trung – Tây Nguyên có khoảng 60–80% dòng chảy năm tập trung vào mùa mưa, trong khi mùa khô có thể kéo dài 6–8 tháng. Một khu vực vì thế có thể nhanh chóng chuyển từ dư thừa sang thiếu nước.

GS.TS Phạm Quý Nhân nhấn mạnh, chính sự chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô khiến an ninh nguồn nước phải được nhìn nhận theo cả hai chiều: vừa thiếu nước trong mùa khô, vừa đối mặt với dòng chảy cực đoan, lũ lụt trong mùa mưa. Khai thác quá mức nước dưới đất, ô nhiễm và suy giảm hệ sinh thái tiếp tục làm giảm khả năng phục hồi của nguồn nước. Quản trị nguồn nước vì vậy cần bao quát toàn bộ chuỗi từ nguồn sinh thủy, dòng chảy, hồ chứa, nước dưới đất đến nhu cầu sử dụng và khu vực chịu tác động.

Quản trị tổng hợp theo lưu vực

Hồ chứa, công trình thủy lợi và các nguồn nước mới vẫn cần thiết, nhưng không thể là giải pháp duy nhất. Một địa phương có nhiều công trình vẫn có thể thiếu nước nếu hạ tầng phân bố chưa phù hợp, xuống cấp hoặc vận hành thiếu đồng bộ.

Đắk Lắk hiện có hơn 1.200 công trình thủy lợi, trong đó nhiều công trình đã xuống cấp, bồi lắng. Cùng với đó, Tây Nguyên có khoảng 640.000–700.000 ha cà phê và hơn 80.000 ha hồ tiêu, tạo áp lực lớn lên nguồn nước mùa khô. Vì vậy, bài toán không chỉ là tăng nguồn cung mà còn phải quản lý nhu cầu và nâng hiệu quả sử dụng.

Cũng theo GS.TS Phạm Quý Nhân, trọng tâm cần chuyển sang quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, thay cho cách tiếp cận phân tán theo địa giới và ngành sử dụng nước. Điều này đòi hỏi đồng thời bảo vệ rừng đầu nguồn, vận hành hiệu quả hồ chứa, kiểm soát khai thác nước dưới đất, tiết kiệm và tái sử dụng nước, cũng như nâng cao năng lực dự báo hạn hán, lũ lụt và kiểm soát ô nhiễm.

Theo định hướng của Luật Tài nguyên nước năm 2023, tài nguyên nước cần được quản trị theo hướng tổng hợp, tích hợp đa ngành, đa mục tiêu và đa giá trị, trong đó công trình, rừng, đất, quy hoạch và dữ liệu được đặt trong cùng một hệ thống.

Từ hạ tầng công trình sang kết hợp hạ tầng xanh và hạ tầng số

Hồ chứa, thủy lợi, cấp nước và mạng lưới quan trắc vẫn là những cấu phần thiết yếu, nhưng công trình đơn lẻ khó tạo ra khả năng chống chịu nếu thiếu hệ sinh thái hỗ trợ và thông tin đầy đủ.

Ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước và nơi dân cư phân tán, TS. Triệu Đức Huy (Phó Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia) lưu ý, bài toán không chỉ nằm ở việc đưa nước đến với người dân mà còn ở khả năng lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp, bảo đảm vận hành ổn định và lâu dài. Nước dưới đất, nếu được điều tra đầy đủ về trữ lượng, chất lượng và khả năng khai thác bền vững, có thể trở thành nguồn bổ sung quan trọng cho những khu vực này.

Ông Huy nhấn mạnh, giữ nước vì vậy cần bắt đầu từ rừng, đất và các vùng sinh thủy, kết hợp ao trữ nước, tăng khả năng giữ ẩm của đất, nông nghiệp tái sinh và sử dụng hợp lý nguồn nước. Ở quy mô lớn, cần kết hợp hạ tầng xám – hạ tầng xanh – hạ tầng số.

sinh-thai.png
Hình minh hoạ

Giữ nước cần bắt đầu từ rừng, đất và các vùng sinh thủy, kết hợp ao trữ nước, tăng khả năng giữ ẩm của đất, nông nghiệp tái sinh và sử dụng hợp lý nguồn nước. Ở quy mô lớn, cần kết hợp hạ tầng xám – hạ tầng xanh – hạ tầng số.

Các công nghệ như AI, GIS, IoT, ảnh vệ tinh và Digital Twin có thể kết nối dữ liệu về mưa, dòng chảy, hồ chứa, nước dưới đất, dân cư và hạ tầng, phục vụ dự báo và điều hành.

Còn TS. Lê Thị Mai Vân (Viện Quy hoạch Thủy lợi) cho rằng, mô hình thủy lợi xanh cần được xây dựng trên sự kết hợp giữa công trình hiện hữu với các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi đất ngập nước, thu gom nước mưa, trồng rừng, tăng khả năng giữ nước của lưu vực và phát triển các hồ chứa tự nhiên. Công nghệ số như IoT, AI, cảm biến, SCADA và Digital Twin có thể hỗ trợ giám sát, mô phỏng, dự báo và vận hành công trình theo thời gian thực.

An ninh nguồn nước vì vậy không chỉ được xây dựng bằng công trình mà còn dựa vào sức chống chịu của hệ sinh thái và năng lực khai thác dữ liệu.

Sử dụng nước hiệu quả trong sản xuất

Nông nghiệp là lĩnh vực thể hiện rõ yêu cầu chuyển từ tăng nguồn cung sang quản lý nhu cầu. Tiết kiệm nước không chỉ là giảm lượng nước tưới mà còn phải tổ chức sản xuất phù hợp với khả năng cung cấp của nguồn nước.

Theo TS. Lê Thị Mai Vân, nông nghiệp hiện sử dụng khoảng 82% tổng lượng nước, trong khi hiệu quả khai thác hệ thống tưới còn hạn chế. Áp lực không chỉ đến từ lượng nước mà còn từ chất lượng nước, ô nhiễm và khả năng tái sử dụng dòng chảy hồi quy. Vì vậy, chuyển đổi hệ thống thủy lợi theo hướng xanh, tuần hoàn và thông minh cần trở thành một phần của quá trình nâng hiệu quả sử dụng nước.

Tưới theo độ ẩm đất, sử dụng cảm biến, điều chỉnh thời điểm tưới, thu gom nước mưa, tăng khả năng giữ nước của đất, tái sử dụng nước và lựa chọn cây trồng phù hợp cần được triển khai đồng bộ. Đây là bước chuyển từ tư duy nước phục vụ sản xuất sang sản xuất thích ứng với nguồn nước, dựa trên khả năng cung cấp thực tế của lưu vực theo từng mùa và từng kịch bản khí hậu.

Trách nhiệm của Nhà nước và sự tham gia của toàn xã hội

Nguồn nước được sử dụng bởi nhiều chủ thể, từ người dân, nông dân, doanh nghiệp đến đô thị và hệ sinh thái. Vì vậy, bảo đảm an ninh nguồn nước cần một cơ chế phối hợp rộng hơn.

Thực tiễn Đắk Lắk cho thấy quản lý nguồn nước đang được đặt trong mối liên hệ giữa chính quyền, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng. Ông Nguyễn Thiên Văn cũng nhấn mạnh yêu cầu số hóa dữ liệu, tăng cường giám sát và phát triển các mô hình đầu tư đa mục tiêu, qua đó cho thấy quản trị nước không còn là nhiệm vụ riêng của một ngành.

Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch, điều phối và giám sát; doanh nghiệp tham gia đầu tư, đổi mới công nghệ; giới khoa học cung cấp tri thức và công cụ dự báo; hợp tác xã tổ chức sản xuất; cộng đồng tham gia giám sát.

Năm chuyển biến trên cho thấy an ninh nguồn nước không còn đơn thuần là xây thêm công trình hay xử lý từng sự cố. Đây là bài toán quản trị đồng thời nguồn cung, nhu cầu, rủi ro, hệ sinh thái, dữ liệu và các chủ thể sử dụng nước.

phan-2_2.png
Nguồn nước miền Trung - Tây Nguyên đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu, nhu cầu sử dụng gia tăng

6 TRỤ CỘT CHÍNH SÁCH CHO QUẢN TRỊ AN NINH NGUỒN NƯỚC

Những sức ép ngày càng lớn đối với nguồn nước miền Trung – Tây Nguyên cho thấy yêu cầu hiện nay không chỉ là bổ sung công trình hay nguồn nước, mà phải đổi mới phương thức quản trị. Nguồn nước cần được quản lý theo lưu vực, điều hành trên nền tảng dữ liệu, dự báo và công nghệ, đồng thời huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và giới khoa học.

Thiết lập cơ chế quản trị nguồn nước theo lưu vực

Nước không tuân theo địa giới hành chính. Một trận mưa ở thượng nguồn, quyết định vận hành hồ chứa hay hoạt động khai thác nước dưới đất đều có thể tác động đến những địa bàn ở xa nơi phát sinh.

GS.TS Phạm Quý Nhân cho rằng với những lưu vực liên vùng, thậm chí liên quốc gia như Sê San, Srêpốk, yêu cầu phối hợp quản lý càng trở nên rõ nét. Điều này cho thấy cơ chế điều phối nguồn nước phải vượt khỏi phạm vi từng địa phương, từng ngành sử dụng nước.

Trận lũ trên lưu vực sông Ba năm 2025 cho thấy rõ yêu cầu này. Khi lượng nước về hồ Sông Ba Hạ tăng nhanh, lưu lượng có thời điểm đạt 16.120 m³/s, trong khi hạ du đồng thời chịu tác động của mưa lớn, dòng chảy từ các nhánh sông và khả năng tiêu thoát. Rủi ro vì vậy không thể được đánh giá riêng theo từng hồ chứa hay địa phương.

Cần củng cố cơ chế điều phối theo lưu vực, xác định rõ đầu mối tổng hợp dữ liệu và phối hợp giữa các địa phương, ngành và đơn vị vận hành công trình. Với các lưu vực có nhiều hồ chứa, cần từng bước vận hành liên hồ dựa trên diễn biến thực tế; đồng thời xây dựng kịch bản phân bổ nước theo mùa, xác định thứ tự ưu tiên cho sinh hoạt, sản xuất, công nghiệp, năng lượng và duy trì hệ sinh thái.

Hình thành kiến trúc dữ liệu liên thông về nguồn nước

Dữ liệu là nền tảng của quản trị theo lưu vực. Hiện thông tin về mưa, dòng chảy, hồ chứa, nước dưới đất, chất lượng nước, thủy lợi, dân cư và nhu cầu sử dụng còn phân tán ở nhiều hệ thống.

Từ thực tiễn Đắk Lắk, ông Nguyễn Thiên Văn đặt vấn đề đẩy mạnh số hóa dữ liệu và giám sát tự động để nâng cao khả năng theo dõi, quản lý nguồn nước. Trong khi đó, TS Triệu Đức Huy nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu tài nguyên nước, ưu tiên đầu tư ở những khu vực thiếu nước nghiêm trọng và phát triển các mô hình cấp nước đa nguồn có giám sát trực tuyến.

Cần xây dựng kiến trúc dữ liệu liên thông theo lưu vực, tích hợp từ quan trắc, truyền dữ liệu, dự báo, cảnh báo đến hỗ trợ quyết định. Chính sách cần quy định thống nhất về chuẩn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, phương thức chia sẻ và quyền truy cập, trong đó ưu tiên những thông tin cần cung cấp gần thời gian thực

Đưa AI vào đúng vị trí trong chuỗi quản trị

Hiện nay, công nghệ số đang được nhìn nhận không chỉ như công cụ lưu trữ dữ liệu mà ngày càng gắn với giám sát, mô phỏng và hỗ trợ điều hành. AI có thể xử lý khối lượng dữ liệu lớn và nâng cao năng lực dự báo, nhưng giá trị chỉ được phát huy khi công nghệ nằm trong một chuỗi quản trị hoàn chỉnh: quan trắc → chuẩn hóa dữ liệu → kết nối → phân tích → dự báo → cảnh báo → quyết định.

TS. Lê Thị Mai Vân đề cập khả năng ứng dụng IoT, AI, cảm biến, SCADA và Digital Twin trong vận hành hệ thống thủy lợi. Trong khi đó, ông Kim Tae Hoon (Giám đốc K-water chi nhánh Việt Nam) cho biết, AI có thể được tích hợp vào vận hành nhà máy nước, từ tối ưu hóa bơm, quản lý năng lượng đến nhận diện sớm nguy cơ sự cố.

ai-la-ai.png
Hình minh hoạ

Tại miền Trung – Tây Nguyên, những công nghệ này có thể được nghiên cứu ứng dụng cho dự báo nhu cầu sử dụng nước, nhận diện bất thường dòng chảy, dự báo hạn hán và lũ, mô phỏng vận hành hồ chứa, tối ưu tưới và giám sát chất lượng nước.

Tuy nhiên, cần ưu tiên những bài toán có hiệu quả rõ ràng như dự báo thiếu nước, vận hành hồ chứa, giảm thất thoát, tưới chính xác và cảnh báo thiên tai; các mô hình thí điểm cần được đánh giá bằng kết quả thực tế trước khi nhân rộng.

Nâng năng lực dự báo từ cảnh báo hiện tượng sang dự báo tác động

Dự báo mưa lớn sẽ không đủ nếu không xác định được khu vực nào có nguy cơ ngập, thời điểm nước đến và hành động cần thực hiện. Vì vậy, hệ thống cần chuyển từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động, đồng thời hình thành chuỗi dự báo từ thời tiết → thủy văn → nguồn nước → kịch bản điều hành.

GS.TS Phạm Quý Nhân nhấn mạnh rằng an ninh nguồn nước cần gắn với năng lực dự báo hạn hán, lũ lụt và khả năng điều phối, phân bổ nguồn nước. Đây là điều kiện để chuyển từ ứng phó khi rủi ro đã xảy ra sang chủ động chuẩn bị các phương án điều hành.

Đối với an ninh nguồn nước, cần xác định nguồn nước còn bao nhiêu, nhu cầu trong những tuần hoặc tháng tới, khu vực nào có nguy cơ thiếu nước và phương án phân bổ nào cần được kích hoạt.

Dự báo chỉ thực sự có giá trị khi trở thành công cụ điều hành, gắn trực tiếp với quyết định về sản xuất, cấp nước, vận hành hồ và phòng chống thiên tai.

Đưa cộng đồng vào hệ thống giám sát và truyền thông nguồn nước

Quản trị hiện đại không thể chỉ dựa vào cơ quan quản lý và hệ thống công nghệ. Người dân là lực lượng trực tiếp hiện diện tại những khu vực mà mạng lưới quan trắc chưa thể bao phủ đầy đủ.

Từ cách tiếp cận quản trị tổng hợp được ông Chu Phạm Ngọc Hiển đề cập, nguồn nước cần được đặt trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh và duy trì sinh kế cộng đồng. Điều đó đồng nghĩa cộng đồng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà cần được nhìn nhận như một thành phần trong hệ thống bảo vệ và sử dụng nguồn nước.

Cần chuyển truyền thông nguồn nước từ vận động tiết kiệm, không xả thải sang tạo điều kiện để cộng đồng quan sát, phản ánh, giám sát và tham gia ứng phó. Có thể xây dựng nền tảng tiếp nhận phản ánh về ô nhiễm, sạt lở, suy giảm nguồn nước; bản đồ nguồn nước cộng đồng và các kênh cảnh báo, phản hồi trực tiếp.

Hoàn thiện chính sách theo hướng tạo động lực sử dụng nước hiệu quả

Các giải pháp trên chỉ phát huy hiệu quả khi được bảo đảm bằng khung chính sách và cơ chế tài chính phù hợp. Chính sách về nước cần chuyển từ trọng tâm kiểm soát khai thác sang tạo động lực sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước.

Theo ông Chu Phạm Ngọc Hiển, tư duy quản trị nguồn nước cần gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, an sinh và sinh kế cộng đồng. Trong khi đó, GS.TS. Phạm Quý Nhân đặt trọng tâm vào quản lý theo lưu vực, bảo vệ rừng đầu nguồn, vận hành hiệu quả hồ chứa, kiểm soát nước dưới đất, tiết kiệm và tái sử dụng nước.

Trong nông nghiệp, cần khuyến khích tưới tiết kiệm, tưới chính xác, chuyển đổi cây trồng phù hợp, tăng khả năng giữ nước của đất và phát triển mô hình tuần hoàn. Với khoảng 700.000 ha cà phê, nhu cầu nước tưới trong một mùa khô có thể xấp xỉ 2 tỷ m³, cho thấy hiệu quả sử dụng nước cần trở thành một nội dung quan trọng của tổ chức sản xuất.

Ở góc độ thủy lợi, TS Lê Thị Mai Vân đề xuất cách tiếp cận kết hợp sử dụng hiệu quả và tái sử dụng nước, giảm ô nhiễm và phát thải, vận hành thông minh dựa trên dữ liệu và khai thác đa mục tiêu gắn với bảo vệ môi trường. Trong công nghiệp và đô thị, cần tạo động lực giảm thất thoát, tái sử dụng và tuần hoàn nước; đồng thời thúc đẩy hợp tác công – tư trong đầu tư hạ tầng, quan trắc, xử lý và tái sử dụng nước. Đầu tư xây dựng cũng phải gắn với kinh phí vận hành, bảo trì và dữ liệu. Một công trình thiếu bảo dưỡng, quan trắc hoặc thông tin để vận hành tối ưu khó tạo ra an ninh nguồn nước bền vững.

6-tru-cot.png

TỪ GIỮ NƯỚC ĐẾN "QUẢN TRỊ NƯỚC"

Những sức ép về hạn hán, thiếu nước, lũ lụt, sạt lở và suy giảm chất lượng nguồn nước tại miền Trung – Tây Nguyên cho thấy bài toán an ninh nguồn nước không còn có thể giải quyết bằng một công trình, một ngành hay một địa phương riêng lẻ. Đó là bài toán của cả lưu vực, đòi hỏi khả năng nhìn nhận nguồn nước như một hệ thống liên kết từ thượng nguồn đến hạ du, từ rừng, đất và sông suối đến hồ chứa, sản xuất và đời sống.

Những phân tích của ông Chu Phạm Ngọc Hiển, GS.TS. Phạm Quý Nhân và các chuyên gia cho thấy, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ là tạo thêm nguồn cung mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản lý, điều phối và sử dụng hiệu quả nguồn nước hiện có. Từ hạ tầng cấp nước, thủy lợi, dữ liệu số đến công nghệ xử lý và tuần hoàn nước, mỗi giải pháp chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được kết nối trong một cơ chế quản trị thống nhất, phù hợp với đặc điểm từng lưu vực và khả năng thích ứng trước biến đổi khí hậu.

Từ giữ nước trong hồ, trong đất và trong rừng, miền Trung – Tây Nguyên cần tiến tới giữ nước bằng dữ liệu, bằng thể chế và bằng năng lực quản trị. Khi dòng nước được nhìn nhận trong mối liên hệ giữa tự nhiên, con người và phát triển; khi mỗi quyết định về sử dụng đất, sản xuất, hạ tầng hay đầu tư đều được đặt trong giới hạn của nguồn nước, an ninh nguồn nước mới có thể trở thành nền tảng lâu dài cho một miền Trung – Tây Nguyên chủ động thích ứng, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững..

phan-4.png

TỪ KHUYẾN NGHỊ ĐẾN LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

Với miền Trung – Tây Nguyên, nơi nguồn nước phân bố không đều, mùa khô kéo dài và thiên tai ngày càng khó dự báo, quá trình này cần được triển khai theo từng bước, ưu tiên khu vực chịu áp lực lớn và tránh đầu tư dàn trải. Theo đó, lộ trình có thể chia thành ba giai đoạn sau:

Ngắn hạn: Hoàn thiện dữ liệu và xác định điểm rủi ro

Ưu tiên trước hết là xác định rõ nguồn nước, nhu cầu sử dụng và những khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần kiểm kê, chuẩn hóa dữ liệu về nước mặt, nước dưới đất, hồ chứa, công trình thủy lợi và nhu cầu của từng ngành.

Trên cơ sở đó, xây dựng bản đồ các điểm nóng về thiếu nước, hạn hán, lũ quét, sạt lở và suy giảm nguồn nước; đồng thời xây dựng kịch bản từ mùa khô thông thường đến hạn gay gắt, mưa cực đoan. Các kịch bản cần gắn với nhu cầu dân sinh, sản xuất và hệ sinh thái để xác định thứ tự ưu tiên khi nguồn nước thiếu hụt.

Cùng với dữ liệu, cần rà soát an toàn hồ chứa, đập, công trình thủy lợi và hệ thống cấp nước tại khu vực có nguy cơ cao; nâng cấp cảnh báo sớm theo hướng kịp thời, dễ tiếp cận và gắn với hành động cụ thể.

Trung hạn: Chuyển sang điều hành dựa trên dữ liệu

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, cần hình thành hệ thống dữ liệu liên thông theo lưu vực sông, kết nối thông tin về mưa, dòng chảy, hồ chứa, khai thác, nhu cầu sử dụng và dự báo khí tượng thủy văn.

Tại những lưu vực có đủ điều kiện, thí điểm điều hành nguồn nước dựa trên dữ liệu thời gian thực, mô phỏng phương án phân bổ và vận hành hồ chứa. AI, Digital Twin và các công nghệ số được triển khai có trọng điểm, phục vụ dự báo thiếu nước, tối ưu tưới, vận hành hồ và cảnh báo thiên tai.

Trong nông nghiệp, nhân rộng tưới tiết kiệm, tưới thông minh và quản lý nước theo nhu cầu cây trồng, ưu tiên các vùng sản xuất sử dụng nhiều nước. Đồng thời, tăng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong giám sát nguồn nước.

Dài hạn: Hình thành nền quản trị nguồn nước tích hợp

Mục tiêu dài hạn là xây dựng nền quản trị nguồn nước tích hợp theo lưu vực, trong đó nước được xem xét đồng thời dưới các góc độ tài nguyên, môi trường, sinh thái và phát triển kinh tế – xã hội.

Hệ thống liên hồ từng bước được vận hành theo logic toàn lưu vực; dữ liệu tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và thiên tai được kết nối từ Trung ương đến địa phương. Hạ tầng nước chuyển theo hướng xanh và thông minh, kết hợp công trình truyền thống với phục hồi rừng đầu nguồn, bảo vệ vùng sinh thủy, tăng khả năng giữ nước của đất và các giải pháp trữ nước phân tán. Quan trọng hơn, an ninh nguồn nước cần được tính ngay trong quy hoạch đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất.

Đây không phải một chương trình đầu tư đơn lẻ mà là quá trình chuyển đổi phương thức quản trị: ngắn hạn tạo nền tảng dữ liệu và khả năng ứng phó; trung hạn hình thành năng lực điều hành dựa trên dữ liệu và công nghệ; dài hạn xây dựng hệ thống quản trị tích hợp, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Qua đó, nguồn nước có thể trở thành nền tảng ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội của toàn vùng.

Thực hiện: KHANG VŨ

tay-nguyen.png
Hình ảnh trong bài do AI thiết kế
Bài liên quan

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Bài 8: Từ nhận diện rủi ro đến kiến tạo cơ chế quản trị nguồn nước miền Trung - Tây Nguyên
(*) Bản quyền thuộc về Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống. Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.