Bài 1: Người dân phải chung sống với bụi mịn đến bao giờ?

Ô nhiễm môi trường - Ngày đăng : 08:58, 29/09/2026

Phía sau những con số PM2.5 là câu chuyện lớn hơn về nguồn phát thải, giao thông, xây dựng, sản xuất, quản lý đô thị và trách nhiệm bảo vệ quyền được hít thở bầu không khí trong lành của hàng triệu người dân.
Ô nhiễm môi trường

Bài 1: Người dân phải chung sống với bụi mịn đến bao giờ?

Khánh Linh • 29/09/2026 08:58

Phía sau những con số PM2.5 là câu chuyện lớn hơn về nguồn phát thải, giao thông, xây dựng, sản xuất, quản lý đô thị và trách nhiệm bảo vệ quyền được hít thở bầu không khí trong lành của hàng triệu người dân.

bui-min-2-.png

LTS: Đô thị hóa tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời cũng gia tăng áp lực lên môi trường và chất lượng sống. Ô nhiễm không khí, nguồn nước, rác thải, nước thải, tiếng ồn, thiếu không gian xanh… đang trở thành những vấn đề hiện hữu tại nhiều đô thị.

Ô nhiễm môi trường đô thị không phải câu chuyện riêng của ngành môi trường mà liên quan chặt chẽ đến quy hoạch, giao thông, xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, quản lý chất thải, sản xuất, tiêu dùng và hành vi của cộng đồng. Một điểm nóng về rác thải, một dòng kênh ô nhiễm hay một khu vực thiếu cây xanh đều có thể tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân.

Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận môi trường đô thị trong một chỉnh thể thống nhất: Quy hoạch đã thực sự tính đến yêu cầu bảo vệ môi trường? Hạ tầng xử lý chất thải, nước thải có theo kịp tốc độ đô thị hóa? Phân loại rác tại nguồn đang được triển khai ra sao? Chính quyền, doanh nghiệp và người dân đang cùng tham gia giải quyết những vấn đề này như thế nào?

Với chuyên đề “Ô nhiễm môi trường đô thị”, Tạp chí Môi trường và Cuộc sống tập trung phản ánh thực trạng, nhận diện những điểm nghẽn trong quy hoạch, hạ tầng và quản lý; đồng thời ghi nhận ý kiến của cơ quan quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và người dân, qua đó tìm kiếm những giải pháp khả thi cho các đô thị.

Bởi một đô thị hiện đại không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay những công trình mới, mà còn bằng khả năng bảo đảm một môi trường sống an toàn, trong lành và bền vững cho cộng đồng.

bui-min-1-.png

Những ngày Hà Nội chìm trong lớp không khí mờ đục, chỉ số chất lượng không khí ở mức kém, người dân lại được khuyến cáo hạn chế hoạt động ngoài trời, đeo khẩu trang và đóng kín cửa. Nhưng đó chỉ là những giải pháp để mỗi cá nhân tự bảo vệ mình trước mắt. Phía sau những con số PM2.5 là câu chuyện lớn hơn về nguồn phát thải, giao thông, xây dựng, sản xuất, quản lý đô thị và trách nhiệm bảo vệ quyền được hít thở bầu không khí trong lành của hàng triệu người dân.

Khi bầu trời đô thị trở thành “chiếc mặt nạ” của bụi mịn

Một buổi sáng ở Hà Nội, dòng người vẫn ken đặc trên những tuyến đường quen thuộc. Xe máy, ô tô nối nhau di chuyển, công trường bắt đầu hoạt động, các cửa hàng mở cửa đón khách. Thành phố vận hành theo nhịp sống vốn có, nhưng có những ngày bầu trời phía trên những con đường ấy trở nên mờ đục bởi lớp không khí chứa đầy bụi và các chất ô nhiễm.

Điều đáng lo là thứ nguy hiểm nhất không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Những hạt bụi mịn PM2.5 có kích thước rất nhỏ, có khả năng xâm nhập sâu vào hệ hô hấp và trở thành một trong những chỉ dấu quan trọng khi đánh giá chất lượng không khí.

Với nhiều người dân đô thị, kiểm tra chất lượng không khí vào mỗi buổi sáng đang dần trở thành một thói quen. Chỉ cần chỉ số AQI chuyển sang mức kém hoặc xấu, lịch sinh hoạt của cả gia đình có thể thay đổi.

bui-1-.jpg
Khí thải từ phương tiện, cộng với bụi đường bị cuốn lên trong quá trình lưu thông, tạo ra áp lực đáng kể đối với môi trường không khí

Trẻ em được khuyến cáo hạn chế hoạt động ngoài trời. Người cao tuổi tạm dừng việc tập thể dục tại công viên. Những người có bệnh lý hô hấp phải thận trọng hơn khi ra đường. Không ít gia đình đóng kín cửa và sử dụng máy lọc không khí trong những ngày chất lượng không khí suy giảm.

Chị Thanh Mai (P. Cầu Giấy, TP. Hà Nội) cho biết, trước đây gia đình gần như không quan tâm đến AQI. Nhưng sau khi thường xuyên theo dõi các ứng dụng chất lượng không khí, gia đình bắt đầu chủ động điều chỉnh thời gian ra ngoài của các thành viên.

“Có những ngày nhìn bằng mắt thường không thấy quá nhiều bụi, nhưng chỉ số lại cảnh báo ở mức xấu. Gia đình tôi thường đóng cửa và hạn chế cho trẻ ra ngoài. Điều khiến chúng tôi lo lắng là không biết tình trạng này còn kéo dài đến bao giờ”, chị Mai chia sẻ.

Đó không phải là câu chuyện cá biệt. Trong một đô thị hàng triệu dân, rất nhiều người đang phải thích nghi với chất lượng không khí bằng những cách khác nhau.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng tự bảo vệ mình như nhau. Một nhân viên văn phòng có thể làm việc trong phòng kín, một gia đình có điều kiện có thể mua máy lọc không khí, nhưng với người bán hàng rong, công nhân xây dựng, nhân viên giao hàng hay những người thường xuyên phải làm việc ngoài trời, “hạn chế ra ngoài” gần như không phải một lựa chọn.

Còn theo bạn Nguyễn Trung Thành - P. Thanh Xuân, TP. Hà Nội, giao thông cá nhân là một trong những nguồn gây ô nhiễm đáng lo ngại ở Hà Nội. Bên cạnh đó, bụi từ các công trình xây dựng cũng rất đáng quan tâm, nhất là tại những công trình chưa thực hiện tốt việc che chắn, kiểm soát bụi.

Tôi mong các cơ quan chức năng tăng cường kiểm soát việc đốt rác, xả rác, kiểm soát bụi từ các công trình xây dựng và tiếp tục thúc đẩy giao thông xanh, sử dụng phương tiện điện. Việc phát triển đô thị cũng cần được thực hiện theo hướng kiểm soát tốt hơn các tác động đến môi trường và chất lượng không khí.

thanh.png

Câu chuyện ấy đặt ra một vấn đề lớn hơn. Khi chất lượng không khí suy giảm, trách nhiệm bảo vệ sức khỏe đang được đặt rất nhiều lên vai mỗi người dân. Nhưng liệu người dân có thể tự bảo vệ mình đến đâu khi nguồn ô nhiễm vẫn tiếp tục phát sinh mỗi ngày?

Vì vậy, việc cảnh báo chất lượng không khí là cần thiết nhưng chỉ là một phần của giải pháp. Vấn đề cốt lõi vẫn là phải xác định được nguồn phát thải và kiểm soát ngay từ nguồn.

Trao đổi với PV về vấn đề ô nhiễm không khí tại đô thị, TS Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, cho rằng ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn PM2,5 vào mùa thu đông và mùa đông, đã được cảnh báo nhiều năm. Chúng ta không phải không biết nguyên nhân, nhưng việc kiểm soát các nguồn phát thải vẫn chưa thực sự triệt để.

Các nguồn như giao thông, xây dựng, đốt ngoài trời… vẫn cần được kiểm soát chặt chẽ hơn. Những năm qua, Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp như phát triển xe buýt, đường sắt đô thị, chuyển đổi phương tiện từ xăng dầu sang điện. Tuy nhiên, hiệu quả của các giải pháp cần tiếp tục được đánh giá bằng số liệu cụ thể.

“

Ô nhiễm không khí có tính liên vùng, liên tỉnh, không dừng lại ở ranh giới hành chính. Vì vậy, không thể chỉ địa phương nào lo địa phương đó mà cần có cơ chế phối hợp kiểm soát các nguồn phát thải trên phạm vi rộng hơn.

TS Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường

Bên cạnh các nguồn phát thải trực tiếp, chúng ta cũng cần quan tâm hơn đến ô nhiễm thứ cấp, trong đó có các chất tiền chất từ hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi và một số nguồn khác có thể tham gia hình thành bụi mịn trong khí quyển.

Thời tiết, khí hậu cũng là yếu tố làm ô nhiễm gia tăng vào mùa đông do điều kiện khuếch tán chất ô nhiễm kém. Vì vậy, không thể chờ đến khi ô nhiễm nghiêm trọng mới hành động. Kiểm soát ô nhiễm không khí phải là quá trình liên tục, có lộ trình, kiểm soát cụ thể từng nguồn và chủ động triển khai các giải pháp trước khi bước vào mùa ô nhiễm cao điểm.

Bởi vậy, câu hỏi mà người dân cần được trả lời không chỉ là hôm nay chỉ số AQI ở mức nào, mà còn là ô nhiễm đến từ đâu và các nguồn phát thải đang được kiểm soát như thế nào.

Những nguồn phát thải phía sau lớp bụi mờ của thành phố

Nhìn vào một tuyến phố đông đúc vào giờ cao điểm, có thể dễ dàng nhận thấy giao thông là một trong những yếu tố cần được quan tâm khi nói về chất lượng không khí đô thị.

Hàng triệu phương tiện hoạt động mỗi ngày. Trong điều kiện ùn tắc, phương tiện phải liên tục dừng, khởi động và di chuyển với tốc độ thấp. Khí thải từ phương tiện, cộng với bụi đường bị cuốn lên trong quá trình lưu thông, tạo ra áp lực đáng kể đối với môi trường không khí.

Theo các số liệu được công bố về nguồn phát thải tại Hà Nội, giao thông đường bộ, bao gồm cả bụi đường, là một trong những nguồn phát thải lớn. Thành phố từng xác định các nhóm nguồn chính gồm giao thông đường bộ, công nghiệp, dân sinh, đốt sinh khối và nông nghiệp.

Nhưng nếu chỉ quy toàn bộ ô nhiễm không khí cho giao thông thì chưa đủ.

bui-6-.jpg
Việc phá dỡ các công trình là một trong những nguyên nhân phát sinh ra bụi gây ảnh hưởng đến môi trường

Tại nhiều khu vực đang đô thị hóa, các công trình xây dựng mọc lên với tốc độ nhanh. Hoạt động đào đất, vận chuyển vật liệu, tập kết đất đá, xe tải ra vào công trường và bụi phát sinh từ mặt đường đều có thể trở thành nguồn phát tán bụi nếu không được kiểm soát chặt chẽ.

Theo ông Nguyễn Mạnh Tuấn (ngõ 1084, đường Quang Trung), quá trình giải phóng mặt bằng, thi công dự án đã khiến tình trạng bụi phát sinh thường xuyên, ảnh hưởng rõ rệt đến sinh hoạt và công việc kinh doanh của gia đình.

“Giải phóng mặt bằng như thế này thì tôi thấy bụi rất nhiều, chứ không phải ít. Bụi ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt cũng như việc kinh doanh của gia đình. Suốt ngày chúng tôi phải lau chùi, quét dọn, nhưng cát bụi từ ngoài đường vẫn theo vào nhà”, ông Tuấn chia sẻ.

Trước tình trạng bụi kéo dài, gia đình ông đã chủ động sử dụng bạt để che chắn, hạn chế bụi xâm nhập vào nhà. Tuy nhiên, theo ông, biện pháp này chỉ giúp giảm phần nào lượng bụi, còn việc ngăn bụi hoàn toàn gần như không thể.

bui-3-.jpg
Ông Nguyễn Mạnh Tuấn (ngõ 1084, đường Quang Trung)

“Nhà tôi phải lấy bạt che chắn kín các phía để hạn chế bụi, nhưng vẫn không thể nào hết được. Bụi vẫn bay vào nhà, ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày của gia đình”, ông Tuấn cho biết.

Điều đáng nói, bụi nhìn thấy bằng mắt thường mới chỉ là một phần của vấn đề. Đằng sau đó còn có những hạt bụi mịn mà con người không thể nhận biết bằng mắt.

Bên cạnh giao thông và xây dựng, các hoạt động sản xuất, làng nghề, đốt rác, đốt phụ phẩm và nhiều nguồn phát thải khác cũng cần được xem xét trong tổng thể chất lượng không khí.

Theo TS Hoàng Dương Tùng, Hà Nội cần nhìn nhận ô nhiễm không khí theo hướng đa ngành và liên vùng, bởi nguồn ô nhiễm không chỉ nằm trong khu vực nội đô. Các tỉnh, thành phố lân cận cũng có thể góp phần vào bức tranh ô nhiễm chung của khu vực.

Điều đó có nghĩa, một đô thị không thể tự giải quyết bài toán không khí nếu chỉ khoanh vấn đề trong ranh giới hành chính của mình.

Ô nhiễm không khí có thể di chuyển theo điều kiện khí tượng. Nguồn phát thải ở khu vực ngoại thành, các địa phương lân cận hoặc những vùng sản xuất, làng nghề có thể tác động đến chất lượng không khí của khu vực đô thị.

Bài toán vì thế không chỉ cần sự phối hợp giữa các ngành mà còn cần sự phối hợp giữa các địa phương.

bac-tung-1.png

Đây chính là khoảng cách giữa “biết ô nhiễm” và “giảm ô nhiễm”.

Người dân có thể nhận được cảnh báo trên điện thoại. Nhưng họ không thể tự mình kiểm soát khí thải của hàng triệu phương tiện, bụi từ công trường, hoạt động sản xuất hay các nguồn phát thải khác. Vì thế, cảnh báo phải đi cùng hành động.

Một vấn đề khác được đặt ra là dữ liệu. Muốn xử lý một nguồn ô nhiễm, trước hết phải biết nguồn đó ở đâu, phát thải bao nhiêu, thành phần gì và tác động đến khu vực xung quanh như thế nào.

bui.png

TS Hoàng Dương Tùng từng chỉ ra một hạn chế hiện nay là Việt Nam chưa có bản đồ ô nhiễm đủ chi tiết theo từng nhóm nguồn và từng địa phương, khiến việc nhận diện và “bắt bệnh” ô nhiễm còn chung chung.

Đây là vấn đề cần được quan tâm nếu muốn chuyển từ cách quản lý mang tính ứng phó sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Bởi nếu chỉ đến khi AQI chuyển sang màu đỏ, tím hoặc nâu mới tập trung xử lý thì chính quyền đã ở vào thế bị động.

Nguồn phát thải vẫn hoạt động, người dân vẫn hít thở, trong khi giải pháp mới dừng ở việc cảnh báo.

Không thể bắt người dân sống chung với ô nhiễm

Một trong những dấu hiệu đáng suy nghĩ nhất là việc người dân ngày càng quen với ô nhiễm không khí.

Kiểm tra AQI trước khi ra khỏi nhà. Đeo khẩu trang khi đi đường. Đóng cửa sổ. Hạn chế tập thể dục ngoài trời. Mua máy lọc không khí. Đó đang trở thành những thói quen quen thuộc của nhiều gia đình đô thị.

Ở góc độ cá nhân, đây là những biện pháp cần thiết để giảm tiếp xúc với chất ô nhiễm. Nhưng ở góc độ quản lý môi trường, việc người dân phải liên tục tự điều chỉnh cuộc sống để thích nghi với ô nhiễm lại là một tín hiệu không thể xem nhẹ.

PGS.TS Bùi Thị An - Đại biểu quốc hội khoá XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, nhấn mạnh khi trao đổi về ô nhiễm không khí Hà Nội. Theo bà, sau nhiều năm cảnh báo, vấn đề ô nhiễm không khí hiện nay không còn chủ yếu nằm ở nhận thức mà là khoảng cách giữa nhận thức và hành động; giữa yêu cầu bảo vệ môi trường và khả năng thực hiện; giữa trách nhiệm của người gây ô nhiễm và chi phí mà xã hội phải gánh chịu.

Muốn thay đổi hành vi, chính sách không thể chỉ dừng ở tuyên truyền hay “cấm và xử phạt”, mà phải tạo được lộ trình chuyển đổi khả thi, trong đó hành vi gây ô nhiễm phải chịu chi phí tương xứng, còn hành vi xanh cần được hỗ trợ và khuyến khích. Đồng thời, phải có hạ tầng và dịch vụ thay thế đủ thuận tiện để người dân, doanh nghiệp có thể thực sự thay đổi.

Đối với Hà Nội, kiểm soát ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn PM2.5, cần chuyển từ “quản lý ô nhiễm” sang “quản trị chất lượng không khí”. Đây là vấn đề liên ngành, liên vùng, liên quan đến giao thông, xây dựng, công nghiệp, năng lượng, làng nghề, đốt ngoài trời và quản lý chất thải. Vì vậy, cần xác định rõ nguồn phát thải, chủ thể chịu trách nhiệm, mức độ phải giảm và cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả.

co-an.png

Bên cạnh đó, cộng đồng cần được coi là một chủ thể trong quản trị môi trường. Người dân không chỉ phản ánh mà cần được biết – phản ánh – được trả lời – theo dõi kết quả xử lý. Khi dữ liệu quan trắc, hình ảnh, thông tin về nguồn thải và phản ánh của người dân được kết nối, cộng đồng có thể trở thành một “mạng lưới giám sát xã hội” hiệu quả.

Điều quan trọng nhất là phải chuyển từ xử lý khi ô nhiễm đã xảy ra sang dự báo và phòng ngừa, từ đo chất lượng không khí sang quản lý nguồn phát thải, từ trách nhiệm của một ngành sang trách nhiệm liên ngành và liên vùng.

Mục tiêu cuối cùng không phải là hướng dẫn người dân cách “sống chung với bụi mịn”, mà là làm cho mức độ ô nhiễm giảm xuống để người dân không còn phải sống chung với nó. Thước đo cuối cùng của quản lý ô nhiễm không khí không phải là chúng ta đã ban hành bao nhiêu kế hoạch, mà là người dân đã thực sự được hít thở bầu không khí tốt hơn đến đâu.

Theo TS Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường: “Việc công bố chỉ số chất lượng không khí và dự báo ô nhiễm trong những năm gần đây là tín hiệu tích cực, giúp người dân chủ động hơn trong bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, Hà Nội cần tăng cường và mở rộng mạng lưới quan trắc với mật độ dày hơn, kết hợp các trạm quan trắc và cảm biến chi phí thấp để phản ánh sát hơn chất lượng không khí ở từng khu vực.

Bên cạnh cảnh báo sớm, quan trọng hơn là phải xây dựng các kịch bản ứng phó cụ thể khi ô nhiễm ở mức cao, trong đó xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng địa bàn, từ thành phố đến phường, xã. Khi đó, người dân ở từng khu vực sẽ nhận được thông tin phù hợp và biết mình cần làm gì để chủ động phòng ngừa, thay vì áp dụng một cảnh báo chung cho toàn thành phố dù mức độ ô nhiễm giữa các khu vực có thể rất khác nhau.”

Những nhận định này cho thấy một thực tế: Bài toán ô nhiễm không khí không thiếu hoàn toàn chính sách, mà vấn đề nằm ở việc biến chính sách thành những hành động cụ thể, có nguồn lực, có trách nhiệm và có kết quả đo đếm được.

Điều đáng quan tâm là người dân không phải lúc nào cũng nhận biết được tác động của ô nhiễm không khí ngay lập tức.

Một người có thể không cảm thấy khó thở hay có triệu chứng rõ ràng trong một ngày ô nhiễm. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chất ô nhiễm không tác động đến cơ thể.

Vì vậy, câu chuyện ô nhiễm không khí cần được nhìn nhận như một vấn đề sức khỏe cộng đồng và chất lượng sống đô thị.

PGS.TS Hoàng Anh Lê - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng Việt Nam cần thống nhất cách phân loại nguồn phát thải, hệ số phát thải và phương pháp mô hình hóa để có được những kết luận thống nhất về nguồn gây ô nhiễm.

Theo PGS.TS Hoàng Anh Lê, hiện các nghiên cứu trong nước còn chưa đồng bộ về phương pháp và dữ liệu. Trong khi đó, một số quốc gia như Trung Quốc và Thái Lan đã xây dựng các mô hình kiểm kê khí thải thống nhất, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách kiểm soát ô nhiễm trên quy mô tổng thể.

Một thành phố có thể có những tuyến đường hiện đại, những khu đô thị mới, những tòa nhà cao tầng và tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Nhưng nếu người dân phải thường xuyên đóng kín cửa vì không khí ngoài trời ô nhiễm thì câu chuyện phát triển đô thị vẫn còn một khoảng trống rất lớn.

Khoảng trống đó nằm ở chất lượng môi trường sống. Muốn lấp đầy khoảng trống này, không thể chỉ trông chờ vào sự thay đổi hành vi của từng người dân.

Người dân có thể hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân, nhưng nếu giao thông công cộng chưa đủ thuận tiện thì lựa chọn của họ vẫn bị giới hạn.

Người dân có thể hạn chế đốt rác, nhưng nếu việc thu gom và xử lý chất thải chưa hiệu quả thì nguy cơ đốt tự phát vẫn tồn tại.

Người dân có thể đóng cửa để tránh bụi, nhưng nếu công trường không kiểm soát tốt thì bụi vẫn phát sinh.

Người dân có thể mua máy lọc không khí, nhưng máy lọc không thể làm sạch cả thành phố.

Bài toán vì thế phải được giải quyết từ nguồn. Cần kiểm soát chặt các nguồn phát thải lớn. Cần kiểm soát phương tiện phát thải cao. Cần tăng cường giao thông công cộng và các phương thức di chuyển ít phát thải. Cần quản lý nghiêm bụi từ công trường và hoạt động vận chuyển vật liệu.

Cùng với đó là kiểm soát các nguồn phát thải từ sản xuất, hoạt động dân sinh, đốt rác và đốt phụ phẩm; nâng cao năng lực quan trắc; công khai dữ liệu; tăng cường phối hợp giữa các địa phương và xây dựng những giải pháp có mục tiêu cụ thể.

TS Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng, để tạo ra sự thay đổi rõ rệt về chất lượng không khí trong 3 - 5 năm tới, cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận xử lý sang phòng ngừa, dự báo từ sớm, từ xa.

Muốn làm được điều đó, trước hết phải có hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên về các nguồn thải, kết hợp với dữ liệu khí tượng, thủy văn và các công cụ phân tích, dự báo hiện đại. Các dữ liệu này cũng cần được kết nối, chia sẻ giữa Trung ương và địa phương, tránh tình trạng mỗi nơi sử dụng một nguồn dữ liệu và đưa ra những đánh giá khác nhau.

“

“Chúng ta cần nhìn vào một bức tranh chung về chất lượng không khí, trong đó xác định rõ các nguồn thải lớn phát sinh ở đâu, được vận chuyển như thế nào và mức độ đóng góp ra sao. Khi đã có dữ liệu và công cụ phân tích, dự báo đủ tốt thì trách nhiệm của từng địa phương, từng ngành cũng sẽ rõ ràng hơn, từ đó các giải pháp có thể được tập trung và triển khai đúng trọng tâm”

TS Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới Không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường

Theo ông, cùng với việc xác định rõ mục tiêu, nguồn thải và trách nhiệm, cần xây dựng lộ trình, nguồn lực và hệ thống pháp luật phù hợp để triển khai các giải pháp một cách lâu dài. Quan trọng hơn, các biện pháp phải được theo dõi, đánh giá bằng dữ liệu và điều chỉnh thường xuyên, tạo thành một chu trình liên tục: Có dữ liệu – dự báo – triển khai giải pháp – đánh giá – điều chỉnh. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng không khí thay vì chỉ tập trung ứng phó khi ô nhiễm đã xảy ra.

bui-2-(1).jpg

Một chính sách môi trường hiệu quả không chỉ được đo bằng số lượng văn bản ban hành hay số lần cảnh báo chất lượng không khí. Hiệu quả cuối cùng phải được phản ánh bằng chính chất lượng không khí mà người dân hít thở mỗi ngày.

Bởi vậy, câu hỏi “bao giờ không khí sạch hơn?” cần được trả lời bằng những mục tiêu cụ thể, những chương trình hành động có thời hạn và những kết quả có thể kiểm chứng.

Người dân có thể chấp nhận một ngày không khí xấu nếu biết rằng các nguồn phát thải đang được kiểm soát và chất lượng không khí đang từng bước cải thiện.

Điều khó chấp nhận hơn là việc những ngày ô nhiễm cứ lặp lại, còn người dân ngày càng phải học cách thích nghi.

Một đô thị bền vững không thể coi việc người dân đeo khẩu trang, đóng cửa và mua máy lọc không khí là “giải pháp” cho ô nhiễm.

Đó chỉ là cách người dân tự bảo vệ mình trong khi chờ đợi những giải pháp ở cấp độ lớn hơn.

Không ai có thể lựa chọn một bầu không khí khác để hít thở mỗi buổi sáng. Người dân cũng không thể đóng cửa mãi mãi, càng không thể ngừng thở.

Vì vậy, câu hỏi “Người dân phải chung sống với bụi mịn đến bao giờ?” không chỉ là câu hỏi về một chỉ số chất lượng không khí.

Đó là câu hỏi về cách một đô thị lựa chọn để phát triển, về trách nhiệm kiểm soát nguồn phát thải và về chất lượng cuộc sống mà thành phố muốn mang lại cho người dân.

Một thành phố đáng sống không chỉ được đo bằng những con đường rộng hơn, những tòa nhà cao hơn hay tốc độ tăng trưởng nhanh hơn.

Một thành phố đáng sống trước hết phải là nơi con người có thể hít thở bầu không khí an toàn.

Và câu trả lời thuyết phục nhất cho câu hỏi “đến bao giờ?” sẽ không nằm trên những bảng cảnh báo AQI, mà phải được nhìn thấy trong chính bầu trời của thành phố mỗi ngày.

THỰC HIỆN: KHÁNH LINH

Khánh Linh